Khi địa chủ hát hành khúc vô sản

Tino Cao

Ngẫm lại, những bài học đầu đời của mỗi đứa trẻ đôi khi lại đến từ những nghịch lí vô cùng thú vị của số phận. Với tôi, thế giới quan về giai cấp, về người lao động, và về một lí tưởng đại đồng xa xôi được định hình không phải qua những trang sách giáo tôi đọc sau này, mà buồn cười là qua chính giọng hát trầm ấm của ông nội tôi. Tôi có may mắn được trải qua một tuổi thơ với sự dạy dỗ bảo ban kĩ càng, dù cực kì nghiêm khắc, của ông nội, một người Tây học trăm phần trăm thời thuộc địa. Hồi chỉ mới bảy, tám tuổi, với trí óc non nớt đầu đời, tôi đã được ông dạy và giải thích cho những câu hát của bản L’Internationale bằng tiếng Pháp, thứ ngôn ngữ của thuộc địa cũ nhưng lại mang trong mình giai điệu của một cuộc lật đổ vĩ đại.

Trong kí ức của một đứa trẻ, bài ca ấy là tiếng gọi hiệu triệu những người cần lao thợ thuyền đứng dậy đánh đổ những kẻ bóc lột để giành quyền sống cho mình. Bản dịch và lời giải thích ngắn gọn của ông nội gieo vào lòng tôi một hình ảnh hoành tráng và lãng mạn về những con người khổ sai dám đứng dậy bắt tay nhau để phá tan xiềng xích nô lệ. Nhưng có một điều, mà sau này khi lớn lên, biết suy tư và nhìn nhận, tôi mới thấy nó mang một sắc thái trớ trêu đến buồn cười. Xét về cơ cấu xã hội thời bấy giờ, nếu được định nghĩa từ lập trường giai cấp của người cộng sản, ông tôi đích thị là thành phần “chủ đất bóc lột” điển hình. Với gần bốn mươi mẫu đất trong tay, gần trăm tá điền, kiểu gì mà chả phải “bóc lột”?

Việc một địa chủ thứ thiệt, kẻ nắm giữ tư liệu sản xuất và đứng ở bờ bên kia chiến tuyến, lại say sưa truyền dạy bản hùng ca vô sản cho đứa cháu nội vô tình tạo nên một gạch nối kì lạ, đưa tôi đến với L’Internationale bằng sự mẫn cảm tự nhiên trước khi có đủ lí trí để nhận thức về giai cấp. Nghịch lí này khơi gợi một suy tưởng sâu xa hơn về bản chất và sức quyến rũ vượt thời gian của bài ca đã làm rung chuyển thế giới suốt hơn một thế kỉ. Để hiểu vì sao một người thuộc tầng lớp điền sản lại có thể đồng cảm với khúc ca của những người khốn cùng, cần bóc tách cái cốt tủy triết học ẩn sau tác phẩm, vượt qua những khẩu hiệu tuyên truyền xơ cứng. L’Internationale là một bài hát chính trị, nhưng ca khúc này đã vượt khỏi phạm vi âm nhạc để làm ngọn đuốc tinh thần cho các phong trào cách mạng toàn cầu. Ra đời năm 1871 giữa hương hỏa tàn tro của Công xã Paris qua ngòi bút của Eugène Pottier khi đang lẩn trốn án tử hình, rồi được Pierre De Geyter phổ nhạc năm 1888, bài ca đứng ở tư thế của một lời hiệu triệu viết từ bóng tối của cuộc lưu vong. Chính bối cảnh tan hoang ấy làm nên những câu mở đầu đầy phẫn nộ: “Debout, les damnés de la terre! / Debout, les forçats de la faim!”. Từ “damnés” không chỉ chỉ người nghèo mà là “những kẻ bị nguyền rủa” nơi đáy địa ngục, còn “forçats” là những tù nhân khổ sai bị xiềng xích. Bằng cách vay mượn ngôn ngữ mang màu sắc tôn giáo để mô tả giai cấp vô sản như một cộng đồng bị lưu đày trong chính xã hội tư bản, Pottier đã tạo ra một sức lay động sâu xa, chạm đến cả những tâm hồn vốn thuộc về giai cấp đối lập.

Sự đan cài giữa màu sắc tâm linh và tư tưởng cách mạng tạo cho L’Internationale một sức hút riêng biệt. Dù mang lập trường vô thần, bài hát vẫn mượn lối diễn đạt về sự cứu rỗi của Kitô giáo để gửi gắm thông điệp. Lịch sử giờ đây được trao lại cho quần chúng lao động tự quyết định số phận, thay thế cho hình ảnh một Thiên Chúa cứu thế ở cõi trên. Bài ca hướng người nghe đến “cuộc đấu tranh cuối cùng” thay vì ngày phán xét cuối cùng của thần học: “C’est la lutte finale / Groupons-nous, et demain / L’Internationale / Sera le genre humain” (Đây là cuộc đấu tranh cuối cùng / Hãy tập hợp lại, và ngày mai / Khối Quốc tế sẽ chính là toàn nhân loại). Câu hát về một ngày mai khi thế giới đại đồng hòa làm một với loài người khẳng định cái nhìn rộng mở của phong trào vô sản cuối thế kỉ 19. Khái niệm Quốc tế ở đây mở ra viễn cảnh về một thế giới thống nhất, xóa nhòa mọi biên giới dân tộc, tôn giáo hay giai cấp.

Ở điểm này, bài ca có sự khác biệt rõ rệt với các bản quốc ca thông thường. Nếu La Marseillaise (bài Marseillaise) của Pháp gắn liền với lòng tự hào dân tộc và việc bảo vệ biên giới trước ngoại xâm, L’Internationale lại xem biên giới quốc gia chỉ là lằn ranh do giai cấp thống trị dựng lên nhằm chia rẽ những người cùng khổ. Lời hát hướng đến tình liên đới của người lao động trên toàn địa cầu, bỏ qua khác biệt về màu da hay tiếng nói. Khát vọng giải phóng triệt để ấy kết tinh trong đoạn hát từng làm rúng động bao tâm hồn: “Il n’est pas de sauveurs suprêmes / Ni Dieu, ni César, ni tribun” (Không có đấng cứu thế tối cao / Không Chúa, không Caesar, cũng không lãnh tụ). Những câu chữ này kết hợp thế giới quan duy vật với thái độ khước từ mọi sự áp đặt từ bên ngoài. Ở đó, “Dieu” là thần quyền của nhà thờ, “César” là vương quyền độc tài của hoàng đế, và “tribun” là những chính trị gia mị dân kiểu La Mã cổ đại. Lời ca khẳng định người lao động phải tự cứu lấy mình.

Dòng chảy lịch sử thế kỉ 20 về sau lại phơi bày những nghịch lí sâu sắc khi lí tưởng ban đầu phải đối mặt với thực tế khốc liệt của quyền lực. Vài chính thể nhân danh L’Internationale và giai cấp công nhân dần sa vào chủ nghĩa quan liêu giáo điều, đẩy việc sùng bái cá nhân lên mức cực đoan, dẫn đến sự biến thái của chủ nghĩa cộng sản hiện thực độc tài và tàn bạo. Tại những xã hội từng yêu cầu triệu người đứng nghiêm trang hát lời phủ nhận đấng cứu thế hay lãnh tụ, một kiểu thần quyền chính trị mới lại tái sinh, người đứng đầu được cung phụng như bậc thánh thần. Khoảng cách mênh mông giữa tinh thần tự do của những người cộng sản Paris và sự nghiệt ngã của thực tế chính trị cho thấy khúc ca giải phóng rốt cuộc bị biến thành phương tiện khẳng định thế quyền cho một tầng lớp thống trị mới. Ngay cả câu hát “Du passé faisons table rase” (Hãy xóa sạch quá khứ) cũng chứa đựng mầm mống của những cuộc đại biến động. Cụm từ “table rase” vốn thuộc về truyền thống triết học phương Tây từ Aristotle đến John Locke với nghĩa “tấm bảng sạch”, nhưng khi đi vào tư duy cách mạng Pháp, nó mang hàm ý bạo liệt: đập tan toàn bộ trật tự cũ để làm lại từ đầu. Tinh thần duy ý chí này tuy tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ, khiến hàng triệu người sẵn lòng đánh đổi cuộc đời cho một tương lai khác biệt, nhưng việc coi quá khứ như một thứ rác rưởi lịch sử cần dẹp bỏ lại dễ dẫn đến logic của sự thanh trừng và tàn phá văn hóa, giống như những gì từng xảy ra trong cuộc đại cách mạng văn hóa hay thời kì Khmer Đỏ tại châu Á.

Nhớ lại câu chuyện của ông nội tôi, sự tương phản giữa tư thế địa chủ và tình yêu dành cho bài hát này phản ánh giá trị tự thân của một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại với khả năng vượt qua những khuôn khổ chật hẹp của hệ tư tưởng. Giai điệu hành khúc của Pierre De Geyter mang nhịp điệu thúc giục, cuồn cuộn tiến lên, với phần điệp khúc được thiết kế để đám đông dễ dàng hòa giọng đồng thanh, biến L’Internationale thành một nghi thức có giá trị tinh thần biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế cần lao hơn là một bài hát tuyên truyền chính trị. Ông nội tôi, một trí thức Tây học, đã rung động trước cái đẹp của một lí tưởng hướng đến sự công bằng và phẩm giá con người. Khi hát “C’est la lutte finale”, ông hướng về một giá trị phổ quát mà một tâm hồn nhạy cảm có thể sẻ chia, thay vì nghĩ đến viễn cảnh tá điền sẽ quay lại tịch thu toàn bộ đất đai tài sản của mình một ngày nào đó. Và quả thật, tháng 8 năm 1976, hàng chục mẫu đất của ông tôi đã bị chính quyền cách mạng tịch thu vĩnh viễn.

Từ cuối thế kỉ 19, bài hát được dịch ra hàng chục ngôn ngữ, vượt các đại dương để đến với mọi ngóc ngách của địa cầu. Nó từng là quốc ca chính thức của Liên bang Xô viết từ năm 1917 đến năm 1944, trước khi nhường chỗ cho một bản nhạc mang đậm tính quốc gia hơn vào thời kì Chiến tranh Thế giới thứ hai, đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa quốc tế lãng mạn sang những tính toán thực tế của một cường quốc. Dù thời cuộc biến đổi và khối Đông Âu đã lùi vào quá khứ, L’Internationale vẫn giữ chỗ đứng riêng, tiếp tục vang lên trong các cuộc xuống đường của công nhân tại Paris, phong trào xã hội ở Mỹ Latinh, hay những khoảnh khắc phản kháng của sinh viên tại các nước tư bản. Bài hát tồn tại lâu bền vì đã hóa thân thành kí ức âm nhạc, một thứ gene văn hóa của nhân loại, chứ không dựa vào tính thời thượng của các học thuyết chính trị từ Marx hay Engels. Khúc ca này mang trong mình tất cả những gì vừa vĩ đại vừa đáng sợ của con người. Nó chứa đựng ước mơ về sự cứu rỗi vô bờ bến, song cũng gắn liền với những giai đoạn thanh trừng đẫm máu; nó thắp lên viễn cảnh lộng lẫy về thiên đường hạ giới nhưng cũng dẫn dắt đến những bi kịch nhân đạo khủng khiếp của một thế kỉ 20 đầy bão dông, thời kì mà con người tin rằng ý chí tập thể có thể thay đổi toàn bộ tiến trình lịch sử.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.