Thuyền – Một cú đâm vào cái mênh mông trong tâm thức dân tộc

Nguyễn Quốc Chính

Không phải cú đâm của một con dao. Mà là cú đâm của ký ức. Một cú đâm không làm bật máu ngay, không khiến người ta kêu lên ngay, nhưng nó để lại một cảm giác nhói rất lâu ở nơi sâu nhất của tâm thức. Có những vết thương trên thân thể chỉ cần thời gian là khép miệng. Nhưng có những vết thương trong ký ức dân tộc, càng im lặng lâu, càng tưởng đã lành, thì khi một tiếng gọi khẽ vang lên, nó lại đau theo một cách khác.

Có những cuốn sách gây tranh cãi vì tư tưởng. Có những cuốn sách gây ồn ào vì ngôn ngữ, vì lối viết, vì một phát ngôn nào đó của tác giả hay của nhân vật. Nhưng cũng có những cuốn sách khiến người đọc bất an không phải vì nó nói điều quá mới, mà vì nó chạm vào một vùng quá cũ. Cũ đến mức người ta đã quen lảng tránh. Cũ đến mức mỗi khi nhắc lại, không ai còn nghe bằng sự bình tĩnh nguyên sơ nữa, mà nghe bằng di sản của sợ hãi, định kiến, mất mát và cả những lời kể được truyền lại qua nhiều thế hệ.

Thuyền của Nguyễn Đức Tùng nằm ở vùng ấy. Nó không chỉ là một tiểu thuyết về những con người rời khỏi quê hương sau năm 1975. Nó cũng không chỉ là một câu chuyện về vượt biển, lưu vong, tha hương hay những phận người trôi dạt. Nếu chỉ đọc như vậy, ta mới chạm đến lớp vỏ sự kiện. Cái sâu hơn của Thuyền là trạng thái bị bật khỏi nơi chốn tinh thần của con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử mà chiến tranh đã kết thúc trên bản đồ, nhưng chưa kết thúc trong lòng người.

Bởi sau mọi cuộc chiến, thường có hai thứ không kết thúc cùng lúc với tiếng súng. Một là nỗi đau. Hai là cách người ta kể về nỗi đau ấy. Lịch sử chính thức thường cần sự rõ ràng: thắng và thua, đúng và sai, bên này và bên kia, ngày tháng và sự kiện. Nhưng văn chương, nếu còn là văn chương đúng nghĩa, lại không thể chỉ sống trong những đường kẻ thẳng ấy. Văn chương đi vào vùng chập chờn hơn, nơi một con người có thể vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân, vừa mang mặc cảm vừa mang khát vọng, vừa muốn quên vừa không thể quên.

Con thuyền trong cuốn sách vì vậy không chỉ là phương tiện vượt biển. Nó là một biểu tượng tinh thần. Một thân phận. Một trạng thái lênh đênh của ký ức Việt Nam. Trên con thuyền ấy không chỉ có người đi. Có cả quê hương bị bỏ lại phía sau. Có cả nỗi sợ phía trước. Có cả những tiếng gọi không thành lời của gia đình, làng xóm, tuổi thơ, tiếng mẹ đẻ, mùi đất cũ, và những câu hỏi không ai trả lời dứt khoát được: vì sao người ta phải ra đi, vì sao người ta ở lại, vì sao cùng một dân tộc mà có lúc nhìn nhau bằng đôi mắt của hai phía lịch sử?

Điều làm Thuyền gây tranh cãi có lẽ không nằm ở chỗ nó kể lại một câu chuyện chưa từng ai biết. Nhiều người Việt đã biết, đã nghe, đã từng chứng kiến hoặc mang trong gia đình mình một mảnh vỡ của câu chuyện ấy. Nhưng biết một sự kiện không có nghĩa là đã dám đối diện với ký ức của sự kiện ấy. Biết có những con thuyền rời bến trong đêm không có nghĩa là đã dám hỏi vì sao những con thuyền ấy rời bến. Biết có những người chết ngoài biển không có nghĩa là đã dám để những cái chết ấy trở về trong ngôn ngữ của văn chương, như những con người cụ thể, với đau đớn cụ thể, chứ không chỉ là một khái niệm chính trị hay một dòng chú thích bên lề lịch sử.

Văn học Việt Nam nhiều năm qua viết rất nhiều về chiến tranh. Nhưng phần hậu chiến, nhất là phần bóng tối của hậu chiến, vẫn còn những khoảng lặng lớn. Ta có rất nhiều trang viết về chiến hào, về người lính, về hy sinh, về đoàn quân trở về, về ngày đoàn tụ. Những trang ấy cần thiết và đáng trọng. Nhưng một dân tộc không chỉ được làm nên bởi khúc khải hoàn. Một dân tộc còn được làm nên bởi tiếng khóc bị nén lại, bởi những căn nhà vắng người, bởi những chuyến đi không hẹn ngày về, bởi những đứa trẻ lớn lên ở xứ khác nhưng vẫn mang một cái tên Việt, bởi những bà mẹ nhìn ra biển mà không biết con mình còn sống hay đã tan vào sóng.

Thuyền chạm vào khoảng trống đó. Và khi một cuốn sách chạm vào khoảng trống, nó thường làm người ta khó chịu. Vì khoảng trống không bao giờ trống thật. Trong đó có những điều bị đẩy ra ngoài diễn ngôn chính thống. Có những thân phận chưa được gọi tên tử tế. Có những nỗi đau bị xếp vào bên thua cuộc nên không được quyền trở thành nỗi đau chung. Có những mất mát bị nghi ngờ, bị quy chiếu, bị đặt dưới những nhãn dán đã cũ. Nhưng văn chương, ở phẩm chất đẹp nhất của nó, không hỏi trước rằng nỗi đau này thuộc phe nào. Văn chương chỉ hỏi: con người ấy đã đau như thế nào?

Chính câu hỏi ấy mới là điều làm người đọc phải dừng lại. Bởi khi nỗi đau được trả về cho con người, mọi diễn ngôn lớn bắt đầu mất đi sự tuyệt đối của nó. Khi một người mẹ mất con ngoài biển, bà không mất con theo một lập trường. Khi một đứa trẻ trôi dạt khỏi quê hương, nó không trôi dạt như một khẩu hiệu. Khi một người đàn ông già đi ở xứ lạ, trong giấc ngủ vẫn nghe tiếng quê nhà, thì cái mất của ông không thể được đo bằng những bản tổng kết. Đó là phần văn chương có thể làm mà lịch sử hành chính không làm được: trả lại gương mặt cho những con số, trả lại hơi thở cho những khái niệm, trả lại nước mắt cho những điều từng bị gọi tên quá lạnh lùng.

Bởi vậy, Thuyền không chỉ là câu chuyện của người ra đi. Nó cũng là câu chuyện của người ở lại. Người ra đi mang theo quê hương như một vết cắt. Người ở lại cũng mang lịch sử như một vết cắt khác. Cả hai phía đều có những điều không dễ nói. Cả hai phía đều có những mất mát không giống nhau. Và bi kịch của dân tộc này là trong một thời gian rất dài, mỗi bên chỉ được phép nhớ theo cách của mình, đau theo cách của mình, kể theo cách của mình, rồi từ đó nghi ngờ ký ức của phía bên kia.

Một cuốn tiểu thuyết không thể hàn gắn lịch sử. Văn chương không có quyền năng đơn giản ấy. Nhưng văn chương có thể làm một việc khiêm tốn hơn và cũng khó hơn: mở ra một khoảng lặng để con người bắt đầu nghe nhau. Không phải nghe để đồng ý ngay. Không phải nghe để xóa bỏ mọi khác biệt. Mà nghe để nhận ra rằng phía bên kia của một biến cố cũng có những phận người, những tiếng nấc, những đổ vỡ, những cô đơn, những giấc mơ bị cắt ngang.

Có lẽ vì thế, Thuyền không nên được đọc như một bản cáo trạng. Cũng không nên được đọc như một lời biện hộ. Nó nên được đọc như một thử thách đối với khả năng chịu đựng ký ức của chúng ta. Ta có đủ bình tĩnh để đọc về một nỗi đau không hoàn toàn thuộc về mình không? Ta có đủ rộng lượng để thừa nhận rằng sau năm 1975, không phải ai cũng bước vào hòa bình bằng cùng một cảm giác không? Ta có đủ trưởng thành để hiểu rằng thống nhất lãnh thổ không đồng nghĩa ngay lập tức với hàn gắn lòng người không?

Đó mới là cái mênh mông mà Thuyền đâm vào. Cái mênh mông của biển thì hữu hình. Nhưng cái mênh mông trong tâm thức dân tộc mới đáng sợ hơn. Nó là nơi những ký ức không cùng chiều vẫn va vào nhau. Là nơi những lời kể chưa hòa giải được với nhau. Là nơi người Việt nhiều khi rất thương nhau trong đời sống thường ngày, nhưng lại trở nên xa lạ khi chạm vào lịch sử.

Và có lẽ một cuốn sách đáng đọc không phải vì nó làm ta dễ chịu. Một cuốn sách đáng đọc là cuốn sách buộc ta phải tự hỏi vì sao mình khó chịu. Vì nó sai? Hay vì nó động tới điều mình chưa sẵn sàng nhìn nhận? Vì nó cực đoan? Hay vì nó kéo một phần im lặng lâu năm ra trước ánh sáng?

Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, dù được khen hay bị chê, đã làm được một việc quan trọng: nó khiến câu chuyện hậu chiến không còn nằm yên dưới đáy. Nó nhắc rằng trong lịch sử Việt Nam hiện đại, có những con thuyền đã rời bến, có những người đã mất tích, có những phận đời đã bị cuốn ra khỏi quê hương, và những ký ức ấy không thể bị giữ mãi trong vùng nước câm lặng.

Một dân tộc trưởng thành không phải là dân tộc chỉ biết tự hào. Một dân tộc trưởng thành là dân tộc đủ can đảm để nhìn vào cả phần đau đớn của mình. Không phải để phủ nhận lịch sử. Không phải để xét lại bằng hận thù. Mà để hiểu rằng mọi lịch sử, nếu không đi qua lòng trắc ẩn, rất dễ trở thành một thứ đá lạnh đè lên con người.

Và khi văn chương còn đủ sức làm cho viên đá ấy rạn ra một đường nhỏ, để từ đó một tiếng người vọng lên, thì dù tiếng ấy gây tranh cãi, nó vẫn cần được lắng nghe.

7/5/2026

Viết trước chuyến bay đêm.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.