Nguyên Ngọc: Từ đại tự sự chiến tranh đến đối thoại nhân bản toàn cầu

Tino Cao

Trong dòng chảy văn hóa và tư tưởng Việt Nam đương đại, Nguyên Ngọc cấu thành một thực thể đa diện thay vì dừng lại ở danh xưng văn chương thuần túy. Ở ông, các tầng vỉa trải nghiệm lịch sử và hệ thống tri thức kết tinh trong một cấu trúc cộng sinh bền chặt, nơi quá khứ và hiện tại không ngừng đối thoại. Chính sự giao thoa này khiến giới học thuật phương Tây không chỉ định vị ông như một tác gia chiến tranh mà đặt ông vào hệ tọa độ rộng lớn của những người thực hành văn hóa toàn diện. Dưới nhãn quan của giới quan sát quốc tế, ông hiện thân cho mẫu trí thức với tinh thần phản tư đầy bản lĩnh, sẵn sàng truy vấn và giải cấu trúc những nền tảng do chính mình góp công tạo dựng. Sự vận động nội tại đó đã kiến tạo nhịp cầu kết nối giữa đại tự sự sử thi với một hiện tại toàn cầu hóa đầy rạn nứt, đánh dấu bước chuyển dịch tất yếu từ paradigm tập thể sang không gian suy tưởng tự do về bản vị cá nhân trong mối tương quan cộng đồng.

Ở giai đoạn đầu của văn nghiệp, bản sắc dân tộc trong thế giới nghệ thuật của Nguyên Ngọc không tồn tại như một phạm trù trừu tượng mà kết tinh từ những điều kiện sinh tồn cốt thiết. Tây Nguyên, dưới ngòi bút của ông, vừa là một là một không gian biểu tượng kì vĩ, vừa là một thực thể sống thực tế và gần gũi nơi con người và tự nhiên gắn kết trong một hệ sinh thái nhân văn không thể tách rời. Bản sắc, vì thế, không nằm ở những định nghĩa giáo điều mà có mặt ngay trong các thực hành đời sống: từ nhịp sinh học, ngữ âm đến cấu trúc nội tại của cộng đồng buôn làng. Khi soi chiếu những tác phẩm của ông vào bối cảnh chiến tranh, có thể nhận diện bản sắc dân tộc như một xung lực sinh tồn, mỗi yếu tố văn hóa đều mang chức năng trực tiếp trong việc bảo toàn cộng đồng. Những hình tượng như Đất nước đứng lên hay Rừng xà nu vừa là những khúc tráng ca về chủ nghĩa anh hùng, vừa là sự khẳng định quyết liệt về một căn tính văn hóa bất tử trước áp lực diệt chủng.

Tuy nhiên, tầm vóc của Nguyên Ngọc lại nằm ở bản lĩnh của việc dám khước từ tình trạng tự giam mình trong một paradigm nhất quán, bởi ông hiểu rằng một trí thức đích thực không bao giờ là một hòn đá tảng đứng yên trước dòng chảy của thời đại. Khi những biến động lịch sử cuốn phăng những hình thức đại diện lỗi thời và cấu trúc lại toàn bộ thực tại hậu chiến, bản sắc trong tư duy của ông không còn được định nghĩa thông qua phép đối đầu nhị nguyên với ngoại bang; nó buộc phải tự vấn trong một bối cảnh mới, ở đó tâm thế người trí thức thôi hướng ra ngoại giới để quay ngược vào truy vấn bản thể, giải phẫu những góc khuất của một căn tính vốn đã bị đóng khung quá lâu trong lí tưởng chung. Chính tại điểm đứt gãy mang tính bản lề này, các học giả phương Tây, tiêu biểu là Wayne Karlin, đã nhận ra ở ông một sự dịch chuyển ý thức hệ mang tính quyết định: sự chuyển dịch từ ý chí cộng đồng thuần nhất sang chiều kích suy tưởng cá nhân đầy ưu tư, nơi cái “tôi” bắt đầu tách ra khỏi cái “ta” sử thi để chiêm nghiệm về thân phận.

Sự phản tư mà Karlin nhắc đến không phải một hành vi phủ định quá khứ một cách cực đoan mà là quá trình tự vấn triền miên về những hệ lụy sâu xa và âm thầm của chiến tranh lên đời sống tinh thần. Khi chiến thắng rời bỏ vị thế của một mục tiêu tối thượng để trở thành một thực tại hiện hữu, câu hỏi đặt ra không còn là phương thức chinh phục hay đánh đổi, đó là sự tồn dư của cuộc chiến trong tâm linh con người, những vết thương không thể chữa lành bằng các khẩu hiệu chính trị. Phản tư, ở đây, không mưu cầu việc triệt tiêu lịch sử hay phủ nhận những giá trị anh hùng; nó khai mở một diễn ngôn khác, mang tính nhân bản hơn và sâu sắc hơn, nơi những mất mát, nỗi đau và sự đứt gãy không còn bị che lấp bởi hào quang của các tự sự khải hoàn rực rỡ. Điểm đáng chú ý nằm ở sự tương ngộ đầy nhân văn giữa Nguyên Ngọc và Karlin. Họ không gặp nhau ở trải nghiệm lịch sử trực tiếp mà giao thoa ở nhu cầu nội tại tất yếu là nhìn lại chiến tranh từ chiều sâu của kí ức bản thể. Với tư cách một cựu binh Mĩ tiếp cận cuộc chiến từ phía bên kia chiến tuyến, Karlin đặc biệt nhạy cảm trước những tín hiệu phản tư từ phía Việt Nam, bởi ông hiểu rằng kẻ thắng hay người bại đều phải đối diện với một sự trống rỗng sau tiếng súng. Ông không tìm kiếm ở Nguyên Ngọc một sự xác nhận cho những định kiến sẵn có hay một lời giải oan cho quá khứ; điều quan trọng là ông nhận ra khả năng đồng quy về những câu hỏi mang tính vĩnh cửu về giá trị sự sống, sự chuộc lỗi và sự hòa giải tinh thần. Chúng là những nan đề mà chính ông cũng đang nỗ lực tự giải quyết trong một hành trình hàn gắn đầy nhọc nhằn.

Sự dịch chuyển này không chỉ khẳng định tầm vóc của một cá nhân Nguyên Ngọc, nó đánh dấu ngưỡng trưởng thành tất yếu của một nền văn hóa khi dũng cảm khước từ những diễn ngôn đơn tuyến để đối diện với thực tại lịch sử đa chiều, nơi những trải nghiệm đau thương được chuyển hóa thành một không gian đối thoại cởi mở nhằm tiệm cận những giá trị nhân bản phổ quát nhất. Nếu trong giai đoạn chiến tranh, cái “chúng ta” đóng vai trò là trục xoay biểu đạt duy nhất, đồng nhất hóa mọi dị biệt để phục vụ cho mục đích sinh tồn dân tộc dưới hệ hình lí tưởng tập thể, thì thời kì hậu chiến ghi nhận sự trỗi dậy của cái “tôi” trong tư cách một trung tâm suy tưởng độc lập và đầy ưu tư.

Sự hiện diện của bản thể cá nhân thực chất là một nỗ lực định dạng lại cộng đồng ở tầng ý nghĩa sâu hơn, nơi những kết nối hữu cơ nảy sinh từ chính lăng kính của những trải nghiệm đơn độc và thành thực thay vì dựa trên sự áp đặt đồng nhất. Bản sắc, dưới nhãn quan này, tự giải phóng khỏi ảo tưởng về tính thuần nhất để xác lập thông qua khả năng dung chứa những rạn nứt nội tâm cùng các dị biệt bản thể, biến văn chương và tư tưởng Nguyên Ngọc thành một tọa độ quan trọng trong khuôn khổ của nghiên cứu văn hóa (cultural studies), một địa hạt học thuật vốn mặc định bản sắc là một trạng thái động, sinh ra từ cuộc giao thoa khốc liệt giữa tiểu sử cá nhân và vận mệnh dân tộc. Chính sự chuyển dịch này đã xác lập một lập luận mới về lịch sử, nơi những kí ức vụn vỡ của cá nhân được thừa nhận như những mảnh ghép sống động của một chỉnh thể dân tộc đang trong quá trình tự nhận thức lại chính mình giữa muôn vàn đứt gãy hậu chiến.

Sự chuyển dịch trong các tiểu luận văn hóa về Tây Nguyên của Nguyên Ngọc đánh dấu một tư thế quyết liệt khước từ khuynh hướng đóng băng di sản, bởi với ông, sinh mệnh của mọi giá trị nằm ở khả năng cộng hưởng và phản hồi trực tiếp với các biến động thực tại thay vì tồn tại như những xác ướp vô tri trong tủ kính bảo tàng. Ông chủ động vượt thoát lối mô tả bề mặt về các nghi lễ lãng mạn của đại ngàn nhằm truy vấn trực diện điều kiện sinh tồn của chủ thể, hiện thực hóa một không gian trần trụi đang oằn mình dưới áp lực của những tiến trình hiện đại hóa thô bạo cùng các dự án kinh tế áp đặt mang tính cưỡng chế. Đây là cuộc phản kháng mang tầm vóc thời đại và lương tri của một trí thức lớn dấn thân vào việc bóc tách những mâu thuẫn nội tại của phát triển và vạch trần sự tha hóa của bản sắc khi nó bị tước đoạt quyền tự quyết để trở thành công cụ trang trí cho thị trường tiêu thụ. Tây Nguyên, trong chiều sâu tư tưởng Nguyên Ngọc, hiện thân như một phép thử cho khả năng sinh tồn của các giá trị nhân văn trước cơn lốc thực dụng, buộc tất cả phải nhìn nhận lại trách nhiệm bảo toàn linh hồn của một vùng đất thiêng thay vì chỉ quan tâm đến những chỉ số tăng trưởng vô hồn.

Quan niệm này gặp gỡ tư tưởng của Stuart Hall khi xem văn hóa là một quá trình tự tái tạo và thương thảo giá trị không ngừng nghỉ. Thay vì nỗ lực cô lập để bảo tồn, Nguyên Ngọc khẳng định văn hóa là một thực thể sống, chỉ có thể tồn tại khi vận động và tương tác sòng phẳng với thế giới bên ngoài. Một khi không gian văn hóa bị vật hóa và tước đoạt tính thiêng, bản sắc sẽ rời bỏ thực tại sống động để biến dạng thành một dạng giả văn hóa phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn của ngoại giới, dẫn đến sự tha hóa của chính chủ thể khi họ buộc phải đóng vai chính mình trong một kịch bản xa lạ do kẻ khác soạn sẵn. Sự đồng quy với nhận định của Arjun Appadurai càng làm rõ hơn việc các cuộc đấu tranh văn hóa đã dịch chuyển xuống cấp độ cộng đồng cụ thể, nơi cồng chiêng hay rừng núi đại ngàn thực chất là những diễn ngôn về quyền tồn tại của một căn tính đang đối mặt với nguy cơ bị xóa sổ không gian sinh tồn. Nguyên Ngọc hiểu rằng sự tan rã của môi trường sinh thái nhân văn đồng nghĩa với việc cộng đồng mất đi khả năng hình dung về tương lai, điều này thúc đẩy ông nhập cuộc để khẳng định rằng sự phát triển không thể được đo lường nếu cái giá phải trả là sự vụn vỡ của căn tính con người.

Suy tư của Nguyên Ngọc tìm thấy điểm tựa vững chãi nhất khi ông chuyển trọng tâm vào địa hạt giáo dục, là nơi ông không nhìn nhận nhà trường giống như một xưởng máy kĩ thuật truyền đạt tri thức thuần tuý. Trường học, với ông, là một không gian sinh tồn để kiến tạo bản lĩnh và tự do. Quan điểm này tương hợp sâu sắc với triết lí giáo dục phê phán của Paulo Freire khi hành động giáo dục phải là một quá trình giải phóng bản thể khỏi các cấu trúc áp đặt, đưa con người từ tư thế kẻ bị trị trở thành chủ thể tự quyết định vận mệnh đời mình. Khi quyết liệt nhấn mạnh vào tính tự chủ và trách nhiệm cá nhân, Nguyên Ngọc thực chất đang thực hiện một hành vi can thiệp như cuộc giải phẫu vào hệ thống giáo dục vốn nặng nề tính giáo điều và sự truyền thụ một chiều. Ông khẳng định một cách đầy bản lĩnh rằng, sự bền vững của một xã hội không nằm ở những khối tri thức chết mà được bảo chứng bởi những cá nhân có khả năng hoài nghi những chân lí có sẵn và dám dấn thân vào những lựa chọn đầy rủi ro của tự do. Hành trình từ những trang sử thi hào hùng thuở trẻ đến những tiểu luận giáo dục khắc khoải lúc tuổi già chính là một sự nhất quán triệt để trong nỗ lực kiến tạo một nền tảng nhân bản mới. Căn tính dân tộc không chỉ là một di sản để giữ gìn, đó là một dự án tự thân, được con người tự chủ tác tạo giữa những đứt gãy khốc liệt của thời đại.

Sự tiên phong của Nguyên Ngọc hiện thân qua bản lĩnh truy vấn những câu hỏi nền tảng nhất ngay giữa thời điểm xã hội bị cuốn phăng vào những dòng xoáy của chủ nghĩa hiện đại hóa thực dụng, nơi các giá trị nhân văn thường bị xem là thứ yếu trước các chỉ số tăng trưởng. Ở vị thế một trí thức dấn thân, ông quyết liệt khước từ những giải pháp giản đơn mang tính xoa dịu cho những nan đề phức tạp của dân tộc, bởi ông hiểu rằng mọi sự phát triển thiếu vắng nền tảng văn hóa đều dẫn đến sự băng hoại bản thể. Sự chuyển dịch trong văn nghiệp của ông, từ những khúc tráng ca sử thi rực rỡ mang tính biểu tượng của một thời đại lí tưởng chung sang những trang văn hiện thực tâm lí trĩu nặng, thực chất là một cuộc lột xác đầy đau đớn về mặt nhận thức của một con người dám đi tận cùng sự thật. Đó không phải chỉ là sự thay đổi bút pháp hay kĩ thuật viết mà là hành trình tự phẫu thuật tư tưởng của một trí thức dám xét lại, người chấp nhận bước ra khỏi hào quang của những tự sự khải hoàn để đối diện với thực tại trần trụi và những góc khuất u tối của thân phận con người hậu chiến. Nguyên Ngọc không chọn cách thỏa hiệp với sự lãng quên; ông chọn cách đối thoại với nỗi đau, xem đó là chất liệu duy nhất để hàn gắn lại một căn tính đã bị rạn nứt bởi các biến động dữ dội của lịch sử. Hành trình này đòi hỏi một bản lĩnh thượng thừa vì nó bắt người trí thức phải thừa nhận những giới hạn của chính mình và của thời đại mình đã đi qua, từ đó kiến tạo nên một không gian tư duy mới, nơi sự thật không còn là một khái niệm bất biến mà là một quá trình tìm kiếm không ngừng nghỉ.

Việc Nguyên Ngọc soi chiếu vào thế giới nghệ thuật của Marguerite Duras hay Haruki Murakami vượt xa một thực hành phê bình văn học ngoại biên thông thường. Đó thực chất là cuộc truy vấn những chìa khóa triết học nhằm giải mã thân phận con người giữa kỉ nguyên của sự bất ổn và nỗi cô độc toàn cầu. Trong sự im lặng khắc khoải của các nhân vật Duras, nơi ngôn ngữ dường như bất lực trước sự trống rỗng của tâm hồn hay nỗi cô độc rệu rã của con người đô thị trong các tác phẩm của Murakami, Nguyên Ngọc nhận ra sự tương đồng về bản thể với con người Việt Nam đương đại đang loay hoay giữa các giá trị cũ và mới. Ông nhìn bằng đôi mắt thấu thị thực trạng của những thực thể đang lạc lối giữa khoảng chân không văn hóa, bị bủa vây bởi các hình thái tiêu thụ hàng hóa nhưng lại thiếu vắng một điểm tựa tâm linh thực sự. Nỗ lực của ông là dùng tri thức để vá víu lại những đứt gãy này bằng lòng chân thành không thỏa hiệp, khẳng định rằng chỉ có sự đối diện thành thực với nỗi cô độc mới có thể giúp con người tìm lại chính mình. Tầm vóc văn hóa toàn cầu của Nguyên Ngọc khẳng định qua các nỗ lực kiên nhẫn trong việc thúc đẩy đối thoại quốc tế khi ông định nghĩa lại Việt Nam từ một danh từ gắn liền với kí ức chiến tranh thành một thực thể văn hóa giàu nội lực, đang vận động mãnh liệt trong dòng chảy nhân loại. Ông kiên trì giới thiệu một cộng đồng khao khát đối thoại, mưu cầu sự thấu cảm bằng ngôn ngữ chung của nghệ thuật và các giá trị nhân bản phổ quát. Hành trình xuyên suốt từ thời cầm súng nơi đại ngàn Tây Nguyên đến những năm tháng viết về giáo dục khai phóng cho thấy sự nhất quán triệt để trong niềm tin vào sức mạnh của giáo dục như công cụ giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc tư duy. Với ông, giáo dục thực sự là quá trình đánh thức bản lĩnh, kích hoạt sự hoài nghi lành mạnh và năng lực tự quyết trước mọi hệ giáo điều sẵn có. Ông xác lập giáo dục và văn hóa như hai mặt của một đồng xu, lấy sự tự do của cá nhân làm bảo chứng cao nhất cho sự trường tồn của dân tộc. Chính khả năng đặt ra những câu hỏi mở cùng thái độ sẵn lòng đối diện với các nghịch lí thời đại đã tạo nên sức nặng cho tiếng nói của một “người canh giữ” tâm linh dân tộc. Ông lựa chọn canh giữ quá khứ bằng cách biến nó thành nguồn năng lượng sống động cho hiện tại, bảo vệ nhân cách quốc gia trước sức nghiền nát của các lực lượng toàn cầu hóa thô bạo. Giá trị của Nguyên Ngọc vươn xa khỏi khuôn khổ của một tác gia để trở thành một phần thiết yếu trong cuộc thảo luận chung của nhân loại về tự do, bản sắc và sự phát triển bền vững. Tiếng nói ấy chứng minh rằng một trí thức lớn có khả năng thay đổi cục diện tư duy của cả một nền văn hóa khi họ chọn sống và viết bằng sự trung thực tuyệt đối với lương tri.

Sự nhất quán này dẫn dắt chúng ta đến chiều kích khác trong tư duy của Nguyên Ngọc khi coi văn hóa là một hệ sinh thái tự do thay vì một di sản đóng băng. Trong các tiểu luận về giáo dục, ông thực hiện một cuộc giải phẫu tư duy khi nhìn nhận tri thức chỉ là phương tiện, còn mục đích tối thượng phải là sự trưởng thành của bản thể cá nhân. Điều này giải thích vì sao ông dành sự ưu tiên đặc biệt cho những giá trị văn hóa Tây Nguyên, nơi con người chung sống hài hòa với thiên nhiên và cộng đồng bằng một đức tin thuần khiết, chưa bị hoen ố bởi các logic kinh tế thực dụng. Việc bảo vệ không gian sinh tồn của người Thượng thực chất là bảo vệ một mẫu hình nhân bản đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt. Khi ông phê phán các dự án kinh tế thô bạo, ông đang bảo vệ quyền được sống “trong văn hóa” của con người, một khái niệm cao hơn nhiều so với việc chỉ tồn tại về mặt sinh học. Phản kháng của Nguyên Ngọc vì vậy mang tính tư tưởng và tiên tri, cảnh báo về một tương lai mà con người sẽ trở nên trống rỗng nếu bị bật gốc khỏi các hệ giá trị tinh thần cốt lõi.

Đi sâu hơn vào mối tương quan giữa phản tư và dấn thân, có thể thấy Nguyên Ngọc là mẫu trí thức không ngừng tự vượt qua chính mình. Mỗi tác phẩm, mỗi bài viết sau này đều là một nỗ lực nhằm vá víu lại những đứt gãy giữa lí tưởng sử thi và thực tại tâm lí phức tạp. Ông nhìn ra trong sự im lặng của Duras hay nỗi cô độc của Murakami những mã gien của con người hiện đại, từ đó kiến tạo một nhịp cầu nối liền tâm thế Việt Nam với những trăn trở mang tính toàn cầu. Sự sâu sắc của ông nằm ở chỗ không bao giờ chấp nhận những thực tại tĩnh tại; ông luôn đặt mọi giá trị trong trạng thái vận động, tranh biện và không ngừng tiến hóa. Tầm vóc của ông hiện diện rõ rệt nhất khi ông dám đối diện với những nghịch lí của chính lịch sử mà mình từng là một phần kiến tạo để từ đó mở ra một lối đi mới cho những thế hệ sau. Tiếng nói Nguyên Ngọc, do đó, luôn tươi mới bởi nó được nuôi dưỡng bằng tinh thần hoài nghi khoa học cùng một tình yêu sâu thẳm đối với con người, biến ông thành một biểu tượng lớn của tinh thần tự do tư tưởng và phẩm giá trí thức trong một thế giới đầy biến thiên.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.