Đinh Thanh Huyền
Tôi và anh đã từng gặp nhau hai lần, một lần ở Tây Nguyên, một lần ở Hà Nội. Hai cuộc gặp đều dễ chịu nhưng nhạt vì chúng ta không phải bạn thân, chẳng có nhiều điều để nói. Vậy nên tôi càng thấy sự ương ngạnh của mình là đúng. Đừng nên gặp nhà thơ, chỉ nên đọc thơ mà thôi. Thơ sẽ cho chúng ta nhiều điều để nghĩ và nói cùng nhau trong im lặng. Anh viết xong và rời đi, để lại tôi – đọc với bao nhiêu là câu hỏi – không thể hỏi ai. Giống như lúc này, tôi nhìn vào trang Facebook của anh, vào bài thơ Mẹ và màu trắng vừa hiện ra.
Anh biết đấy, tôi là phụ nữ, và như hầu hết phụ nữ, sự quan tâm đến chính trị của tôi khá hạn chế. Nhưng khi tôi đọc, nhất là những tác phẩm được viết ra từ một sự kiện chính trị cụ thể, tôi muốn được thấy điểm nhìn của nhà văn một cách minh bạch, dũng cảm. Tôi cực ghét những ai mượn màu chính trị để tìm kiếm sự đồng cảm của công chúng nhưng lại lươn lẹo né tránh nguồn gốc vấn đề hòng thoát khỏi kiểm duyệt. Thói “đi hai hàng” đó thật không thể chấp nhận. Mấy hôm trước, tôi đọc Người tình phu nhân sư trưởng của Diêm Liên Khoa. Những gì mà ông ấy viết quả thực đáng để cho một người đọc nhỏ bé như tôi cúi đầu cảm phục. Dũng khí của nhà văn khi chạm đến những chủ đề có thể giết chết ông ta theo nhiều nghĩa cho thấy văn chương không phải là thứ trò chơi nhợt nhạt. Nó là tiếng nói dũng mãnh từ nỗi đau đớn của nhân phẩm bị đày đọa, của tình người phải ngụp lặn mà sống sót, của sự trung thực bị bóp nghẹt.
Chính trị là con quái vật đói khát, nó cuốn chúng ta vào những tranh đấu quyết liệt, kích hoạt sân hận, bào mòn năng lượng. Toàn bộ cuộc sống của chúng ta là chính trị, văn chương cũng thế. Nhưng văn chương là chính trị siêu việt, nó là thứ ánh sáng có thể xuyên qua rừng rậm mịt mùng của chính-trị-ngoài-đời, xẻ ra một lối để người viết/đọc nhìn thấy điều gì đó vượt lên/qua/ngoài sự kiện. Nó khiến chúng ta cười, khóc – không phải vì chuyện đã xảy ra – mà vì những mất mát, hao hụt, bồi đắp khó tưởng tượng nổi sau sự kiện. Một tác phẩm bị cắt rời khỏi bối cảnh của nó thì sẽ chỉ còn là lá rụng, nhưng nệ vào nghĩa đen của sự kiện thì lại là ám dụ sơ đẳng. Tôi đọc anh và thấy dường như anh giải quyết khó khăn đó bằng một trực giác nghệ thuật hiếm có.
Khi đọc Mẹ và màu trắng, anh biết tôi bị ấn tượng mạnh ở đâu không? Ở cái cách anh “nhét” vào bài thơ cuộc gặp trái ngang của “tôi” và những người khác. Những người từng ở nhiều bên của chính trị và văn chương, những người nói bằng tiếng của đối lập thời đại. Dẫu thời đại ấy từng khiến bao người không thèm nhìn mặt nhau thì cuối cùng vẫn phải là “thôi về nhà ăn cơm”:
tôi gặp anh Xuân tựa trên xác trực thăng
anh Lan tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
anh Tử ai mua trăng tôi bán trăng
cho anh Vũ mặt buồn như sỏi
dưới hang sâu, “tụi mình không có
bom nguyên tử, chỉ có thuốc lào hút với nhau”
“ta về một bóng trên đường lớn”
thôi về nhà ăn cơm
Nhưng đây không phải là cuộc trở về đầy toan tính của chính trị. Đó là cuộc trở về bằng những tra vấn về bản chất thù nghịch hay sự khao khát khôn nguôi trong hi vọng và tuyệt vọng:
đường về nhà theo ánh sáng
trắng soi những bóng người
như tứ thơ xiêu tán
màu trắng hoang đường trắng lãng quên
những nhà thơ chiêm ngưỡng mặt trăng
dường như đang nổ
tung
như súng
cối
Thơ của anh không thể đọc từng dòng, không thể nhẩn nha thưởng thức chữ nghĩa bởi anh không “làm chữ”. Đó là điều tạo nên sự sung sướng của tôi khi không phải đụng đầu vào những con chữ như nghiến răng nghiến lợi, vặn vẹo, phồng má trợn mắt, rên rẩm trong thơ. Chữ của anh bình thường như phải thế. Nó mang trong mình một đoạn hành trình của “màu trắng”. Cái màu trắng kì lạ với rất nhiều diện mạo, có khi chính là tôi, một bóng tối màu trắng lang thang tìm lối về, có khi là mẹ con gái ơi bà nội đã thành màu trắng/ như mây trên trời, có lúc là lưỡi dao màu trắng , là một cánh đồng mây trắng một cỗ quan tài đá trắng, là căn phòng đá cẩm thạch, bông hoa trắng, cỗ quan tài trắng, trang vở trắng, con thiên nga trắng, những bóng màu trắng, nến, giấc mơ màu trắng, giác quan màu trắng. Màu trắng như một sinh vật biến hình liên tục ở mỗi vật, mỗi người mà “tôi” chạm tới. Và màu trắng chính là thứ làm cho mọi chiều cuộc sống quanh Mẹ nổi rõ hình hài, màu sắc, cũng làm nổi rõ những chấn thương khi mờ khi tỏ quanh cuộc sống của “tôi”. Không có màu trắng ấy, không ai thấy được chiếc mũ trùm đầu màu đen/ của những người đi treo cổ bài thơ, không ai nghe được lời khẩn cầu: những thiếu phụ nam xương màu đen/ hãy ngưng lặp lại như một con vẹt, không ai biết lọn tóc xám run rẩy ánh hoàng hôn/ tôi thấy cỏ và biển/ cùng một màu xanh. Không có màu trắng ấy, sẽ không có giây phút:
tôi không về nhà
mà về phía những điều đã mất
một đám mây rất thấp
đi qua những gương mặt
đã từng gọi tên tôi
như một người sống sót
những cánh đồng cỏ mọc trong trí nhớ
xanh mà tôi không sao nhìn thấy mẹ
Tôi thật sự không có ý định giải mã màu trắng trong bài thơ này. Tôi chỉ muốn xem nó dẫn bài thơ đi đến đâu khi lang bạt trên cánh đồng hoang lạnh của sự giày vò. Một người thấy trận chiến đã qua và chưa thể qua khi nó ẩn trong từng thớ thịt đường gân con người sẽ viết như thế nào? Viết ra sao để bài thơ không phải là nước mắt khổ ải, cũng không phải thù hận giấu kín, không phải là lời an ủi bẻm mép và không phải là biện chứng luận thô thiển của thông điệp. Tôi tìm được điều đó khi anh viết:
trận chiến đã mờ với đá cẩm thạch
và với nến. Màu trắng của mẹ
được làm bằng gì? Mẹ về như giấc mơ thần bí
những chú chim câu và bài thơ
như bài thánh ca lúc mọi người tập trung bên ngoài nhà thờ
Trên con đường màu trắng đi qua là những gì mang màu của máu, nước mắt đã từng rơi, từng ngấm vào đất, vào cả giấc mơ và ngôn ngữ. Nó mang theo cả nỗi sợ, lòng dũng cảm. Nó lặng lẽ đi vào lời nói ngây thơ mà như minh triết của đứa nhỏ:
tôi nhìn con gái tôi
con gái ơi bà nội đã thành màu trắng
như mây trên trời
con gái tôi kể lại:
– khoảng cách giữa chúng ta quá nhỏ
nên bà nội không muốn
Vậy đó, Mẹ và màu trắng trong những ngày này giúp tôi, một lần nữa tin rằng thơ không thể ra khỏi chính trị, nhưng thơ phải là chính trị của chính nó chứ không của ngoại lực.
Hà Nội, 30/4/2026