Truyện ngắn Đặng Chương Ngạn
“Hôm nay, ông ấy về thăm tôi, ông giáo ạ. Ông ấy ngồi ở đó, chỗ cái ghế gỗ kia rất lâu. Rồi bà hàng xóm qua hỏi xin khế về nấu canh chua cá ngạnh. Khi tôi nhìn lại, ông ấy đã rời đi từ lúc nào…”.
Khi ấy, tôi nghĩ bà cụ nói về người chồng của mình. Người chồng đã mất năm năm trước: Có lẽ bà cụ nhìn thấy hình bóng ông ấy trở về chăng?
Mấy bữa sau, bà cụ lại bảo tôi:
“Ông ấy chiều qua lại về, ông giáo ạ. Ông ấy bò vào nhà, loanh quanh một vòng quanh bếp lửa rồi lại ra đi.”
Tôi buột miệng hỏi:
“Sao không giữ ông ấy lại?”
“Làm sao giữ người ta được. Người ta thích về thì về, thích đi thì đi thôi… Có bữa, ông ấy leo lên cái kèo gỗ kia, nằm đấy cả buổi chiều.”
Lúc ấy tôi mới biết bà nói về con rắn hổ chúa.
***
Năm đó, tôi nhận làm chuyên gia cho một công ty cầu ở Vũ Gia. Họ đang thi công một cây cầu bê tông dự ứng lực bắc qua con sông chảy giữa vùng đồi trung du.
Đây là một công trình lớn ở khu vực này, kết nối vùng quê heo hút với thị trấn trung tâm bên kia sông. Công ty cầu thuê cho tôi một ngôi nhà của vợ chồng trẻ trong làng. Ngôi nhà khá khang trang ở vùng nông thôn. Họ xây nhà xong lại lên thành phố làm việc, đóng cửa lại nhờ người bà con ở quê trông hộ.
Công việc của tôi khá chủ động về thời gian. Vài ngày tôi mới ra công trường kiểm tra tiến độ thi công, hoặc theo yêu cầu của họ, tôi có mặt để hướng dẫn một số công đoạn liên quan đến kỹ thuật gia công dầm bê tông cốt thép dự ứng lực. Thời gian còn lại tôi ngồi đọc sách, hoặc đi dạo trong làng.
Tôi chú ý đến ngôi nhà nhỏ của bà cụ vì nó nằm ngay bên con đường đi xuống bãi đúc dầm cầu. Một ngôi nhà hai gian mái ngói, vách xây gạch thô, nằm trong mảnh vườn nhỏ có mấy cây đu đủ, chanh, cam và vài luống rau. Đặc biệt, nhô lên trên mái ngói ở vườn sau nhà một vòm lá khế chi chít quả, nhiều quả chín vàng. Người qua đường nhìn vào thèm chảy nước miếng. Sau này, tôi mới biết, cây khế ấy cung cấp cho gần hết làng nấu món canh chua.
Bà cụ ngoài chín mươi, tóc gần như bạc trắng, người mảnh như thân lúa lép. Tôi thường thấy cụ bà chăm sóc mảnh vườn hay ngồi sưởi nắng trước mái hiên.
Hỏi chuyện dân làng, tôi biết cụ sống một mình. Chồng cụ mất đã năm năm. Hai cụ có năm người con, họ đều ở thành phố, chỉ thỉnh thoảng mới ghé về dịp lễ tết. Mấy năm gần đây, các con cụ ít về, nhất là sau đám tang ông cụ.
Một hôm gặp bà cụ ngoài đường, trời dông mạnh. Sợ cụ ngã, tôi dìu cụ về nhà.
Đó là lần đầu tiên tôi bước vào ngôi nhà nhỏ ấy.
Không gian bày biện rất đơn giản. Gian chính có một chiếc tủ thờ, trên đó có di ảnh ông cụ và bát nhang. Chiếc giường ngủ kê ở gian trong, sát bên là bếp củi kiểu nhà quê với cái chạn bếp nhỏ. Trong nhà chỉ có ba chiếc ghế đẩu bằng gỗ.
Trên bức tường gạch treo một khung ảnh lớn, chi chít ảnh lớn nhỏ, nhiều tấm chồng lên nhau. Nhìn qua cũng biết đó là ảnh con cháu của cụ. Ở góc khung ảnh là tấm hình nhỏ bằng bàn tay của cụ ông, in ra từ ảnh thờ: một người đàn ông hiền lành, đeo kính lão, dáng dấp một ông giáo làng.
Cụ khoe vườn có rau thơm, ớt, khế:
“Ông cần gì cứ lấy.”
Tôi nói với cụ:
“Con có hết rồi. Con đặt cơm bếp công trường, đến bữa họ mang đến, không thiếu thứ gì. Cho con xin vài quả ớt thôi.”
Ớt của cụ rất cay. Cay xé cả lưỡi!
Từ đó, tôi lấy cớ ghé xin mấy quả ớt để được ngồi chuyện trò với cụ.
***
“Lần đầu tiên tôi thấy ông hiện về trong hình dạng ấy là vào buổi chiều tôi ra tổ mộ, ông giáo ạ!” – bà cụ nghĩ tôi làm nghề dạy học nên cứ gọi vậy.
“Hôm đó tôi ra thăm mộ. Cỏ dại đã bò lan trên mặt đất. Cái thứ cỏ chỉ chúng bò nhanh lắm ông giáo ạ. Tôi còn chưa kịp cúi xuống dọn cỏ, nhìn lên mộ, đã thấy ông ấy ở đó. Thân ông ấy màu đen, có đoạn vàng sẫm, lưng có mấy vạch màu vàng.
Ông nằm ngay chỗ huyệt nhãn – cái ô đất trống người thợ chừa lại, không đổ bê tông, chỉ rải mấy viên đá trắng lên trên. Người ta bảo đó là chỗ để mộ “thở”, để đất, trời và người trong mộ còn thông với nhau. Ông nằm cuộn tròn trên đó. Tôi khựng lại một lúc. Rồi lấy một cành cây khô khẽ đuổi. Ông ấy không đi. Cái đầu hơi nhấc lên, hướng về phía tôi, im lặng nhìn.
Tôi cúi xuống nhổ cỏ, nhặt lá khô, lau sạch mặt gạch. Làm việc lặng lẽ như mọi lần tôi vẫn làm. Đến khi thắp hương xong, quay lại, ông ấy vẫn còn ở đó. Tôi nhìn một lúc rồi nghĩ: Ừ, đúng là ông ấy rồi.”
Bà cụ kể lần đầu gặp con rắn hổ chúa khi tôi tò mò hỏi. Bà nói về con rắn như nói về một con người.
“Tôi ngồi bệt xuống nền gạch trước mộ. Tôi nói chuyện với ông, như ngày trước hai vợ chồng vẫn ngồi ngoài hiên nói với nhau những chuyện không đâu.”
“Ông đi cũng bốn năm rồi đấy. Tôi nhớ ông lắm!”
“Bây giờ trong cái nhà của mình chỉ còn một mình tôi cũng buồn lắm. Con cái mỗi đứa một nơi. Tết mới về được mấy hôm rồi lại đi. Năm ông mất còn đông đủ. Mấy năm gần đây, mỗi năm chỉ có một đứa về. Hình như chúng phân công nhau vậy. Năm nay đứa này, năm sau đứa khác.”
“Chẳng đứa nào mời tôi ra thành phố sống với chúng cả. Mà ngày trước ông còn nhớ không, mình vẫn nói với nhau: nếu lỡ một người đi trước, người còn lại sẽ theo con cháu. Nhưng chúng không nói, tôi cũng đâu thể tự đi được.”
“Có lẽ nhà chúng trên phố chật chội quá. Như thằng Nam thì còn ở phòng thuê. Nó bảo đang gom tiền mua một căn hộ.”
“Mà thôi… dù chúng có mời, chắc tôi cũng không đi đâu. Tôi đi rồi, ai ra thăm ông. Ai thắp hương cho ông.”
Tôi cứ nói như vậy. Nói một thôi một hồi. Những chuyện lớn nhỏ trong nhà, chuyện cây khế sau vườn năm nay nhiều trái, chuyện bọn trẻ chúng cư tự tiện vào vườn hái khế không hỏi xin một câu, chuyện cái mái hiên dột mỗi khi mưa. Ông ấy vẫn nằm đó, im lặng nghe. Cái đầu thỉnh thoảng khẽ nhích, quay qua phải, qua trái, nhưng không hề rời đi.
Trời đã tối, nghĩa địa không còn một bóng người, tôi đành đứng dậy, phủi tay, thắp thêm một nén hương rồi ra về.”
Bà cụ thở dài, nhìn ra xa, như đang mơ màng nhớ về cuộc gặp mặt với ông cụ. Tôi khẽ khàng:
“Những lần lên mộ sau, cụ có gặp ông ấy không?”
Bà cụ buồn bã lắc đầu:
“Chỉ lần đó thôi. Tôi không bao giờ còn gặp ông ấy ở mộ. Nhưng, thỉnh thoảng ông ấy lại ghé về thăm tôi. Đấy! Như cái lần ông ấy về ngồi ở kia (bà cụ chỉ vào cái ghế gỗ góc nhà) mà tôi đã kể cho ông giáo nghe lần trước.
Thật ra, nhiều lúc tôi vẫn mong ông trở về theo một cách khác. Như một con bướm lượn qua gian nhà, đậu lên bậu cửa. Hay một con chim nhỏ ríu rít ngoài hiên mỗi đầu hè. Nhưng biết làm sao được. Ông ấy lại chọn hiện thân trong một con rắn hổ.”
***
Ít lâu sau, tôi nghe phong thanh người làng nói rằng bà sắp ra thành phố ở với con trai cả. Cây cầu khánh thành, tôi phải trở về công ty nhận nhiệm vụ mới, nên ghé qua chào bà cụ trước khi đi.
“Nghe nói cụ sắp lên thành phố với con trai?”
Bà cụ khẽ gật đầu, giọng buồn buồn:
“Đúng là có dự định đó… nhưng chưa đi ông giáo ạ.”
“Sao vậy cụ? Đến lúc cụ nên có các con bên cạnh, lỡ khi trái gió trở trời…”
Bà cụ chép miệng:
“Đúng là vậy. Hôm kia tôi bị cảm. May có bà cụ Tam ghé qua, không thì có khi nay chẳng còn ngồi đây nói chuyện với ông giáo nữa. Bà cụ Tam gọi người đưa tôi ra viện. Nằm mấy ngày đấy ông giáo ạ. May tôi trên chín mươi tuổi, nhà nước có chế độ bảo vệ cho người già, không thì cũng tốn một mớ tiền.”
Tôi đính chính lời cụ:
“À, đó là chế độ bảo hiểm cho người cao tuổi cụ ạ. Nhưng sao cụ lại không lên thành phố?”
Bà cụ thở dài:
“Thằng cả định bán căn nhà này, cơi thêm một tầng nhà trên phố rồi đưa tôi lên ở với vợ chồng nó. Nhưng mấy đứa kia không chịu. Theo chúng thì trách nhiệm nuôi mẹ là của anh cả, còn căn nhà này nếu bán thì phải chia đều cho anh em… Thằng cả lại không đồng ý như vậy. Chắc chúng còn phải bàn lại chuyện căn nhà ông giáo ạ.”
Tôi hiểu ra phần nào câu chuyện.
Lễ khánh thành cầu, công ty phát cho mỗi người một hộp bánh. Tôi mang hộp bánh ấy biếu bà cụ làm chút quà chia tay.
Bà cảm ơn mãi. Khi tôi đứng dậy ra về, bà vẫn giữ chặt tay tôi một lúc lâu, như không muốn buông ra.
***
Ba năm sau, có việc qua Vũ Gia tôi ghé thăm cụ. Ghé thôi chứ tôi tin cụ đã theo con cháu… Nhưng xe vừa lên dốc, tôi đã thấy cụ ngồi phơi nắng trên chiếc ghế gỗ trước hiên nhà. Lưng cụ còng xuống thêm, tóc bạc trắng như cước.
Mấy anh em bàn mãi thống nhất bán nhà chia năm phần. Đứa con cả hai phần, ba đứa em trai một đứa một phần. Nhưng lần này, lại vướng cô con gái út, nó không chịu, nó bảo nó là gái cũng phải có phần, con nào cũng là con, mà chăm mẹ có khi nó chăm nhiều hơn cả mấy anh trai. Cái đó đúng ông giáo ạ, mấy anh nó đi lên phố, nó vẫn ở đây chăm ông bà tôi cho đến khi lấy chồng…
“Tôi thấy gay quá, ông giáo ạ. Cái nhà này mà bán đi, chia xong tiền nhà thì anh em nó cũng sẽ tan đàn sẻ nghé, không khi nào chúng còn gặp nhau nữa. Tôi bảo chúng mẹ không đi đâu cả. Mẹ giữ căn nhà làm nhà thờ. Hàng năm ngày giỗ, tết, các con về đây thắp hương…”.
“Thế các anh chị thường xuyên về thăm cụ không?”
Giọng bà cụ chùng xuống, âm thanh như bị nghẹn trong cổ:
“Không ông giáo ạ. Sau đận ấy, cả ngày tết cũng không đứa nào về thăm tôi. Chỉ có ông ấy đôi khi vẫn ghé về thôi… Nhưng một năm nay, ông ấy cũng không về nữa!”
Tôi an ủi cụ:
“Ông ấy mất hơn mười năm rồi. Có khi ông ấy đã hóa thân ở khiếp khác rồi cụ ạ!”
Cụ bà lắc đầu khi nghe tôi nói vậy:
“Không ông ấy vẫn ở đây mà không dám về!”
Cụ chỉ qua mấy ngôi nhà mới xây quanh đấy!
“Họ mua đất xây nhà, họ dọn sạch cây cỏ xung quanh nhà, ông ấy không còn lối về nữa!”
Chính cây cầu chúng tôi xây đã làm vùng đất này thay đổi rất nhanh.
Con đường đất dẫn vào làng được trải bê tông. Những chiếc xe tải chở vật liệu chạy suốt ngày như phát rồ. Người ở thị trấn kéo sang mua đất. Những mảnh vườn dần biến thành nền nhà. Bụi tre bị chặt, bờ rào dâm bụt biến mất, những bờ cỏ nơi lũ rắn thường bò qua cũng không còn.
Tôi nhìn ra xung quanh nhận rõ điều đó.
***
Hai năm sau, tôi gặp một kỹ sư cầu tại ngay phòng thiết kế của công ty tư vấn. Tôi nhớ ra anh ta là người làng Vũ Gia, liền hỏi thăm bà cụ.
“Bà ấy mất năm trước rồi anh ạ! Con cụ không về kịp người trong họ lo mồ mả cho cụ.”
Tôi lấy làm tiếc:
“Không còn dịp gặp lại cụ. Xưa ở Vũ Gia cụ là bạn tôi đấy! Mà cụ cũng hơn trăm tuổi rồi…”
“Vâng, cụ hơn trăm tuổi vẫn còn minh mẫn, vẫn làm vườn được… Cụ mất không phải vì tuổi già. Cụ bị rắn cắn! Một con rắn hổ chúa!”
“Con rắn hổ chúa.”
“Người làng kể rằng thỉnh thoảng họ thấy bà cụ chống gậy đi ra phía rìa làng, nơi còn có những bờ cây, tiếp giáp với cánh đồng. Bà ra đó ngồi rất lâu như đang chờ ai. Hóa ra, cụ rình bắt rắn. Ai đời, tay không mà cụ dám vồ bắt rắn hổ chúa. Bọn trẻ chăn trâu, thấy cụ cứ đưa tay về phía con rắn hổ, chạy tới can cụ. Nhưng không kịp, con rắn hổ chúa đã mổ vào tay cụ. Mang đi cấp cứu không kịp!”
Tôi lặng đi rất lâu, rồi nói với người kỹ sư:
“Không phải cụ vồ con rắn đâu. Cụ nói chuyện với ông cụ đấy!”
Người kỹ sư nhìn tôi ngơ ngác:
“Ông cụ nào! Chồng bà mất chục năm trước rồi. Con rắn hổ chúa đó có mào đỏ. Rất độc!”
Tôi không biết nói gì nữa!
Tham Lai, tết 2026.