Đỗ Thái Bình
Trong cuộc đời có những bức thư gửi tới đúng địa chỉ nhưng vì một lý do nào đó lại không có người nhận. Có thể người nhận đã di chuyển, có thể người nhận đã qua đời… Trong lịch sử tù đày của những người yêu nước chúng ta không thiếu những câu chuyện đó. Lật tìm hồ sơ của những chí sĩ ái quốc trong nhà tù tại xứ Guyane Nam Mỹ, chúng tôi bắt gặp một lá thư có đủ cả phong bì gửi từ Nam Kỳ – tên gọi Nam Bộ thời thuộc địa Pháp – và một mảnh giấy xé ra từ tờ giấy kẻ ca rô khổ A4.

Hình 1- Phong bì thư
1. Cái phong bì
Hình bên là một phong bì thư gửi tới một người tại Guyane. Đây là loại phong bì thư thương mại thông thường, khá phổ biến trong tầng lớp có học thức hoặc ở các đô thị như Mỹ Tho, Sài Gòn – Chợ Lớn những năm 1910-1920. Phong bì có lót mặt trong màu tối (thường là xanh đậm hoặc đen) để đảm bảo tính riêng tư, không bị soi thấy nội dung bên trong dưới ánh sáng mạnh. Đây là kiểu phong bì tiêu chuẩn cho thư từ gửi đi quốc tế hoặc thư từ quan trọng thời bấy giờ.
Dấu bưu điện hình tròn bên phải ghi MYTHO – COCHINCHINE, tức Mỹ Tho Nam Kỳ 5-1-18, tức ngày 5 tháng 1 năm 1918. Có một dấu bưu điện ngày 22-3-18 đóng đè lên con tem, vòng ngoài của dấu ghi địa chỉ bưu cục nơi nhận, đó là St Laurent Guyane Française. Như vậy, bức thư mất khoảng hơn 2 tháng rưỡi để đi từ Mỹ Tho Nam Bộ Việt Nam sang đến thị trấn St Laurent ven sông Maroni, một thị trấn đông đúc nhất của Guyane, sau thủ phủ Cayenne. Ta không gọi Cayenne là thủ đô, vì cả Guyane, một xứ Nam Mỹ nằm giữa Venezuela và Brazil chỉ là một tỉnh hải ngoại của nước Pháp. Từ trước năm 1953, cả cái tỉnh có hình như trái xoài này chỉ là một nhà tù khổng lồ giam giữ phạm nhân và các tù chính trị của đế quốc Pháp.
Con tem có mệnh giá 10 centimes (10c), tức 10 xu, bằng 1/10 đồng bạc Đông Dương. Đây là mức cước phí tiêu chuẩn cho một lá thư quốc tế (từ thuộc địa về chính quốc hoặc sang thuộc địa khác như Guyane) ở nấc trọng lượng gửi đi đầu tiên. Vào giai đoạn 1917-1918 gửi bức thư này, do ảnh hưởng của Thế Chiến thứ nhất và tình hình kinh tế Đông Dương, giá cả có sự biến động. Theo các tư liệu kinh tế lịch sử Nam Kỳ, giá gạo thường dao động khoảng 5 đến 7 xu cho 1 kg gạo hạng trung bình. Với 10 centimes giá trị của một con tem dán trên thư này, người dân có thể mua được khoảng 1.5 kg đến 2 kg gạo. Nói cách khác, tiền cước phí để gửi một lá thư sang Guyane tương đương với khẩu phần gạo ăn trong khoảng 2-3 ngày của một người dân bình thường thời đó. Để quy đổi chính xác từ năm 1918 sang năm 2026 là rất khó do biến động lạm phát và thay đổi bản vị tiền tệ, nhưng có thể ước lượng qua giá gạo: Nếu 1 kg gạo ngày nay giá khoảng 20.000 VNĐ, thì con tem 10 centimes, tương đương ~1.5 kg gạo, có giá trị sức mua tương đương khoảng 30.000 đến 40.000 VNĐ tiền hiện nay. Nhân vật chính trên con tem được cho là cô Ba Thiệu, con gái thầy Thông Chánh, một mỹ nhân nổi tiếng của Nam Kỳ lục tỉnh cuối thế kỷ 19. Cô được học giả Vương Hồng Sển mô tả là có vẻ đẹp “không ai bì”, với nét đẹp tự nhiên và mái tóc dài chấm gót. Hình ảnh này sau đó cũng được sử dụng làm biểu tượng cho thương hiệu “Xà bông Cô Ba” của ông Trương Văn Bền. Dòng chữ “INDOCHINE” chỉ xuất xứ từ Liên bang Đông Dương, một đơn vị hành chính thuộc địa của Pháp tại Đông Nam Á. Ký tự “R F”, viết tắt của “République Française” (Cộng hòa Pháp. Dòng tem này (không có dấu in đè) bắt đầu xuất hiện từ năm 1907
2. Người nhận
Người nhận được ghi rõ ràng bằng nét bút mạnh mẽ: Monsieur Trần Văn Ngọ n0 m-le 41687 Camp Malgache. Pénitencier de Saint-Laurent. Guyane Française.
Đó là anh Trần Văn Ngọ, thợ bạc quê Mỹ Tho. Đi cùng đoàn do Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu sang Hồng Kông mong học thêm nghề nghiệp để trở về phục vụ cách mạng thì bị bắt sau vụ nổ tại Kowloon ngày 16/03/1913 nên bị cảnh sát Anh-Pháp bắt đưa về Hà Nội. Bản án tuyên ngày 05/09/1913 đưa anh cùng 10 đồng chí khác tới Guyane với thời hạn khổ sai 8 năm. Quang Diêu đã phải thốt lên trong bài thơ Hà Thành lâm nạn như sau: Oan anh Trần Ngọ quá chừng, Tám năm tân khổ không phân lẽ nào.
Ngoài cái tên do bố mẹ đặt cho khi ra đời, giờ đây Văn Ngọ phải định danh bằng một con số 41687, là n, m như viết trên phong bì. Đó là chữ viết tắt của numero matricule, số định danh tù nhân thống nhất toàn nước Pháp bao gồm cả chính quốc lẫn thuộc địa. Địa chỉ ghi rất chi tiết: Camp Malgache tức trại Malgache, tục danh gọi là Trại Than vì chuyên khai thác than củi từ núi rừng bạt ngàn. Ngày nay khu nay gọi là Charbonnière, khu Than, cách trung tâm St Laurent chỉ vài cây số. Trại Than thuộc trại trung tâm, trên địa chỉ ghi là Pénitencier de Saint-Laurent – tức là Trung tâm trừng giới St Laurent.

Hình 2- Thư cô Tư Ngọ do một người đàn ông viết giùm
3. Bức thư của người vợ
Thư viết bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20, có một số từ dùng theo phương ngữ Nam Bộ và cách viết thời bấy giờ, toàn văn như sau:
Mỹ tho, le 4 Janvier 1918.
Gởi lời thăm Ba thằng Lẫm đặng mạnh giỏi nội nhà cũng bình yên.
Còn Ba thằng Lẫm còn ở đó không xin trả lời cho tôi biết để ở nhà tôi trông đợi lắm.
Còn thằng Lẫm nó bây giờ cũng đi học như thường, mà nó nhắc nhở Ba nó hoài và nói sao ba nó không gởi thơ. Vậy thì ba nó trả lời cho tôi mừng và cho con nó vui.
Thôi ít lời thăm Ba nó đặng mạnh.
Cô Tư Ngọ
Bức thư ngắn ngủi tổng cộng có 91 từ thì 28 từ dành cho đứa con trai, 22 từ thăm hỏi tin tức, người vợ tù nhân luôn nhắc tới “Ba thằng Lẫm” với tình yêu thuỷ chung da diết. Lẫm lúc này bao nhiêu tuổi? Như đã nói ở trên, Văn Ngọ bị đi đày Guyane với bản án 8 năm. Khi khai gia cảnh, biên bản năm 1913 ghi con trai anh 3 tuổi. Vậy lúc này Trần Văn Lẫm đã lên tám, đã đi học, tức là vào lớp Đồng Ấu, tức Cours enfantin trong hệ thống tiểu học Pháp-Việt. Còn “Ba thằng Lẫm” mang họ Trần nhưng thực ra trong hồ sơ tù đầy có ghi rõ anh tên là Nguyễn Ngọc, hay Nguyễn Văn Ngọ con ông Nguyễn Văn Đen và bà Đoàn Thị Lê, cả hai mất sớm. Được họ Trần nuôi dưỡng và truyền nghề thợ bạc, Văn Ngọ là con thứ ba trong gia đình, tức cậu Tư Ngọ theo cách gọi Nam Bộ. Hồ sơ cũng cho biết, Văn Ngọ đã mất ngày 26/07/1915, một năm sau ngày tới trại giam ven sông Maroni. Trước đó, hàng tháng, theo quy định chung, tù nhân vẫn gửi thư và nhận được thư nhà. Do hai ba năm nay không có thư, vợ Văn Ngọ – cô Tư Ngọ – đã gửi thư này mong có phản hồi mà không biết rằng chồng mình đã bỏ mạng nơi đất khách quê người đã được 3 năm! Trong khi Ban quản trị Trại tù trước bức thư không người nhận đã ngoáy thêm một chữ ngoài phong bì “Evadé” – đã trốn tù – mà không trả lại hay thông báo cho người nhận. Vì thế, toàn bộ phong bì và thư còn lại được đưa về chính quốc và nay nằm trong Văn khố Hải ngoại Pháp ANOM tại thành phố Aix-en-Provence.

Hình 3- Hồ sơ ghi rõ Trần Văn Ngọ đã qua đời tại St Laurent ven sông Maroni ngày 26/07.1914