Vũ My Lan

– Đến Quốc lộ 6 rồi đấy ông ạ – anh lái xe từ trên ghế lái nói to để cha tôi nghe tiếng.
Ngay từ khi lên xe, cha tôi cứ nhắc đến Đường 6, Bến Phương Lâm, Bốt Đồng Bến, Đồng Bái… Ông đã háo hức chờ chuyến đi Hòa Bình này cả một tuần nay.
Tôi ngồi bên cạnh cha, nhìn ông nhìn ra ngoài cửa kính. Mắt ông như đang tìm kiếm điều gì đó dọc hai bên đường, lướt qua từng khúc cua, từng mái nhà ven núi, như người đi lạc trong chính miền ký ức của mình.
– Cung đường này hẹp, hiểm trở, lầy lội và hoang vu lắm…
Cha tôi nói khẽ, gần như chỉ nói với chính mình.
Tôi nhìn ra ngoài. Xe chạy êm trên đường nhựa rộng, phẳng lì. Không có gì gợi đến một con đường gập ghềnh, heo hút bóng người như trong ký ức của cha. Tôi biết cha tôi đang nghĩ đến một con đường khác – con đường mà tám mươi bảy năm trước, một người đàn bà trẻ đã đưa đứa con trai bảy tuổi của mình lên một chiếc ô tô được thuê, ngược lên núi, trong một đêm lạnh năm 1940. Bà được mật báo rằng đêm hôm đó đoàn tù, có ông, từ Hỏa Lò sẽ dừng tại Bến Phương Lâm, trước khi tiếp tục hành trình đi bộ lên Sơn La. Và bà đã lên đường trước để kịp có mặt ở đó, để hai mẹ con có thể nhìn thấy ông, và để ông nhìn thấy họ, trước một hành trình không biết bao giờ kết thúc.
Đứa bé bảy tuổi ấy là cha tôi – nhà văn Vũ Thư Hiên.
Người đàn bà trẻ ấy là bà nội tôi – bà Phạm Thị Tề.
Và người mà hai mẹ con họ đang chờ – người được báo sẽ đi qua đây trong đêm hôm đó, bị còng tay, bị áp giải cùng hàng chục người tù khác trên những chiếc xe bít bùng của quân Pháp – là ông nội tôi, Vũ Đình Huỳnh.
Những vạt nắng vàng chiếu qua khung cửa, hắt lên khuôn mặt cha – lên những nếp nhăn sâu ở đuôi mắt, lên mái tóc trắng không còn một sợi đen.
– Sắp đến Phương Lâm rồi ạ – anh lái xe nói vọng ra phía sau.
Cha tôi ngồi thẳng dậy. Đôi mắt ông sáng lên.
Thị trấn Phương Lâm hiện ra sau một khúc cua – những dãy nhà mặt phố, cửa hiệu san sát với biển hiệu đủ màu. Những chiếc xe máy dựng trên vỉa hè. Người ta đi lại, mua bán, gọi nhau. Một thị trấn đang sống, đang ồn ào.
Cha tôi nhìn ra ngoài. Ông nhìn rất lâu, không nói gì.
Chúng tôi dừng lại ở một đoạn đường sát bờ sông. Cha tôi ngồi trên xe lăn, nhìn về phía sông Đà. Bờ kè đá chạy dài phía dưới – thẳng tắp, kiên cố. Xa hơn, mặt sông vẫn ở đó, xanh thẫm và rộng.
– Bến ngày xưa chính ở đây, – cha tôi nói khẽ – chỗ người ta xây kè đá bây giờ.
Rồi ông im lặng. Và tôi biết ông đang ở một đêm khác, tám mươi bảy năm trước.
Đêm đó, bà nội tôi đã gõ cửa từng lều quán dọc bến, dựng người ta dậy. Bà nói có một đoàn người sắp đến, họ cần ăn, cần có sức cho một chặng đường dài phía trước. Những người chủ quán nhìn bà, nhìn đứa trẻ đứng sau lưng bà. Họ không hỏi gì thêm, họ hiểu, hoặc họ đoán được việc bà yêu cầu họ làm là quan trọng. Bếp lửa được nhóm lên. Bánh được hấp. Nước được đun. Mùi gạo nếp lan ra trong đêm lạnh, xuống tận mép sông.
Tiếng động cơ xe tải vọng xuống từ trên đèo lúc gần sáng. Rồi những chiếc xe thùng bạt kéo kín mít gầm rú trên con đường đá lầy, dừng lại tại bến.
Họ bước xuống xe trong bóng tối – từng bóng người, tay bị còng, cứ hai người xích vào nhau thành một cặp. Lính gác lăm lăm súng trường ở hai bên.
Cậu bé bảy tuổi đứng dậy. Mẹ nắm tay cậu siết lại và bước về phía tên sĩ quan chỉ huy người Pháp. Bà nói bằng tiếng Pháp, thứ tiếng bà nói làu làu như tiếng mẹ đẻ, giọng bình tĩnh, đề nghị cho chồng bà cùng những người tù được ăn trước khi tiếp tục đi, thức ăn đã chuẩn bị sẵn, chỉ mất một lúc thôi.
Tên sĩ quan nhìn bà. Nhìn đứa trẻ đứng sau lưng bà. Nhìn dáng vẻ sang trọng của hai mẹ con. Rồi hắn nói, giọng không giấu được vẻ ngạc nhiên:
– Bà và cậu trông giàu có thế này – hắn vừa nói vừa khẽ ra hiệu từ đầu đến chân – sao lại để ông nhà đi vào con đường này? Ra nông nỗi này?
Bà nhìn thẳng vào mắt hắn.
– Nếu ông là người Việt Nam – bà nói, vẫn bằng tiếng Pháp, chậm và rõ từng chữ – ông cũng sẽ làm như chúng tôi.
Tên sĩ quan không đáp. Một lúc sau, hắn gật đầu, cho phép.
Những người tù ngồi xuống bên những mâm bánh. Bánh nếp, bánh tẻ còn nóng, chén trà còn ấm – thứ hơi ấm rất quý trong đêm lạnh miền núi đã tiếp sức cho họ trước hàng trăm cây số đường núi phía trước.
Hai mẹ con tìm đến chỗ ông. Ba người họ ngồi bên nhau. Ông nhìn vợ, nhìn con, rồi đưa đôi tay bị còng nắm lấy tay họ. Ông dặn dò vợ, dặn dò con để họ yên lòng, rằng hãy coi như ông chỉ đang đi công tác một chuyến dài.
Cậu bé bảy tuổi ôm lấy cha. Ông hôn lên trán con, rồi bảo con tháo chiếc mũ béret đang đội trên đầu, đặt lên đầu ông Phi Vân ngồi cạnh đó.
– Đường xa lạnh lắm, anh đội mũ này cho ấm – Ông nói.
Bà đến chỗ ông Trần Huy Liệu – người bạn thân thiết của ông trong những năm hoạt động – tháo chiếc khăn len đang quàng trên cổ mình và choàng lên vai ông. Sau này, trong hồi ký của mình, ông Trần Huy Liệu viết rằng ông đã giữ chiếc khăn ấy suốt những năm tù đày, qua Sơn La, qua Nghĩa Lộ – mãi đến sau ngày vượt ngục, khi cần tiền lộ phí cho hành trình trốn thoát, ông mới bán đi.
Cậu bé bảy tuổi đứng đó, đầu trần trong đêm lạnh, không thấy lạnh.
Trời chưa sáng hẳn thì lệnh lên đường được ban ra.
Những người tù đứng dậy, từng đôi một, bị xích vào nhau thành một xâu dài. Chân đất. Tay cùm. Phía trước là hơn hai trăm ba mươi cây số đường núi lên Sơn La – không xe, không ngựa, chỉ có đôi chân và những con đèo.
Bây giờ, tám mươi bảy năm sau, người đàn ông chín mươi tư tuổi đứng trên bờ kè sông Đà, mắt nhìn về phía ấy – nơi con đường núi khuất vào bóng cây, nơi một xâu dài bóng người trong cùm đã bước đi và không quay lại.
Môi ông mấp máy. Tôi nghiêng người lại, lắng nghe.
“Ta là dân nước Nam
Giống Lạc Hồng đang buổi lầm than …”
Bài hát bà nội dạy cha tôi từ thuở lên năm mà ông rất thuộc và vẫn hát cho tôi nghe. Giọng ông lạc đi, nhỏ như hơi thở.
Tôi biết ông đang nhớ cha, nhớ mẹ.
(Ghi chép nhân dịp đưa cha về Bến Phương Lâm, Hòa Bình)
1/5/2026