Tự sự của Thích Ngộ Chánh
Giữa những đêm sâu tịch mịch nơi Đồi Thông Phương Bối, lắng nghe tiếng gió đại ngàn ngút ngàn qua kẽ lá, tôi thường lặng lòng tự hỏi: Cuộc đời mình rốt cuộc đã đi qua những gì? Có những khoảnh khắc, ngoảnh lại thấy mọi biến động chỉ như một giấc mộng dài; nhưng cũng có lúc, nó lại hiện lên như một trận cuồng phong chưa bao giờ thực sự tan đi.
Tôi sinh ra tại vùng đất sương mù Bảo Lộc (Lâm Đồng), là con trai út của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (Sơn Núi) và bà Nguyễn Thị Phượng. Ba tôi sống một cuộc đời như lửa – dữ dội, nổi loạn và cô độc. Mẹ tôi lại sống như đất – âm thầm, nhẫn nại, chở che và hy sinh gần như cả cuộc đời mà không một lời oán thán. Trưởng thành từ hai khoảng trời đối lập ấy, ngay từ thuở thiếu thời, tâm thức tôi đã mang những lối rẽ khác biệt với thế gian. Giữa chốn đô thị phồn hoa và những cuộc vui náo nhiệt, tôi lại tìm thấy sự an trú nơi khói nhang bảng lảng, tiếng chuông chùa thanh tịnh và màu áo nâu sồng.
Cái duyên trần thế khép lại vào một ngày còn rất nhỏ, khi tôi theo anh trai lên chùa Phước Huệ chơi rồi quyết định xin ở lại xuống tóc quy y. Thuở ấy, một đứa trẻ chưa đầy mười tuổi đầu chẳng thể lý giải hết ngọn nguồn của hai chữ “đi tu”, chỉ biết sâu thẳm trong tâm khảm có một tiếng gọi vô hình mách bảo rằng: Mình thuộc về chốn này.
Thế nhưng, hành trình cầu đạo của tôi chẳng hề phẳng lặng như người đời thường tưởng tượng. Con đường ấy dập dềnh qua những tháng ngày lang thang, những lần rời xa cửa thiền, và cả những cơn bạo bệnh tưởng chừng đã chạm ngõ tử sinh. Tôi đã đi qua tận cùng của sự cô độc để rồi chính trong những năm tháng khắc nghiệt ấy, đôi mắt tôi bắt đầu nhìn thấu thực tại của nhân gian. Tôi nhìn thấy cái nghèo bủa vây, thấy những thân phận bất hạnh chìm nổi, và nhận ra rằng có những điều trong kinh sách vốn rất hiển bày, nhưn
khi bước ra ngoài vách chùa lại trở nên vô cùng phức tạp.
Sự chuyển hóa trong tâm thức đưa tôi đến một quyết định: Tôi không thể chỉ bình yên ngồi nơi chánh điện tụng kinh, niệm Phật. Tôi phải đi vào cuộc đời, làm một điều gì đó thiết thực cho con người.
Tại vùng đất nghèo khó Đăng Hà (Bù Đăng, Bình Phước), tôi tạo dựng Bối Diệp Thất. Giữa muôn vàn gian khó của buổi ban đầu, tôi mới thực sự chạm ngõ triết lý “Phật Pháp Giữa Đời Thường”. Đạo Phật lúc bấy giờ không còn là những giáo lý cao siêu trừu tượng, mà hiển hiện qua một bao gạo trao tay người đói, một chuyến thiện nguyện sưởi ấm vùng sâu, một lời ủi an cho linh hồn tuyệt vọng, hay đơn giản là một mái hiên chùa che mưa che nắng cho những phận người lỡ bước quay về.
Năm 2014, bước ngoặt lớn gọi tôi trở về lại Phương Bối khi bóng xế tà dương đã đổ xuống đời ba. Khi ấy, khu đồi thông – di sản chắt chiu cả đời người của ba tôi – đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá nặng nề. Bản đồ số của vùng đất này khi đó còn mờ nhạt, khiến rừng thông dễ dàng rơi vào tầm ngắm của những vấn đề phức tạp: từ nạn khai thác đá trái phép gây sạt lở nghiêm trọng, đến những tranh chấp đất đai dai dẳng và sự xâm lấn quyền sở hữu từ nhiều phía. Chứng kiến những hàng thông già mà ba đã dành trọn kiếp nhân sinh để gieo trồng bị tổn hại, lòng tôi thắt lại như chính một phần máu thịt của mình đang rỉ máu.
Cái tên Đồi Thông Phương Bối chính thức được định danh trên bản đồ và truyền thông từ niềm đau cùng khát vọng thiết lập một “lá chắn di sản”. Tôi muốn dùng tư liệu và tiếng nói của mình để nối lại một ký ức vẹn nguyên cho đời sau. Một bên là Phương Bối Am – chứng tích tinh thần của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một bên là đồi thông Sơn Núi – hình bóng của người cha tôn kính.
Đó cũng là chương dữ dội nhất trong cuộc đời tôi. Nhìn thấy rừng bị xâm hại, tôi chọn cách lên tiếng đối thoại và đấu tranh bảo vệ môi trường, bảo vệ sự tôn nghiêm của tôn giáo và đất đai bờ cõi. Sự dấn thân ấy đòi hỏi những cái giá rất đắt. Suốt nhiều năm liền, tôi phải sống giữa vòng vây của áp lực, biến động và cả những hiểu lầm bủa vây. Có lúc, con đường phía trước mờ mịt đến mức tôi không còn biết cuộc đời mình rồi sẽ trôi dạt về đâu.
Năm 2020, một ngày sau khi tôi vừa bước chân ra khỏi bệnh viện, ba tôi trút hơi thở cuối cùng. Biến cố ấy là khoảng lặng đau đớn nhất đời tôi. Có những nỗi đau lớn đến mức không thể khóc, không thể thành lời, cứ thế hóa thạch, nằm im lìm trong lồng ngực như một khối đá ngàn năm.
Sau ngày ba mất, vượt qua những đổ vỡ và áp lực, tôi lựa chọn một lối sống lặng lẽ và ẩn dật hơn để tiếp tục thực hiện tâm nguyện. Năm 2021, tôi chính thức tạo dựng Tùng Lâm Thất ngay giữa lòng rừng thông, âm thầm đặt từng viên gạch giữ đất, trồng thêm những cây tùng non và kiến tạo nên Ngộ Tùng Viên.
Đã có người từng hỏi tôi: Sau tất cả những dông bão, tranh chấp và mất mát đã qua, tại sao Thầy vẫn kiên trì bám trụ để bảo vệ ngọn đồi này?
Câu hỏi ấy chính tôi cũng không có lời đáp rõ ràng bằng ngôn từ thế gian. Có lẽ vì cuộc đời tôi đã chứng kiến quá nhiều sự đổ vỡ, nên ở chặng này, tôi chỉ muốn dốc chút sức tàn để níu giữ lại một chút gì đó cho mai sau. Một hàng thông reo, một gốc tùng già vững chãi trước tuế nguyệt, một mảnh ký ức vẹn nguyên và một màu xanh dịu mát cho đất mẹ Bảo Lộc.
Mai này, tôi cũng sẽ như bao cát bụi khác, lùi vào cõi hư vô. Nhưng nếu sau này, có một ai đó bước chân đến Đồi Thông Phương Bối, đứng dưới tán lá ngắm nhìn những cây tùng già tĩnh lặng giữa trời không, và nghe tiếng gió ngàn hòa âm qua rừng thông, thì có lẽ, chuyến dạo chơi ở trần gian này của tôi đã không hoàn toàn vô nghĩa.
Sau tất cả những thăng trầm đã bước qua, tâm nguyện lớn nhất mà tôi hằng gìn giữ cho đến hơi thở này chính là: Phật pháp không phải là cánh cửa để trốn chạy cuộc đời. Phật pháp là con đường để dấn thân vào giữa nhân gian, để thấu hiểu con người, thương yêu con người và xoa dịu những nỗi đau của cuộc đời này bớt đi một chút…
(Tư liệu lịch sử – Tâm nguyện bảo tồn văn hóa tâm linh và môi trường sinh thái Đồi Thông Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng. Trích hồi ký Thích Ngộ Chánh).

Thích Ngộ Chánh tại Tùng Lâm Thất – Khu Đồi Thông Phương Bối