Đọc để Biết

Lê Hoàng Lân

Mấy ngày nay, mở Facebook lên thấy nhiều ý kiến về một cuốn sách.

Tôi có đọc (đang đọc, gần hết).

Tôi là một người đọc bình thường, không đủ sức để nói về, cấu trúc, chữ nghĩa, thủ pháp… những điều lớn lao của văn học.

Tôi đọc nó, bởi hình như đây là cuốn sách nói về một vấn đề, trước nay ít được nhắc đến, được xuất bản công khai và do nhà xuất bản chính thống thực hiện.

Tôi đọc bởi hoàn cảnh gia đình tôi, có người đã lên thuyền ra đi.

Gặp lại họ sau bao năm, cả tôi và họ đều tránh nhắc lại việc đó, dù tôi rất tò mò, có đôi lần tôi đã dạm hỏi, nhưng có lẽ ánh mắt buồn của họ ngăn tôi lại, tôi hiểu và tự thấy mình không nên đẩy câu hỏi đi xa hơn.

Ngày rời quân ngũ, những cuộc gặp mặt thiếu đi nhiều gương mặt bạn bè, hỏi thăm tôi chỉ biết họ cũng xuống thuyền ra đi, từ đó gương mặt họ chỉ còn trong ký ức của một thời cùng nhau vượt qua sống chết của chiến chinh, chỉ cần biết họ còn ở đâu đó trên trái đất này, đó đã một niềm vui, dù không muốn.

Một câu chuyện trở về với tôi, trong khi đọc cuốn sách ấy.

Tôi vào Sài Gòn, trú tại con hẻm nhỏ ở quận 3, một xóm lao động, con hẻm có nhiều người, tối đến đẩy chiến xe, dăm bộ bàn ghế nhỏ ra vỉa hè, phố có cái toà soạn báo đang rất nổi tiếng.

Nhà tôi ở sát với một nhà như vậy.

Cô chủ bán chè chắc cũng độ tuổi, có vẻ nhỏ hơn, nhưng chắc không nhiều.

Cô luôn mặc bộ đồ bà ba Nam Bộ, da trắng và đôi mắt một mí, dáng vẻ trầm hơn, không sôi nổi và mầu sắc như bao cô gái tôi gặp ở thành phố này.

Do gần nhà và lại thích món chè nước dừa béo ngậy, tôi vừa là khách vừa phụ cô những việc mà ở vỉa hè thành phố này sẵn có, đôi khi là dọn dẹp bàn ghế mỗi khi có dân phòng đi qua.

Nhà cô có bố mẹ và người em trai, tôi nhớ hình như tên cậu cũng gắn liền với nước (Hải hay Giang, lâu quá tôi không nhớ chính xác) bởi tôi chú ý đến cô chị nhiều hơn.

Trước khi dọn hàng, lúc này đã muộn, tôi và cô hay nán lại trò chuyện chút ít, cô hay cười khi tôi kể chuyện ngoài Hà Nội, chuyện lúc bé đi chợ đánh mất tem phiếu của mẹ ra sao, điều này chắc lạ, cô hỏi thêm mấy lần, rồi cười khúc khích, tôi ít thấy cô cười như vậy, lúc bán hàng cô cũng có những nụ cười cho người ăn chè, nhưng nó khác với điệu cười khi nghe tôi kể chuyện.

Ở Sài Gòn tôi chạy đủ việc, cũng cần lao, những việc cần sức hơn đầu óc, dù mệt, tối đến tôi vẫn về con hẻm đó, để ăn chè và đợi tối muộn trò chuyện, hỏi thăm cô mấy câu.

Một hôm tôi về, không thấy hàng chè của cô ở chỗ vẫn hay có, tôi vào xóm tìm cô.

Cô dắt tôi đi đến cuối hẻm, nơi có xe nước mía, cô mời tôi, tối nay không có chè đâu, tôi hỏi tại sao.

Cô bảo nhà sẽ nghỉ mấy hôm, má cô nghỉ hàng, làm cỗ chay, tụng kinh bởi cậu em cô đã xuống thuyền đi rồi. Tôi im lặng chia sẻ với cô cái không khí nặng nề đó.

Mấy năm sau trở lại, tôi về con hẻm tìm cô, không còn cô gái ngày xưa, hay tủm tỉm khúc khích nữa, chiếc núm đồng tiền bên má, nó nhạt đi chỉ còn như một dấu phẩy mờ.

Cô già đi hàng chục tuổi.

Sau mới biết, cả chiếc tàu có cậu em cô không một hồi âm, má cô ăn chay và lập đàn cầu kinh từng ấy năm, đến lúc ngã bệnh bà vẫn không ngừng, bà bảo bao giờ nhận được tin con trai bà sẽ xả.

Rồi mẹ cô mất, điều bà trông mong vẫn chưa đến, còn lại cô và người cha cũng đã tàn với sự ra đi của người vợ, sự mịt mùng về cậu con trai duy nhất.

Cô làm bạn với chiếc xe đẩy, bán chè nuôi cha, nuôi mình, có nhiều thứ đến với cô, nhưng bỏ lại cha một mình trong căn nhà nhỏ ở xóm, cô không nỡ.

Và cô từ chối tất cả, người cha già và chiếc xe bán chè là hai thứ cô không thể xa.

Khi vào làm Công ty trong Sài Gòn, tôi hi vọng gặp lại.

Giờ cô đã chuyển nhà, không ở chỗ cũ nữa.

Qua người trong xóm, tôi dò đường tìm cô.

Cô bảo đợt này, cô đưa cha đi lên phố núi, ở đây ra vào cha cô bảo đều thấy má và em cô. Ông muốn đi thật xa, cô cũng chào tôi, và bảo có lẽ đây là lần gặp nhau, sẽ rất lâu mới có lần khác.

Cô chúc tôi may mắn.

Nhận lời cô mà tôi đắng ngắt.

Căn nhà Công ty tôi không xa con hẻm nơi tôi gặp cô, nhưng bao giờ về tôi đều tránh khúc đường đi qua nó.

Đấy tôi đọc cuốn sách đó như vậy, tôi thấy bóng dáng người thân, những kỷ niệm mà số phận có nhiều điều trong cuốn sách.

Đọc với tôi là để Biết, để đừng tồi hơn.

Dù biết mình không đủ dũng cảm chống lại với bao điều phi lý ngoài kia.

Không đủ sức kháng cự.

Âu là không nên, nhưng dù sao không xấu hơn là điều những người viết sách mong muốn.

Đọc với tôi chỉ đủ như vậy.

Với tôi bài thơ của nhà thơ Du Tử Lê hình như đã nói hộ.

“CẢM ƠN: RỪNG AN, LẠC

chỉ một giọt nước thôi,

đủ biết rằng biển mặn.

chỉ một đôi môi thôi,

đủ có toàn thế giới.

chỉ một mái tóc thôi –

nghìn sâu còn ấm áp.

chỉ một đôi mắt thôi

cảm ơn: rừng an, lạc.

chỉ một ngón tay thôi,

thơm đời sau. tiếng hát.

chỉ một thời kinh thôi,

che, ấm phần tan, nát.”

Cuốn sách gợi bao điều cho tôi mấy hôm nay.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.