Bước ngoặt vai trò của Bộ Ngoại giao ở Việt Nam (kỳ 1)

Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran

Người dịch: Phan Văn Song

Lời giới thiệu

Mười năm sau khi Hoa Kì kết thúc việc can dự vào Chiến tranh Việt Nam, một viên chức ngoại giao chuyên nghiệp, Thomas J. Corcoran, đã ghi lại những suy nghĩ của mình về lịch sử chính sách của Bộ Ngoại giao Hoa Kì trong suốt thời gian quốc gia này can dự vào cuộc chiến ở Nam Việt Nam. Ông đã viết ra một bản thảo chu đáo, khách quan, công bằng và có nghiên cứu kĩ lưỡng, theo trình tự thời gian các quyết sách quan trọng được các nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta đưa ra, cuối cùng dẫn đến cuộc chiến đầu tiên mà quốc gia chúng ta bị thua. Với vai trò là một đại sứ và với hơn 30 năm kinh nghiệm ngoại giao, bắt đầu từ năm 1950 khi được bổ nhiệm đến Hà Nội và tham gia các nhiệm vụ khác ở Đông Nam Á, ông đã mang vào phân tích của mình kinh nghiệm cá nhân lâu dài và phong phú về các sự kiện ở Lào, Cambodia (Campuchia) và Việt Nam. Giống như nhiều người Mĩ cùng thế hệ, ông đã rất băn khoăn về sự thất bại của Hoa Kì trong việc đạt được các mục tiêu của mình ở Nam Việt Nam và vì vậy ông đã bắt đầu một nghiên cứu sâu rộng về lí do tại sao chúng ta lại đưa ra những quyết định dẫn đến cuộc chiến thất bại đầu tiên trong lịch sử của chúng ta. Tác phẩm của ông kể về vai trò của Bộ Ngoại giao Hoa Kì trong suốt giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975.

Đối với những người mong muốn đọc một câu chuyện ăn khớp với lịch sử “chính thống” hay “truyền thống” về việc Hoa Kì can dự vào Chiến tranh Việt Nam, họ sẽ vô cùng thất vọng vì Corcoran đã làm rất tốt việc phô lộ nhiều huyền thoại và sai lầm trong những cách diễn giải này, nhiều trong số đó vẫn được một số nhà sử học có ảnh hưởng coi là bất khả xâm phạm. Thật không may, cách diễn giải “chính thống” về cuộc chiến, một cách diễn giải cho rằng sự can dự của Mĩ mang ý đồ xấu và chỉ trích gay gắt đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta, cũng như mô tả cuộc chiến là “không thể thắng”, sẽ không tìm ra bất kì bằng chứng nào trong tác phẩm của Corcoran để hậu thuẫn cho những khẳng định như vậy. Những khẳng định sai lầm này vẫn còn phổ biến trong nhiều tài liệu về cuộc chiến và chúng đã gây ra thiệt hại lâu dài cho uy tín của Hoa Kì và khả năng xây dựng các chiến lược quốc gia hiệu quả để đối phó với sự xâm lược.

Các chủ đề chính của cuốn sách nằm ở trang đầu và trang cuối. Ở trang đầu tiên, ông trích dẫn lời một nhà phê bình cuốn hồi kí Memoirs của Tổng thống Nixon: “thật dễ dàng để vẽ nên một bức tranh về những âm mưu kiểu Machiavelli, trong khi cũng dễ dàng và chắc chắn cũng công bằng không kém, để vẽ nên một bức tranh về những người đàn ông bối rối đang cố tìm ra giải pháp cho một tình huống khó.” Điều ông muốn truyền tải là ý kiến của ông, trong khi không dung thứ lỗi lầm của những người ra quyết định ở Mĩ, rằng một phân tích cẩn thận về các sự kiện diễn ra vào thời điểm các quyết định được xem xét cho thấy rằng những sai lầm phạm phải trong chính sách là do những người có thiện chí và thông minh, nhưng họ lại thiếu thông tin trầm trọng hoặc thông tin tồi khi những quyết định đó được đưa ra.

Ở trang cuối cùng, Đại sứ Corcoran tóm tắt tình thế lưỡng nan mà các nhà lãnh đạo Mĩ phải đối mặt, từ Truman đến Nixon, qua việc chỉ ra lí do tại sao các quyết định được đưa ra lại sai lầm và cuối cùng dẫn đến thất bại của quốc gia chúng ta. Ông trích dẫn đánh giá của Henry Kissinger: “… không chính sách nào có thể thành công nếu không có sự ủng hộ của dư luận quốc gia.” Mặc dù nhiều người có thể coi quan điểm này là đơn giản và mang tính vị kỉ, nhưng nó lặp lại lời cảnh báo của Carl Von Clausewitz rằng để bất kì chính sách chiến tranh nào thành công, nó cần sự ủng hộ của chính phủ, quân đội và người dân. Về mặt này, khó có thể lập luận rằng các nhà lãnh đạo của chúng ta đã thành công trong việc liên kết 3 thành phần xã hội này để hậu thuẫn cuộc chiến. Sự chia rẽ này, thể hiện rõ trong mọi cân nhắc chính sách được đại sứ Corcoran nêu ra, đã dẫn đến những quyết định không nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ bất kì thành phần nào trong 3 thành phần then chốt của xã hội và thường bị phản đối hoặc phá hoại bởi các lợi ích quan liêu hoặc ý thức hệ trong 3 thành phần này.

Cuốn sách được chia thành 4 phần theo trình tự thời gian, bắt đầu từ năm 1945 và kết thúc vào năm 1975. Trong Phần I, Khởi đầu (1945-1954), Corcoran xem xét các cuộc tranh luận chính sách trong chính quyền Truman và Eisenhower liên quan đến cuộc xung đột giữa Pháp và Việt Minh. Tác giả giải thích những căng thẳng giữa mong muốn của Pháp trong việc tái lập quyền kiểm soát đối với thuộc địa Việt Nam sau Thế chiến II và lập trường chống thực dân của Hoa Kì, đồng thời chỉ ra cách những căng thẳng này trở nên trầm trọng hơn do nỗi lo sợ về sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, sự thành công của phe cộng sản ở Trung Quốc năm 1949 và Chiến tranh Triều Tiên. Corcoran cho chúng ta biết rằng các nhà hoạch định chính sách của Mĩ ngay từ đầu đã nhận thức rõ ràng rằng Hồ Chí Minh không phải là một nhà dân tộc chủ nghĩa lí tưởng như nhiều nhà sử học thường miêu tả, mà là một đảng viên Cộng sản Quốc tế (Comintern) và là thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp từng đã sát hại tàn nhẫn và có hệ thống hoặc tiết lộ những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam không cộng sản khác cho các cơ quan an ninh Pháp.

Với thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954, Mĩ rơi vào tình thế vô cùng khó xử khi việc Pháp rút khỏi Đông Dương tạo ra một khoảng trống quyền lực chỉ có lợi cho phe cộng sản và đe dọa một số quốc gia Đông Nam Á khác đang phải đối mặt với các cuộc nổi dậy do cộng sản lãnh đạo. Ông cũng chỉ ra rằng, “Hiệp định Geneva không chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, cũng không áp đặt các giải pháp chính trị hay lãnh thổ. Trên thực tế, chúng là thỏa thuận ngừng bắn.” Ông nhấn mạnh rằng Hiệp định Geneva chỉ được hai bên, Việt Minh và Pháp, kí kết và không được Hoa Kì và Cộng  hoà Nam Việt Nam [đúng ra là Quốc gia Việt Nam – ND] kí, một thực tế mà nhiều tác giả sách về chiến tranh đã bỏ qua.

Trong Phần II, Khởi đầu sự can dự của Hoa Kì (1955–1963), Corcoran bắt đầu với việc xem xét Hiệp định Geneva và lí do tại sao Hiệp định này đặt ra nhiều trở ngại đáng kể cho chính sách của Hoa Kì. Ông đưa ra những hiểu biết sâu sắc về lí do tại sao cuộc bầu cử “tự do” về thống nhất Việt Nam là bất khả vào năm 1956, vì cả các nhà lãnh đạo của Bắc Việt và Cộng hoà Nam Việt Nam [đúng ra là VNCH – ND] đều không sẵn sàng chấp nhận chúng, và ông đưa ra lí do tại sao. Nhiều cuộc tranh luận khác nhau về hiệu quả của chính sách “phản ứng dần dần” và việc ngừng ném bom của tổng thống Johnson, được thiết kế để thể hiện sự kiềm chế và đồng thời buộc những người cộng sản phải ngồi vào bàn đàm phán cũng được bàn tới. Những xung đột về quan điểm về các hành động thích hợp, và ảnh hưởng của dư luận và báo chí quốc gia đối với việc ra quyết định, cũng như những quan điểm khác nhau của chính các thành viên trong Hội đồng An ninh Quốc gia của LBJ (Lyndon Baines Johnson), Bộ Ngoại giao Hoa Kì, CIA và Bộ Quốc phòng, đều được giải thích. Vai trò của Bộ Ngoại giao trong cuộc đảo chính thảm khốc lật đổ tổng thống Diệm có phần bị Corcoran bỏ qua, nhưng ông đã chứng minh rõ ràng rằng việc lật đổ Diệm không được cân nhắc kĩ lưỡng và dẫn đến nhiều năm bất ổn ở Nam Việt Nam, tạo ra tình huống buộc phải sử dụng lực lượng quân sự Mĩ để cứu đồng minh của chúng ta.

Trong Phần III, Việc dấn sâu vào can dự của Hoa Kì (1964-1968), Corcoran xem xét các nỗ lực khác nhau của tổng thống Johnson và các cố vấn của ông nhằm tìm người thay thế tổng thống Diệm và ngăn chặn làn sóng thành công của cộng sản mà việc lật đổ ông đã tạo điều kiện. Cuốn sách giải thích về Giải pháp vịnh Bắc Bộ, cũng như tình thế khó xử mà LBJ phải đối mặt do vai trò ngày càng tăng của lực lượng quân đội chính quy Bắc Việt xâm nhập dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc tranh luận về cách thức tốt nhất để sử dụng lực lượng quân sự Mĩ được đề cập, đặc biệt là việc ném bom Bắc Việt và các đợt tạm ngừng ném bom mà không hề dẫn đến bất kì cuộc đàm phán  hoà bình thực chất nào. Rõ ràng là Corcoran coi giai đoạn can dự này của Mĩ là một chuỗi thất bại nối tiếp thất bại. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn khi nêu chi tiết vai trò của Bộ Ngoại giao trong việc phê duyệt nhiều chính sách dẫn đến thất bại trong giai đoạn này. Bộ Ngoại giao không đưa ra bất kì giải pháp thay thế khả thi nào cho các hành động của LBJ, và trong một số trường hợp, họ tán thành những hành động dựa nhiều vào ảo tưởng hơn là hiểu biết thực tế. Đặc biệt đáng chú ý là sự ngoan cố của Bộ Ngoại giao (và ở mức độ thấp hơn là CIA) trong việc tuân thủ Hiệp định Geneva năm 1962, ngăn cản việc đưa lực lượng quân sự Mĩ vào Lào, bất chấp sự coi thường trắng trợn của Bắc Việt đối với việc tuân thủ các hiệp định này. Bộ Ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong việc phủ quyết mọi kế hoạch đánh vào Lào để cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh bằng lực lượng trên bộ của Mĩ, do đó cho phép Bắc Việt tiếp tục sử dụng con đường này để đưa lực lượng quân sự chính quy, trang thiết bị quân sự và vật tư vào Nam Việt Nam dọc theo biên giới dài ở phía tây của nước này.

Trong Phần IV, Kết thúc sự can dự của Hoa Kì (1968-1975), Corcoran đề cập đến những nỗ lực của chính quyền Nixon nhằm cứu vãn một “nền  hoà bình công chính” ở Nam Việt Nam, và làm như thế nào để không phải chịu sự sỉ nhục quốc tế và sự xói mòn niềm tin của các đồng minh vào cam kết của Mĩ đối với các nghĩa vụ hiệp ước của mình. Ông cho chúng ta biết rằng Kissinger và Nixon không tin tưởng Bộ Ngoại giao và cung cấp nhiều bằng chứng để ủng hộ quan điểm này. Ông dẫn lời của Henry Kissinger về điều này: “Nhiều người trong Bộ Ngoại giao chia sẻ quan điểm được ủng hộ bởi các tờ báo hàng đầu hoặc các nhân vật ôn  hoà hơn trong Quốc hội, một phần vì niềm tin, một phần vì sợ hãi.” Điều này dẫn đến việc ngoại trưởng Rogers thường cố cản trở các chính sách và hành động do Nixon đề xuất và rò rỉ sự phản đối của ông cho báo chí thân thiện. Corcoran cũng xem xét tác động của vụ Watergate đối với chính sách đối với Việt Nam, mà theo lời Kissinger, “Điều duy nhất chúng ta không thể lường trước được là thảm họa Watergate. Chính điều đó đã định đoạt số phận của Nam Việt Nam qua việc làm xói mòn quyền lực hành pháp, bóp nghẹt hoàn toàn Nam Việt Nam với việc giảm viện trợ và ngăn cấm qua luật định việc thực thi hiệp định hoà bình trước những hành vi vi phạm vô cớ của Bắc Việt.”

Nếu có một điểm thất bại trong câu chuyện của Corcoran về vai trò của Bộ Ngoại giao trong các quyết sách được đưa ra trước và trong Chiến tranh Việt Nam, thì đó là việc ông không thể giải thích tại sao rất nhiều chuyên gia ngoại giao thông minh và giàu kinh nghiệm cũng như các chuyên gia về chính sách đối ngoại đã không hiểu được rằng cộng sản Bắc Việt sẽ không bao giờ đồng ý và sau đó tuân thủ một sự chấm dứt qua thương lượng đối với cuộc xâm lược của họ vào miền Nam Việt Nam. Đây là một sai lầm chủ chốt và là sai lầm rốt cuộc dẫn đến thảm họa cho cả Hoa Kì lẫn đồng minh Nam Việt Nam.

Cuốn sách này quý giá vì nó phản ánh quan điểm của một nhà ngoại giao Mĩ chuyên nghiệp với nhiều năm kinh nghiệm trực tiếp ở cả Bộ Ngoại giao và Đông Nam Á. Người đọc phải nhớ rằng cuốn sách được viết trước năm 1994 và từ thời điểm đó, có thông tin nhiều hơn về vai trò của Bộ Ngoại giao và các công cụ xây dựng chính sách quốc gia khác trong Chiến tranh Việt Nam đã được đưa ra ánh sáng. Tuy nhiên, điều đó không hề làm giảm đi tầm quan trọng của cuốn sách này cũng như những hiểu biết sâu sắc của tác giả. Đó là một câu chuyện hấp dẫn về việc Bộ Ngoại giao đã cố gắng và thất bại như thế nào trong việc cứu Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược của Bắc Việt cũng như những ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ trong nước mà cuối cùng đã dẫn đến thất bại của Mĩ. Đó không phải là một lời biện minh mà là một sự xem xét rõ ràng và chính xác về những hành động có chủ ý rõ rệt nhưng lại sai sót nghiêm trọng. Đó là một câu chuyện cảnh báo đáng được bất kì ai quan tâm đến chính sách đối ngoại của Hoa Kì trong Chiến tranh Việt Nam xem xét cẩn thận.

Andrew R. Finlayson

Đại tá Thủy quân lục chiến Hoa Kì (hưu)

Về tác giả

Thomas J. Corcoran sinh năm 1920 tại New York. Ông tốt nghiệp Đại học St. John’s. Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Hải quân và đóng quân trên một tàu tiếp tế ở biển Đen trong thời gian các nhà lãnh đạo Đồng minh gặp nhau tại Yalta ở Crimea.

Ông bắt đầu sự nghiệp Ngoại giao vào năm 1948. Nhiệm sở nước ngoài đầu tiên của ông là ở Tây Ban Nha và sau đó, vào năm 1950, tại Hà Nội, Việt Nam, khi đó đang thuộc quyền kiểm soát của Pháp. Ông trở thành quyền đại sứ tại Vientiane, Lào, và sau đó là Phnom Penh, Cambodia, vào năm 1952 trước khi trở lại Hà Nội từ đầu tháng 9/1954 đến khoảng ngày 12/12/1955. Ông ở đó khoảng 14 tháng. Sau đó, Corcoran phục vụ tại Thượng Volta, Haiti, và tại Quebec, Canada. Ông từng là quyền đại sứ lâm thời (Lào) từ tháng 8/1975 đến tháng 3/1978 và là đại sứ tại Burundi từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu Bộ Ngoại giao năm 1980. Ông đã nói khá chi tiết về sự nghiệp của mình trong một cuộc phỏng vấn cho Dự án Lịch sử Truyền miệng Ngoại giao của Hiệp hội Nghiên cứu và Đào tạo Ngoại giao, có thể tìm thấy trên trang web của họ: https://adst.org/OH%20TOCs/Corcoran,%20Thomas%20].toc.pdf

Ông Corcoran tốt nghiệp trường Cao đẳng Tham mưu Lực lượng Vũ trang ở Norfolk và trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia ở Washington. Ông từng là thư kí và chủ tịch của DACOR (Hội các viên chức Ngoại giao và Lãnh sự đã nghỉ hưu) và là thành viên của Câu lạc bộ City Tavern. Ông mất vì bệnh tim vào ngày 27/11/1994, tại nhà riêng ở Washington.

Trong thời gian nghỉ hưu, ông đã viết bản thảo này. Trước khi qua đời, ông đã giao lại bản thảo cho William Lloyd “Bill” Stearman, một đồng nghiệp tại Bộ Ngoại giao, người mà ông từng ở thuê cùng một biệt thự ở Sài Gòn năm 1966. Trước khi Bill qua đời năm 2021, ông đã dặn dò vợ mình chuyển bản thảo cho tổ chức Cựu chiến binh Việt Nam vì Lịch sử Thực tế (Vietnam Veterans for Factual History) mà ông đã tham gia trong thập kỉ trước đó.

Tom Corcoran (bên phải) là lãnh sự tại Huế trong phong trào đấu tranh Phật giáo năm 1966. Ông và Jim Bullington (bên trái) đã được đại sứ Lodge (ở giữa) trao tặng Huân chương Danh dự Cao quý vì những đóng góp của họ trong thời gian đó. (Nguyễn Văn Nghĩa, trợ lý chính trị của FSN)5

Từ trái sang phải: đại sứ Larry C. Williamson, quyền tổng giám đốc Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ; linh mục James Blackburn, quyền quản nhiệm Nhà thờ St. John, Giáo xứ Georgetown; và đại sứ Thomas J. Corcoran, thư kí kiêm chủ tịch Uỷ ban ghi nhớ các Viên chức Ngoại giao và Lãnh sự đã nghỉ hưu, tại lễ tưởng niệm Ngày Chiến sĩ trận vong hàng năm của họ tại Khu tưởng niệm DACOR thuộc Nghĩa trang Rock Creek, ngày 28/5/1990. (Ảnh do DACOR, một tổ chức gồm các chuyên gia về ngoại giao, cung cấp)

Bản đồ Đông Dương thuộc Pháp (cho thấy 2 khu vực của Lào và Cambodia bị Thái chiếm năm 1941)

PHẦN I

Khởi đầu (1945-1954)

Trước Thế chiến II, rất ít người Mĩ biết đến hoặc quan tâm nhiều đến Đông Dương, hay như các bản đồ thời đó gọi là Đông Dương thuộc Pháp. Không một trường đại học nào ở Mĩ có khoa Đông Dương học, hay liên quan đến vấn đề này, Đông Nam Á học.[1] Khi các sự kiện ở Đông Dương bắt đầu chiếm lĩnh các bản tin, rất ít người Mĩ có cái mà nhà sử học thế kỉ 19 Lord Macaulay gọi là kiến thức về “khung sườn của các sự kiện trước đó”, để có thể hiểu đầy đủ về những sự kiện này. Khung sườn rất phức tạp và các nhân vật thì thất thường. Một số trong các hành động quan trọng nhất lại diễn ra ngoài sân khấu, ít nhất là ngoài sân khấu Đông Dương. Như một nhà phê bình sách đã nhận xét về Đông Dương năm 1954, “thật dễ dàng để vẽ nên một bức tranh về những âm mưu kiểu Machiavelli, trong khi cũng dễ dàng và chắc chắn cũng công bằng không kém, để vẽ nên một bức tranh về những người đàn ông bối rối đang cố tìm ra giải pháp cho một tình huống khó.”[2]

Trước Thế chiến II, quan tâm của người Mĩ về Viễn Đông tập trung vào Trung Quốc, Philippines và dĩ nhiên là Nhật Bản, tất cả các quốc gia này vào thời điểm đó đều xa xôi nhưng có phần nào quen thuộc thông qua các quan hệ thương mại, quân sự và truyền giáo. Khi đó, liên minh thời chiến với Trung Quốc và việc giải phóng, giành độc lập cho Philippines có vẻ cũng tự nhiên như cuộc chiến với Nhật Bản. Tuy nhiên, không một hiểu biết nào trong số đó ở mức thật sâu sắc. Chẳng hạn, các chi tiết về “việc người Mĩ chinh phục Philippines như thế nào trong giai đoạn 1898-1902 với cái giá là 250 000 sinh mạng” đã phai mờ trong kí ức của người Mĩ.[3]

Việc huy động quy mô lớn và triển khai quân sự ồ ạt cho cuộc chiến ở Thái Bình Dương đã thu hẹp khoảng cách đại dương và làm tăng sự quan tâm của người Mĩ tới tất cả các quốc gia ở bờ bên kia của đại dương rộng lớn. Tuy nhiên, những quốc gia đó vẫn còn tương đối xa xôi và được nhìn nhận từ góc độ của những người quan sát từ xa. Những người quan sát này coi thực dân là xấu và việc chấm dứt các đế chế thực dân châu Âu là tốt. Họ hoan nghênh các chính phủ mới tiếp nối các chế độ thuộc địa cũ cũng hệt như họ hoan nghênh nền độc lập của Philippines. Họ cho rằng quan hệ với các quốc gia mới sẽ tốt đẹp và thương mại với họ sẽ rộng mở. Họ cho rằng Trung Quốc sẽ tồn tại, sẽ hợp tác ít nhiều với Hoa Kì, và sẽ cùng chung sống  hoà bình với các chế độ bản địa mới hình thành trong thời kì hậu thuộc địa. Họ chỉ nhận ra, một cách chậm chạp và đau đớn, về khoảng trống quyền lực tạo ra ở Viễn Đông do sự hiện diện của thực dân châu Âu đã kết thúc, sự thống trị thời chiến của Nhật Bản bị sụp đổ, và sự bất ổn định sau đó của khu vực này.[4]

Ảnh hưởng của Thế chiến II đối với Đông Dương là rất lớn và kéo dài. Tuy nhiên, như học giả người Pháp Bernard Fall đã chỉ ra, hầu như không có quan sát viên người Mĩ nào tại hiện trường vào lúc đó và người Pháp cũng không nói nhiều về những diễn biến liên quan mà họ không tự hào cũng không thích thú.[5] Nhiều người Pháp ở Đông Dương – bị buộc phải sống chung và đối phó với hậu quả kết hợp của thất bại ở châu Âu và sự thống trị của Nhật Bản ở Viễn Đông – có xu hướng đổ lỗi những khó khăn của họ, ít nhất một phần là do hành động hoặc thiếu sót của đồng minh Mĩ, hoặc đôi khi là của “người Anglo-Saxon” gộp chung. Họ nhanh chóng nhớ lại cuộc đàm phán hải quân Anh-Pháp không đi đến kết quả ở Singapore vào tháng 6/1939 (mà người Mĩ và người Hà Lan không tham dự), việc Mĩ không muốn hành động chống lại sự xâm lược của Nhật Bản trong những năm 1930, việc Mĩ quyết định không bán máy bay cho tướng Catroux, toàn quyền Đông Dương năm 1940, và lời khuyên nên chừng mực của ngài Halifax khi Catroux tỏ ý tôn trọng liên minh Anh-Pháp sau khi Pháp sụp đổ.[6] Họ nhớ lại ấn tượng ban đầu rằng Hoa Kì hiểu tình cảnh của họ và sẽ chấp nhận một mức độ nhượng bộ nhất định trước những yêu cầu của Nhật Bản về các cơ sở quân sự. Họ nhớ lại rằng vào ngày 30/6/1940, thứ trưởng Ngoại giao Welles nói với đại sứ Pháp rằng Chính phủ Hoa Kì không tin rằng họ có thể bước vào tranh chấp với Nhật Bản và nếu Nhật Bản tấn công Đông Dương, Hoa Kì sẽ không phản đối hành động đó. Họ nhớ lại tuyên bố của ngoại trưởng Hull rằng chính sách của Mĩ ở Viễn Đông vào thời điểm đó nên giới hạn ở việc khuyến khích “các quốc gia như Đông Dương trì hoãn và đàm phán.”[7]

Sau khi Pháp sụp đổ, kí Hiệp định đình chiến với Hitler ngày 25/6/1940 và Nhật Bản công nhận Chính phủ Vichy, chính quyền Pháp tại Đông Dương cũng không có nhiều lựa chọn để xoay sở. Làm mọi thứ thêm phức tạp, Thái Lan, với sự cố vấn và đồng thuận của Nhật Bản, đã tấn công Đông Dương vào ngày 12/6/1940. Mặc dù Pháp giành chiến thắng tại Koh Chang, ở vịnh Xiêm La – điều mà đô đốc Decoux, người kế nhiệm Catroux chức toàn quyền, gọi là trận hải chiến [ngày 17/1/1941 – ND] duy nhất mà lực lượng hải quân Pháp tham gia trong hai cuộc thế chiến[8] – nhưng cuối cùng Nhật Bản đã áp đặt một thỏa thuận [tháng 5/1941 – ND] khiến họ phải trả giá bằng 3 tỉnh của Cambodia (Campuchia) và 2 tỉnh của Lào [xem bản đồ ở trang 7- ND]. Phe đồng minh chiến thắng đã buộc Thái Lan phải trả lại các tỉnh này vào cuối chiến tranh, nhưng Hoa Kì, nhận thức được tầm quan trọng của tinh thần dân tộc châu Á và sức thu hút của tinh thần chống thực dân trong vụ này, đã bảo vệ Thái Lan khỏi bất kì sự trừng phạt nào nữa. Người Pháp cũng ghi nhớ điều đó.[9]

Mĩ đã đặt nhiều kì vọng vào thời kì hậu chiến ở châu Á và họ đã vô cùng thất vọng. Trong tình hình mới này họ có ý định hành động phối hợp với một Trung Hoa  hoà bình. Nỗ lực của Mĩ  hoà giải Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa và Cộng sản Trung Hoa thất bại đã thay đổi hoàn toàn tình hình hậu chiến. Hoa Kì, bất chấp những ý định tốt đẹp của mình, đã trở thành mục tiêu chính trị và tuyên truyền của Cộng sản Trung Hoa. Trước tình hình mới, Hoa Kì nhận thấy cần phải chuyển trọng tâm từ viện trợ kinh tế, như họ đã áp dụng ở châu Âu, sang nỗ lực tổ chức chống lại mối đe dọa đặc thù ở châu Á.[10] Họ coi mối đe dọa này là một âm mưu nhằm quét sạch ảnh hưởng của Hoa Kì khỏi châu Á, từ đó tạo ra nguồn lực khổng lồ dành sẵn cho Liên Xô. Những thay đổi lớn đang diễn ra ở Trung Quốc nhưng sự chia rẽ ý thức hệ Trung-Xô vẫn còn ở phía trước và Hoa Kì cần một bên đối thoại và đồng minh đáng tin cậy thay thế Trung Hoa cũ ở Viễn Đông. Nhật Bản là sự lựa chọn hiển nhiên. Sự phục hồi kinh tế của Nhật Bản, Hiệp ước  Hoà bình San Francisco, Hiệp ước Quốc phòng Mĩ-Nhật và việc chấp nhận lực lượng Hoa Kì đóng quân tại Nhật Bản đều củng cố sự lựa chọn này.

Cuộc xâm lược của Bắc Triều Tiên vào Nam Triều Tiên năm 1950 và phản ứng của Liên Hợp Quốc đã làm rối tung vai trò rộng lớn của Hoa Kì trong việc ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Viễn Đông với vai trò cụ thể của nước này như là phái viên ngăn xâm lược của Liên Hợp Quốc.[11]

Khi Hoa Kì đưa quân đến Triều Tiên, họ bắt đầu phát triển ý tưởng về một tuyến phòng thủ an ninh chạy từ quần đảo Aleutian qua Nhật Bản và Đài Loan đến Philippines. Không có gì ngạc nhiên trong bối cảnh này, họ cũng bắt đầu gửi tiếp tế cho lực lượng Pháp đang đánh nhau với đối thủ do cộng sản lãnh đạo ở Đông Dương.[12]

Các hành động quân sự của Hoa Kì nhằm đáp trả việc Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền ở Trung Quốc và cuộc xâm lược của Bắc Triều Tiên vào Nam Triều Tiên đã tạo ra một tác dụng phụ kì lạ và kéo dài.[13]

Các hành động của Hoa Kì, làm giảm bớt cảm giác bất an ở Đông Nam Á và các khu vực liên quan, đã giúp một số quốc gia châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, tự do hơn trong việc bày tỏ sự không đồng tình với một số khía cạnh trong chính sách của Hoa Kì. Những quốc gia châu Á này không muốn chấp nhận phân tích của Mĩ về tình hình quyền lực toàn cầu một khi tình hình gần khu vực của chính họ có vẻ đã đạt được một dạng cân bằng nào đó nhờ chiến lược tiến công của Hoa Kì. Theo quan điểm khá khách quan của chính họ, phân tích của riêng họ mô tả một cuộc đấu tranh quyền lực và một cuộc xung đột ý thức hệ đồng thời giữa Hoa Kì và Liên Xô, trong đó thiện hay ác không bị giới hạn ở bên này hay bên kia. Họ coi mục tiêu của Hoa Kì về quyền tự quyết của các quốc gia và việc tổ chức một thế giới mà trong đó các quốc gia có thể sống không có chiến tranh như là việc can thiệp tiềm tàng vào công việc nội bộ và việc hạn chế tiềm tàng tự do quốc gia. Một số người trong số họ, khi suy ngẫm về quá khứ của Nhật Bản một cách không thoải mái, dường như có một số nghi ngờ về việc chọn Nhật Bản làm đối tác của Mĩ trong khu vực.[14]

Tuy nhiên, nhận thức của Hoa Kì về Đông Dương mang tính lí tưởng, xuất phát từ thái độ nhân ái của Mĩ đối với châu Á nói chung. Từ năm 1945 đến năm 1954, nhận thức này hầu như vẫn vậy dưới 3 đời tổng thống và 5 đời ngoại trưởng. Các yếu tố toàn cầu và châu Âu đã tác động đến chính sách đối với Đông Dương trong những năm này như từng có trong thời Thế chiến II. Trong thời hậu chiến, những yếu tố này có tác động củng cố vị thế đàm phán của cường quốc thực dân cũ và cản trở nỗ lực của Mĩ trong việc mang lại độc lập thật sự cho các quốc gia Đông Dương. Sự chậm trễ này chắc chắn là một yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chiến thắng cuối cùng của phe cộng sản ở Đông Dương 21 năm sau đó, nhưng theo mọi cách không phải là yếu tố duy nhất.

Ngay từ tháng 8/1942, tổng thống Franklin D. Roosevelt đã quyết định rằng ông không muốn thấy việc tái lập sự hiện diện của thực dân Pháp ở Đông Dương sau Thế chiến II.[15] Ông bày tỏ ý kiến của mình bằng những lời lẽ mạnh mẽ, cho rằng người Pháp đã bóc lột Đông Dương suốt 100 năm, người dân nơi đây còn sống tệ hơn cả lúc ban đầu, và họ xứng đáng được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn thế. Các quan chức trong Bộ Ngoại giao được giao nhiệm vụ soạn thảo và thông qua văn bản lập trường có lồng vào đó quan điểm của tổng thống và bao gồm cả các nghiên cứu về kế hoạch cho nền độc lập và tự quản của các nước Đông Dương sẽ đạt tới dưới sự giám sát quốc tế. Nhiều lịch làm việc thay thế khác nhau đã được đề xuất.[16] Đây là quyết định chính sách cụ thể đầu tiên của Mĩ về Đông Dương, và rõ ràng nó vẫn là chính sách cho đến sau khi Pháp tái lập sự hiện diện quân sự và chính trị vào cuối năm 1945 và đầu năm 1946. Ngày 27/3/1943, tổng thống Roosevelt đề nghị ngoại trưởng Anh Anthony Eden về việc thành lập một chế độ tín thác (trusteeship) hậu chiến cho Đông Dương thay vì trả lại khu vực này cho Pháp.[17] Sau đó, rõ ràng là trong việc theo đuổi cũng đường lối chính sách chung đó, Roosevelt đã ngăn cấm Mĩ cung cấp yểm trợ không quân và tiếp tế bằng đường hàng không cho các đơn vị Pháp khi họ bắt đầu đánh nhau với quân Nhật ở Đông Dương gần cuối cuộc chiến.[18]

Tháng 1/1944, Tổng thống Roosevelt nói với ngài Halifax, đại sứ Anh, rằng trong hơn một năm, ông đã bày tỏ quan điểm rằng Đông Dương không nên được trả lại cho Pháp mà nên được quản lí bởi một Hội đồng Tín thác quốc tế.[19] Roosevelt lại nêu vấn đề Hội đồng Tín thác tại Yalta vào tháng 2/1945, đề xuất đưa một hoặc hai người Đông Dương và “thậm chí cả một người Pháp” vào Hội đồng Tín thác, cân bằng họ bằng một người Philippines, một người Trung Quốc và một người Nga.[20] Tướng Claire Chennault của Không đoàn 14 sau đó viết rằng ông đã nhận được lệnh từ Bộ Tư lệnh Chiến khu (tướng Wedemeyer) rằng không được cung cấp vũ khí và đạn dược cho quân đội Pháp trong bất kì hoàn cảnh nào. Chennault miễn cưỡng tuân theo lệnh này, mà ông hiểu là đến trực tiếp từ Bộ Chiến tranh. Ông kết luận rằng chủ trương của Mĩ là Đông Dương thuộc Pháp sẽ không được trả lại cho Pháp và rằng “Chính phủ Mĩ quan tâm đến việc thấy người Pháp bị cưỡng ép rời khỏi Đông Dương để vấn đề tách họ khỏi thuộc địa của mình sau chiến tranh sẽ dễ dàng hơn.”[21] Cũng khoảng thời gian đó, nhiều nhóm người Mĩ đã đi từ miền Nam Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam và thiết lập liên lạc với Việt Minh do cộng sản lãnh đạo. Các nhóm này bao gồm đại diện của Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS [Office of Strategic Services]), Không quân, Cơ quan Tình báo Lục quân và Hải quân, và Bộ phận Chiến đấu Hoa Kì của Bộ Tư lệnh Nam Trung Hoa. Việt Minh thậm chí còn thành lập Hiệp hội Hữu nghị Việt-Mĩ vào ngày 17/10/1945.[22] Một quan chức Mĩ đã đến thăm cả Hồ Chí Minh lẫn Bảo Đại tại Hà Nội vào tháng 2/1946 và nhận thấy họ khá quen thuộc với chính sách của Roosevelt.[23]

Jean Sainteny, đại diện của Chính phủ Pháp tại Hà Nội năm 1945-46 và một lần nữa vào năm 1954-55, đã nói với BBC vào năm 1974 rằng Phái đoàn OSS của Mĩ dưới sự chỉ huy của thiếu tá Archimedes L. A. Patti đã ủng hộ việc Việt Minh nắm quyền ở Hà Nội năm 1945 qua việc đứng cạnh Võ Nguyên Giáp tại lễ tiếp quản. Sainteny suy đoán rằng, dù Patti phần lớn tự mình hoạt động, ông không hành động một cách tự phát khi phản đối việc Pháp quay trở lại Đông Dương mà theo chỉ thị chung được đưa ra ở cấp cao hơn. Tuy nhiên, Sainteny cho rằng Patti có thể đã có phần nào vượt quá chỉ thị.[24] Phần mình, Patti nói với BBC rằng nhiệm vụ của ông là chống Nhật, rằng ông không được phép can dự vào chính trị Đông Dương – Pháp, nhưng ông đã nhận được lệnh cụ thể từ tướng Donovan (người đứng đầu OSS) theo chỉ thị của tổng thống rằng ông không được giúp cho bất kì mục tiêu nào của Pháp nhằm tái chiếm Đông Dương bằng thiết bị của Mĩ hoặc thiết bị theo chương trình Lend-Lease. Ông “không được ủng hộ mục tiêu giành lại thuộc địa cũ của Pháp, cũng không nhất thiết phải giúp người Việt Nam giành được độc lập.”[25] Người phỏng vấn của BBC kết luận, “Thực tế là chính người Mĩ đã trực tiếp nắm tay cách mạng và theo nó vào Hà Nội. Sự ủng hộ rõ ràng của người Mĩ cùng lời chúc phúc rõ ràng của họ đối với các diễn biến đã trao cho Hồ Chí Minh sáng kiến chính trị, tính chính đáng rõ ràng và quyền lực mà ông không bao giờ buông bỏ.”[26]

Dĩ nhiên, Việt Minh là nhóm kháng chiến chống Nhật hoạt động tích cực nhất và thật sự là nhóm quan trọng duy nhất ở Đông Dương. Do đó, điều tự nhiên là sau cú đảo chính của Nhật Bản, họ đã nhận được hầu hết vũ khí, máy phát tín hiệu và các thiết bị khác của Mĩ mà OSS đã thả dù xuống khu vực. Cộng thêm vào đó là số vũ khí của Nhật Bản và Pháp thu được sau khi Nhật Bản đầu hàng vào ngày 15/8/1945, Việt Minh đã có thể trang bị một đội quân đủ mạnh để dễ dàng đối phó với tàn dư của quân đội Pháp ở miền Bắc cũng như với những người quốc gia, không cộng sản đối thủ.[27] Lợi thế rõ ràng về trang thiết bị quân sự này có vẻ có liên quan mật thiết đến việc Hồ Chí Minh giành được thế chủ động chính trị trong hoàn cảnh hiện tại hơn là bất kì sự can thiệp nào của Phái đoàn Patti.

Dù thế nào, tất cả những liên hệ đã nêu trong giai đoạn này dường như đã xác lập khá rõ ràng rằng Việt Minh tin rằng Hoa Kì ủng hộ sự độc lập cho các nước Đông Dương. Người Pháp và người Mĩ tại chỗ dường như có cùng hiểu biết về chính sách của Mĩ, và ấn tượng của họ chắc chắn đã làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn và hiểu lầm giữa Pháp và Mĩ, kéo dài sang các thời kì hợp tác Pháp-Mĩ sau này. Về phần mình, Việt Minh sau này, dựa trên những cuộc gặp gỡ ban đầu này, đã có thể khẳng định rằng người Mĩ đã làm họ thất vọng. Cựu ngoại trưởng Dean Rusk, trong cuộc phỏng vấn với BBC năm 1977, đã đưa ra một phân tích thú vị về những gì đang xảy ra liên quan đến chính sách của Hoa Kì đối với Đông Dương khi Thế chiến II kết thúc. Ông Rusk nhớ lại rằng người Mĩ từng tin rằng các thuộc địa lớn của châu Á sẽ giành được độc lập, nhưng Churchill chưa bao giờ đồng ý với Roosevelt về điều này. Khi một số người Mĩ ở Ấn Độ trong chiến tranh cố giải thích với người Ấn rằng họ ở đó chỉ để chiến đấu chống lại quân Nhật và không dính dáng đến quan hệ Anh-Ấn hậu chiến, thì mâu thuẫn đáng kể giữa Anh và Mĩ lại nẩy ra. Roosevelt từng có ý tưởng rằng Ấn Độ, Miến Điện, Ceylon, Malaya, Indonesia và Đông Dương đều nên trở thành những quốc gia độc lập sau chiến tranh. Có lẽ vào khoảng tháng 1/1945, ông dường như mất hứng thú với ý tưởng này. Ông Rusk không chắc liệu tuổi tác và sự mệt mỏi hay áp lực từ những mối bận tâm khác đã gây ra sự mất hứng thú này hay không. Tổng thống Truman quá bận rộn với việc tiếp nhận chức vụ tổng thống, với việc giải quyết vấn đề chiếm đóng nước Đức và việc tiếp tục cuộc chiến chống Nhật, đến nỗi “ông đã không tiếp tục duy trì thái độ chính sách đó và thúc đẩy nó.” Rusk cũng lưu ý rằng Bộ Tổng Tham mưu Liên hợp đã uỷ thác trách nhiệm chỉ huy khu vực bao gồm Đông Dương cho Bộ Tổng Tham mưu Anh và “khi một tổng thống Mĩ mất hứng thú với những vấn đề cấp bách kiểu này thì trách nhiệm chỉ huy thật sự thuộc về ông Churchill.”[28] Rusk suy đoán rằng, với việc Clement Atlee lên nắm quyền thủ tướng, vấn đề thuộc địa liên quan đến các khu vực của Anh có thể được cho là sẽ được giải quyết. Người Pháp có thể được cho là khó có khả năng ở lại Đông Dương bằng người Hà Lan ở lại Indonesia. Rusk nhận xét rằng “các chính phủ ở Pháp trong phần lớn giai đoạn này quá yếu để đưa ra những quyết định khó khăn liên quan đến Đông Dương.”[29]

Cũng cần lưu ý rằng, không giống như người Hà Lan, người Pháp có công cụ quân sự mà họ có thể sử dụng, để cố quay trở lại không phải một cách dứt khoát nhưng ít nhất là tạm thời.

Sự bất mãn của người Pháp đối với các quan hệ của Mĩ với Việt Minh càng tăng thêm bởi điều mà họ cho là việc Đồng minh không dành ưu tiên cho việc tiếp quản Đông Dương từ lực lượng chiếm đóng của Nhật Bản, các hoạt động chính trị của lực lượng Quốc dân đảng (KMT) Trung Hoa đang tiếp quản phía bắc vĩ tuyến 16, và sự yếu kém của lực lượng Anh đang tiếp quản phía nam vĩ tuyến 16. Nhiều người Pháp ở Đông Dương vô cùng lo lắng muốn xóa bỏ kí ức về thất bại đầu Thế chiến II và cuộc đảo chính phút chót của Nhật Bản bằng việc nhanh chóng tái lập sự hiện diện của Pháp.[30]

Cần phải mô tả những bất bình của người Pháp không nhằm mục đích đổ lỗi mà chỉ để nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của chúng đến diễn biến tương lai ở Đông Dương. Điều quan trọng không kém để hiểu được những sự kiện tương lai là không nên đi quá xa theo hướng ngược lại. Hồ Chí Minh, dù những phẩm chất khác của ông là gì, khó có thể được coi là một “nhà yêu nước trước hết” hay một nhà lãnh đạo bậc cha chú, nhân từ của một cuộc cách mạng ruộng đất. Tiểu sử của ông hiện nay đã được biết đến rộng rãi. Ở đây chỉ cần nhắc lại rằng ông là người đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào ngày 30/12/1920, và trong khi có vẻ ông hợp tác với người Pháp vào năm 1945-46, với tư cách là người đứng đầu một phong trào yêu nước rộng lớn (Việt Minh thời kì đó), các thân cận của ông đã loại bỏ hoặc đe dọa các nhà lãnh đạo yêu nước không cộng sản một cách có hệ thống.[31] Hồ Chí Minh đã ở Hà Nội vào ngày 19/8/1945, bốn ngày sau Ngày Chiến thắng Nhật Bản, và vào ngày 2/9, Việt Minh, trên danh nghĩa là tổ chức yêu nước nhưng do cộng sản chi phối, đã nắm quyền ở đó, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng  hoà.[32]

Tháng 9/1945 chứng kiến rất nhiều hoạt động, bao gồm sự xuất hiện của lực lượng Ấn Độ thuộc Anh dưới quyền tướng Douglas D. Gracey tại Sài Gòn, sự xuất hiện của lực lượng Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) dưới quyền tướng Lư Hán tại Hà Nội, cuộc đảo chính của Pháp tái lập quyền lực của Pháp tại Sài Gòn, vụ thảm sát trả thù thường dân Pháp tại khu nhà ở Cité Héraud, và cái chết của trung tá A. Peter Dewey thuộc OSS, con trai dân biểu Charles S. Dewey của Illinois và là người đầu tiên trong một chuỗi dài thương vong của người Mĩ trong các cuộc chiến tranh Đông Dương. Khoảng 8 năm sau, trong lễ khánh thành một đài tưởng niệm nhỏ dành cho trung tá Dewey, một quan chức địa phương đã quy cái chết của ông là do “Thanh niên tiền phong thời đó” (La Jeunesse avancée de cette époque) gây ra.[33] Cuối tháng 9, quân Nhật chính thức đầu hàng tại Hà Nội và câu chuyện về Đông Dương thật sự bắt đầu diễn ra.

Về mặt chính thức, quyết tâm của tổng thống Roosevelt rằng Hoa Kì muốn thấy các quốc gia Đông Dương trở nên độc lập, vẫn chi phối chính sách của Mĩ. Trên thực tế, các sự kiện đã bắt đầu làm suy yếu triển vọng thực hiện điều đó. Ngoại trưởng Cordell Hull trước đó đã chỉ ra với tổng thống rằng Hoa Kì không thể nhận được sự hợp tác chặt chẽ nhất từ các cường quốc thực dân châu Âu trong việc tiến hành chiến tranh nếu Hoa Kì xa lánh các nước này ở phương Đông.[34] Trên thực tế, Pétain, Giraud và de Gaulle đều đã được đảm bảo vào nhiều thời điểm khác nhau rằng Hoa Kì ủng hộ việc họ quay trở lại đế chế của mình. Rõ ràng, Hoa Kì đang cố gắng cân bằng hai chính sách mâu thuẫn.[35] Như ngoại trưởng Rusk đã nhắc nhở người phỏng vấn của BBC, cái chết của Roosevelt đã khiến một số ưu tiên dành cho vấn đề chống thực dân cũng như việc Bộ Tổng tham mưu Liên hợp uỷ quyền cho Bộ Tổng tham mưu Anh tan biến đi. Hội nghị quân sự năm 1945 tại Potsdam đã nhất trí rằng Anh sẽ giải giáp lực lượng Nhật Bản ở phía nam vĩ tuyến 16 tại Đông Dương trong khi Trung Hoa giải giáp lực lượng ở phía bắc. Sự xuất hiện của một tướng Anh tại Sài Gòn cùng với một lực lượng nhỏ Ấn thuộc Anh ít nhiều trùng với sự trở lại của thực dân Pháp.[36]

Trong một bài viết đăng trên Paris-Match số đặc biệt [hoặc Historia] năm 1972, Sainteny đã nhận xét:[37]

Ở phía nam, tại Nam Kì, đồng minh Anh của chúng ta, dưới sự chỉ huy của tướng D.D. Gracey, được giao nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tỉ mỉ, yêu cầu các nhân viên Nhật Bản duy trì trật tự, điều mà họ cho là có trách nhiệm, và chấm dứt các cuộc bạo loạn đã gây ra một số thương vong trong dân Pháp vào những ngày trước khi họ đến. Anh đã giao trả lại cho Pháp trách nhiệm cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống bình thường của đất nước. Họ dường như chưa bao giờ nghi ngờ về các quyền hợp pháp của Pháp.

Mặt khác, ở phía bắc vĩ tuyến 16, Trung Quốc, được củng cố bởi những cam kết đạt được từ chính quyền Roosevelt, dường như có một quan niệm rất khác về nhiệm vụ của họ.

Trong cuộc phỏng vấn với BBC năm 1977, ngoại trưởng Rusk chỉ ra rằng vào năm 1945, Mĩ không có quan điểm là họ thật sự có quyền để chọn việc ra lệnh cho Pháp không được dây vào Đông Dương, Anh không được dây vào Ấn Độ, Miến Điện, Ceylon và Malaya, hay Hà Lan không được dây vào Indonesia. Hơn nữa, Chiến tranh Lạnh đang bắt đầu. Nga đã không thực hiện đúng thỏa thuận Yalta về bầu cử tự do. Stalin đang đơn phương thiết lập các chính phủ mới ở Đông Âu và yêu cầu người tị nạn hồi hương. Tóm lại, Tây Âu đã đưa ra phàn nàn đầu tiên về sự chú ý của Mĩ. Tuy nhiên, ngoại trưởng Hull đã nhấn mạnh với tổng thống Roosevelt vấn đề từng đã làm suy yếu những nỗ lực của Hoa Kì ở Đông Dương trong nhiều năm.[38] Hầu hết những người Pháp có mặt tại Đông Dương, những người mà theo quan điểm của Mĩ, có nhiệm vụ cung cấp lực lượng thay vào để bảo vệ các quốc gia Đông Dương trong khi dẫn dắt họ đến nền độc lập thật sự, đơn giản là không thể từ bỏ ý nghĩ rằng họ đang bị yêu cầu phải có những hi sinh trong khi người Mĩ, do lòng tham hoặc sự ngây thơ đơn giản, đang tìm cách thay thế sự hiện diện kinh tế và văn hóa của Pháp trên bán đảo này.

Không đi sâu vào lịch sử đầy lắc léo của các cuộc đàm phán và động thái giữa Pháp và Việt Nam, việc nêu ra một vài diễn biến mở đường cho sự tham gia của Mĩ vào câu chuyện Đông Dương là điều hữu ích. Ngày 25/10/1945, tướng Leclerc đã bắt đầu một chiến dịch càn quét.[39] Sau đó, rõ ràng là ông có những nghi ngờ nghiêm túc về khả năng giải quyết vấn đề Đông Dương bằng quân sự do tính phức tạp về chính trị và nguồn lực quân sự hạn chế của Pháp. Một nhà quan sát người Pháp kể lại rằng đã ông mô tả nỗ lực tái chiếm của Pháp như sự lặp lại chiến dịch Mexico không vẻ vang của Napoléon III.

Leclerc không hề mềm yếu trong các cuộc đàm phán với người Việt Nam. Sainteny lưu ý rằng Leclerc đã hiểu rằng chỉ dùng vũ khí thôi thì không thể giải quyết được vấn đề thật sự. Một nhà quan sát người Pháp khác (Raymond Dronne) nhận xét rằng Leclerc tin chắc rằng không thể thiết lập lại trật tự cũ và cần phải tìm kiếm một giải pháp mới phóng khoáng, theo đường hướng tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 24/3/1945, trên cơ sở các hội đồng được bầu, nhưng giải pháp này không phải và không thể là từ bỏ Đông Dương.[40] Mặt khác, chính Leclerc, trong một bức thư gửi Maurice Schumann trước thềm Hội nghị Fontainebleau, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiên định với giải pháp dựa trên Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp. Ông cảnh báo rằng Hồ Chí Minh là kẻ thù lớn của Pháp mà mục tiêu kiên định của ông này là loại bỏ Pháp khỏi Đông Dương. Leclerc cảnh báo rằng ông ta phải chịu trách nhiệm về việc tiếp diễn của cuộc nội chiến và các vụ ám sát những “người An Nam” thân Pháp. Ông nhấn mạnh rằng sẽ rất nguy hiểm nếu các đại diện Pháp tại các cuộc đàm phán bị lôi kéo bởi lòng thương cảm và những mánh khóe ngôn từ (dân chủ, kháng chiến, nước Pháp mới) mà Hồ Chí Minh và nhóm của ông ta biết cách sử dụng một cách hoàn hảo.[41]

Dưới thời đô đốc d’Argenlieu làm cao uỷ (thay thế chức danh toàn quyền) và tướng Leclerc, chính sách của Pháp ban đầu có vẻ không rõ ràng. Người Pháp ở Nam Kì, phần cực nam và mang đậm tính Pháp nhất của Đông Dương, đã sử dụng ảnh hưởng đáng kể của họ để khôi phục lại hiện trạng trước đây (status quo ante). Trong việc này, họ được một bộ phận tầng lớp trung lưu Việt Nam trong khu vực này ủng hộ.[42] Ở phía bắc, Pháp chỉ trích Mĩ vì đã không bảo vệ được chủ quyền của Pháp. Võ Nguyên Giáp nói về quan hệ thân thiết với Hoa Kì và Trung Hoa nhưng bắt đầu cáo buộc Pháp đang dự định tái chiếm. Trong khi đó, các động thái ngoại giao đã diễn ra. Ngày 7/1/1946, Pháp kí một thỏa thuận với Cambodia. Ngày 28/2, tướng Salan kí một thỏa thuận với Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) tại Trùng Khánh, theo đó Pháp từ bỏ các quyền ngoại giao và các tô giới ở Trung Hoa, và Trung Hoa đồng ý rút quân khỏi Đông Dương trước ngày 31/3.[43] Ngày 6/3, Jean Sainteny kí một thỏa thuận với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh (Quốc Dân Đảng [VNQDĐ], một đảng không cộng sản) theo đó Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng  hoà và cam kết tổ chức trưng cầu ý dân thống nhất ba kì Việt Nam bao gồm cả Nam Kì (Cochinchina), và Hồ Chí Minh đồng ý không phản đối việc quân Pháp đổ bộ lên bờ.[44]

Hiệp định ngày 6/3 này bao gồm một công ước sơ bộ và một phụ khoản. Trong công ước, Pháp công nhận VNDCCH là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp. Phụ khoản quy định việc điều động 10 000 bộ đội Việt Nam và 15 000 lính Pháp để thay thế quân Trung Hoa và giới hạn thời gian đóng quân của Pháp trong vòng 5 năm. Có lẽ Hồ Chí Minh đã đồng ý cho quân Pháp vào chủ yếu vì ông muốn loại bỏ quân Trung Hoa. Chừng nào quân Trung Hoa còn hiện diện, họ không chỉ gây ra gánh nặng kinh tế tàn hại mà còn tiềm ẩn nguy cơ can thiệp quân sự bất ngờ để áp đặt chế độ theo ý muốn của họ. Ngày 14/7/1946, tướng Leclerc rời Đông Dương và tháng sau đó, Pháp kí hiệp định tạm thời (modus vivendi) với Lào. Trong khi đó, giao tranh vẫn tiếp diễn ở Nam Kì, nơi mà Hiệp định Sainteny-Hồ ngày 6/3 không hề được áp dụng và được Pháp công nhận là một nước cộng  hoà độc lập vào ngày 1/6/1946. Hội nghị Đà Lạt, khai mạc vào tháng 4, chỉ nhằm minh hoạ cho sự bất đồng cơ bản giữa Pháp và Việt Nam. Hội nghị Fontainebleau (từ ngày 6/7 đến ngày 14/9/1946) đã đưa ra một giải pháp thỏa hiệp hạn chế đối với các vấn đề kinh tế và văn hóa, và trên thực tế, đã hoãn lại bất kì thỏa thuận chính trị nào.[45]

Trước thực tế về sự hiện diện của Pháp trở lại, và ngày càng bận tâm đến châu Âu, Hoa Kì đã ngầm đưa ra quyết định thứ hai về Đông Dương. Về cơ bản, đây là quyết định đứng ngoài. Như ngoại trưởng George Marshall đã nói, nước Mĩ hi vọng “… có thể tìm ra một cơ sở điều chỉnh  hoà bình.”[46]

Điều này dĩ nhiên không có nghĩa là Hoa Kì đã từ bỏ ý tưởng rằng các thuộc địa cũ của châu Âu ở châu Á phải được tự do. Ngay cả đến năm 1948, khi một làn sóng tấn công của cộng sản vào các cơ sở nước ngoài xảy ra ở Miến Điện, Malaya và Philippines, và Chính phủ Hoa Kì gửi một lượng lớn vũ khí nhỏ đến khu vực này, các nhà báo đã hỏi ngoại trưởng Marshall liệu hành động này có báo hiệu sự thay đổi trong chính sách hay không. Đặc biệt, họ muốn biết liệu việc một máy bay chở đầy vũ khí hạ cánh xuống Kuala Lumpur có nghĩa là chính sách của Hoa Kì giúp đỡ những người thực dân tái lập vị thế của họ hay không. Marshall đã làm rõ với báo chí rằng không có sự thay đổi nào trong chính sách. Vũ khí chỉ được gửi đến để cho phép người Mĩ trên các đồn điền cao su tự bảo vệ mình.[47]

Nhiều người đã chỉ trích quyết định đứng ngoài trước việc Pháp trở lại Đông Dương. Họ lập luận rằng Hoa Kì lẽ ra có thể gây áp lực lên Pháp để đưa Việt Nam vào con đường độc lập sớm tại Fontainebleau bằng cách sử dụng viện trợ theo Kế hoạch Marshall cho Pháp như một phương tiện để gây áp lực đó. Nhìn lại tình hình lúc bấy giờ và xem xét kinh nghiệm sau này với Pháp và, nói rộng hơn, với Việt Nam, dường như kiểu áp lực như vậy khó có thể đạt được kết quả mong muốn. Kế hoạch Marshall thật sự chỉ trở nên có hiệu quả hai năm sau đó, quá muộn so với mục đích đề ra. Dù sao đi nữa, sự nhạy cảm của Pháp quá lớn để cho phép chính phủ Pháp nhượng bộ về vấn đề cụ thể này vào lúc đó.[48] Hơn nữa, các yếu tố khác cũng được cân nhắc. Hoa Kì chưa quan tâm sâu sắc đến vị trí chiến lược của Đông Dương ở Đông Nam Á như sau này. Việc thiếu các khoản đầu tư lớn của Hoa Kì ở Đông Dương cũng đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng hơn so với ở Indonesia, nơi có những khoản đầu tư như vậy và cần được bảo vệ. Hoa Kì vẫn coi Pháp là chìa khóa cho sự phục hồi kinh tế và quốc phòng của châu Âu. Người ta lo ngại rằng việc lật đổ lực lượng thứ ba ở Pháp sẽ dẫn đến việc tướng de Gaulle hoặc phe cộng sản lên nắm quyền. Vai trò quan trọng mà phe cộng sản đang đóng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam cũng là một yếu tố quan trọng khác được xem xét.[49]

Một nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm người Mĩ đã mô tả một cách chính xác giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1950 là thời kì Chiến tranh thuộc địa Pháp, khác với cuộc chiến tranh giải phóng cộng sản diễn ra từ năm 1950 trở đi.[50] Trong giai đoạn này, những diễn biến quân sự và chính trị ở Đông Dương, ở Pháp và trên trường quốc tế đều có xu hướng đặt nền móng cho quyết định thứ ba của Hoa Kì về Đông Dương.

Một nhà bình luận người Pháp đã nhận xét rằng “Trong những ngày sau Hiệp định ngày 6/3, mỗi bên đều cáo buộc bên kia né tránh hiệp định.” Ông lưu ý rằng nước Pháp, bị chia rẽ, phải đối mặt với nhiều khó khăn đủ loại, được lãnh đạo bởi các chính phủ bấp bênh, phải xoay xở trong khi chờ có hiến pháp, trôi nổi trong sự bất ổn và chỉ có thể dò dẫm tìm đường. Nhưng có một điều chắc chắn, ông nhận thấy, và đó là cốt lõi của vấn đề; vào năm 1946, người Pháp nhạy cảm hơn nhiều đối với câu hỏi về đế chế mà họ sắp trở thành và không ai có thể hoặc sẽ ủng hộ một giải pháp dẫn tới việc trục xuất hoàn toàn Pháp và các lợi ích của nước này, và sự nắm quyền của một chế độ cộng sản ở Đông Dương.[51] Chính trong bối cảnh này, các cuộc đàm phán “thẳng thắn và thân thiện” được dự kiến trong Hiệp định ngày 6/3 đã bắt đầu.

Năm 1946 bắt đầu với sự xuất hiện của ít nhất là sự hợp tác Pháp-Việt. Thậm chí dường như người Pháp thấy Việt Minh dễ hợp tác hơn những người quốc gia, công khai chống Pháp hơn.[52] Giáp đã quay sang chống lãnh đạo của nhóm sau và cũng tăng gấp đôi vũ khí cho quân đội, dân quân và thanh niên của mình. Những phần tử cực đoan của Việt Minh đã tấn công quân Pháp tại Bắc Ninh sau khi Hội nghị Fontainebleau thất bại. Trong khi đó, Pháp đã công nhận Cộng  hoà [tự trị] Nam Kì và cấm Việt Minh hoạt động trong khu vực đó. Tháng 11/1946 chứng kiến việc thông qua hiến pháp mới và việc Hồ Chí Minh lựa chọn nội các với đa số là cộng sản. Căng thẳng và đụng độ tiếp diễn giữa lực lượng Pháp và Việt Nam dẫn đến việc Pháp nã pháo vào Hải Phòng ngày 23/11, gây thương vong nặng nề cho quân Việt Nam. Đến ngày 2/12, Sainteny ở Hà Nội nhận thấy các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc. Ngày 19/12, Pháp yêu cầu giải giáp lực lượng dân quân Việt Nam. Quân Việt Nam đã tấn công quân Pháp tại Hà Nội đêm đó và hai ngày sau, Nguyễn Bình tấn công quân Pháp ở phía nam. Sainteny bị thương nặng trong cuộc giao tranh ở Hà Nội khi xe bọc thép của ông bị phục kích.

Để giải thích sự đổ vỡ hoàn toàn của cuộc đàm phán Pháp-Việt Minh, một số nhà quan sát cho rằng đô đốc d’Argenlieu đã theo đuổi chính sách trái ngược với chính phủ Pháp qua việc cản trở Hiệp định ngày 6/3, việc thúc đẩy nền độc lập của Nam Kì, việc “phá hoại” Hội nghị Fontainebleau và việc “bình định” Hải Phòng bằng cách bắn phá. Những người khác lại cho rằng Hồ Chí Minh đang chơi trò hai mặt và chỉ giả vờ thích con đường đàm phán hơn. Vẫn còn những người khác quy trò hai mặt này là do một số cộng sự của Hồ Chí Minh gây ra.[53] Dù sự thật nằm ở đâu, dường như rõ ràng, vì cả Pháp và Việt Minh lúc đó đều thiếu phương tiện quân sự đủ để cưỡng ép một giải pháp, nên việc tiếp tục đàm phán là cần thiết. Tuy nhiên, như đã xảy ra, các sự kiện tháng 12/1946 đã làm mọi việc trở nên phức tạp hơn rất nhiều.

Giờ đây thấy có vẻ hơi kì lạ khi nhớ lại rằng Chính phủ Pháp mà lực lượng của họ bị Việt Minh tấn công vào ngày 19 và 21/12, lai do Léon Blum, “một người theo chủ nghĩa xã hội và là người chỉ trích thực dân Pháp lâu năm…” đứng đầu.[54] Blum không hề thay đổi tư tưởng, nhưng đảng của ông yếu và chia rẽ. Ông cũng phải đối phó với áp lực từ phía cộng sản đòi  hoà bình và đàm phán để giữ Đông Dương trong Liên hiệp Pháp, và từ phe trung hữu chống lại một chính sách yếu đuối và mất danh dự. Trong hoàn cảnh đó, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đấu tranh giống như bất kì thủ tướng Pháp nào khác và giữ vững lập trường rằng “Trước hết, trật tự phải được lập lại, trật tự  hoà bình là nền tảng cho việc thực hiện các hợp đồng.”[55]

Nhà sử học người Pháp Philippe Devillers cho rằng Chính phủ Pháp đang cố tìm một giải pháp dung  hoà quyền tự trị cho Việt Nam với lợi ích của Pháp, trong khi quân đoàn viễn chinh của họ đang tiến hành một cuộc chiến khó khăn với nguồn lực thiếu thốn trên một đất nước rộng lớn. Đô đốc d’Argenlieu và các cố vấn của ông cho rằng, bằng cuộc tấn công vào Hà Nội hồi tháng 12/1946, Hồ Chí Minh đã tự loại mình khỏi vai trò người đối thoại. Do đó, chính quyền ở Sài Gòn khuyến nghị chính phủ nên “Việt Nam hóa” cuộc xung đột, đặc biệt là bằng cách mời cựu hoàng đế Bảo Đại tham gia. Ý tưởng này vẫn tồn tại sau khi đô đốc rời đi và dẫn đến những cuộc thảo luận không hồi kết với Bảo Đại.[56] Người kế nhiệm của Blum, Paul Ramadier, đã cử cao uỷ Émile Bollaert đến Đông Dương để đề xuất ngừng bắn và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Sau khi gặp phải sự phản đối từ quân đội Pháp, ông đã đưa ra một đề xuất, không bao gồm ngừng bắn lẫn độc lập, và đề xuất này đã bị Việt Minh và nhóm xung quanh Bảo Đại bác bỏ. Nói vắn tắt, vào ngày 7/12/1947, tại vịnh Hạ Long, Bảo Đại đã kí một tuyên bố chung [hiệp ước sơ bộ] với các điều khoản còn cách xa với độc lập. Chắc chắn, Bảo Đại hi vọng có thể xoay sở để đạt được những điều khoản tốt hơn, nhưng nếu vậy, hi vọng của ông đã quá lạc quan. Hiệp ước vịnh Hạ Long, được Pháp phê chuẩn vào ngày 19/8/1948, về cơ bản là sự lặp lại của thỏa thuận ngày 7/12 trước đó với Bảo Đại và Hiệp định Élysée tiếp sau ngày 9/3/1949, và đã hợp thức hóa giải pháp Bảo Đại, điều mà nhiều người cho rằng đã tiềm ẩn thất bại. Bảo Đại thật sự đã chấp nhận các điều khoản bị phái đoàn Việt Nam bác bỏ tại Fontainebleau năm 1946. Nếu như Bảo Đại nhận được độc lập thật sự và được trao cho sự thống nhất thật sự, ông có thể đã mở rộng được cơ sở ủng hộ của mình trong nông dân, trí thức và thanh niên. Ông khó có thể đạt được kết quả này trước sự phản đối của Việt Minh khi chính ông cũng tin rằng sự hiện diện liên tục của quân đội và quan chức Pháp đồng nghĩa với việc ông vẫn chưa có được độc lập.

Trong khi đó, Việt Minh, rõ ràng phản đối giải pháp Bảo Đại, vì nhiều lí do đã bắt đầu công khai chuyển theo phe cộng sản thế giới.[57] Kể từ tháng 8/1945, những người cộng sản đã đối xử thù địch với nhiều người yêu nước không cộng sản. Đến năm 1949, tình hình quốc tế trở nên căng thẳng và sự nhạy cảm của phương Tây đối với cộng sản ngày càng gia tăng. Dòng tiền đô la từ Kế hoạch Marshall đến Pháp đã cho phép mang đồng franc tài trợ Chiến tranh Đông Dương. Đến tháng 6/1949, Bộ Ngoại giao đã hoan nghênh sự hình thành quốc gia Việt Nam thống nhất mới (ba kì trong một quốc gia) và bày tỏ hi vọng Hiệp định Élysée sẽ tạo cơ sở cho việc từng bước hiện thực hóa nguyện vọng chính đáng của người dân Việt Nam.

Theo Devillers, Bộ Tổng tham mưu Pháp đã quyết định vào mùa xuân năm 1949 rằng họ không thể hi vọng “thắng” ở Đông Dương nếu không có viện trợ quân sự và tài chính của Mĩ. Ông cho biết họ cũng hiểu rằng họ chỉ có thể nhận được sự trợ giúp như vậy bằng cách đưa cuộc chiến ở Việt Nam vào kế hoạch chiến lược của Mĩ, đồng thời ít nhất cũng mang lại cho Việt Nam vẻ ngoài của một quốc gia độc lập. Họ nhận ra đây là một việc làm đầy rủi ro vì người Việt bảo thủ bị chia thành hai nhóm cơ bản. Một nhóm, mà người Pháp coi là thân Pháp, dựa vào sự kiên nhẫn và đàm phán để giành quyền lực và độc lập. Nhóm kia, được coi là thân Mĩ, không tin tưởng Pháp và trông chờ Mĩ gây áp lực tăng thêm lên Pháp, điều này sẽ cho phép nhóm thứ hai này nắm quyền và thực thi quyền lực nhờ sự trợ giúp của Mĩ.[58] “Đánh giá” tóm tắt này trình bày một phân tích khá tốt, dù hơi ngắn gọn, về một tình hình chính trị và ngoại giao phức tạp, bất kể nó có thể hiện quan điểm của Bộ Tổng tham mưu Pháp thời kì đó hay không. Tuy nhiên, nó không đề cập đến những gì đang diễn ra bên trong tổ chức Việt Minh, hoặc ở châu Âu.

Vào thời điểm này, Việt Minh vẫn còn là một phong trào quốc gia. Họ đã hạ giọng về đấu tranh giai cấp vì lí do chiến thuật. Giờ đây, họ thấy Pháp đang giành được sự ủng hộ của Hoa Kì. Quan trọng hơn, họ thấy cộng sản ở Trung Quốc đã lên nắm quyền. Trong bối cảnh những diễn biến này, họ đã chuẩn bị thay thế chính sách cũ về đoàn kết nội bộ và ngoại giao độc lập bằng một chính sách mới tuân theo đường lối của Bắc Kinh. Tháng 11/1949, Việt Minh cử một phái đoàn đến Hội nghị Công đoàn ở Bắc Kinh, ở đó Lưu Thiếu Kỳ đã vạch ra đường lối cộng sản cho Đông Nam Á. Bắc Kinh công nhận chế độ VNDCCH mới vào đầu tháng 1/1950, là quốc gia đầu tiên làm như vậy. Liên Xô cũng làm theo vào ngày 30/1.[59]

Người viết tiểu sử của Dean Acheson nhắc nhở chúng ta rằng, vào mùa thu năm 1949, Acheson, Ngoại trưởng của tổng thống Truman “nhận thấy Hoa Kì bị hạn chế nghiêm trọng khả năng ảnh hưởng đến các sự kiện quốc tế.”[60] Phong tỏa Berlin đã được dỡ bỏ nhưng đó là một xung đột nhỏ và không cải thiện được vị thế quyền lực của phương Tây. Vụ thử nguyên tử đầu tiên của Liên Xô vào tháng 8 diễn ra ngay sau chiến thắng của phe cộng sản ở Trung Quốc; Liên Xô đang đe dọa Nam Tư và tiến hành thanh trừng ở các nước vệ tinh khác; các cuộc đàm phán hiệp ước  hoà bình với Austria đã bị đình trệ; và sự chia rẽ dân tộc ở châu Âu vẫn tiếp diễn. Suy thoái kinh tế của Mĩ, thông qua việc gây ra giảm thu nhập của người Anh theo đô la, đã góp phần vào việc Anh quyết định phá giá đồng bảng Anh. Chính phủ Lao động Anh bất bình trước áp lực của Mĩ về hội nhập kinh tế châu Âu. Đại sứ Pháp cho rằng việc Anh phá giá tiền tệ trong các cuộc đàm phán tài chính Anh-Mĩ là một dấu hiệu “cho thấy sự tồn tại hoặc sự tái lập ‘quan hệ đặc biệt’ giữa Hoa Kì với Anh cũng như với Khối Thịnh vượng chung, gây tổn hại đến Cộng đồng Đại Tây Dương và hội nhập kinh tế châu Âu.”[61] Pháp buộc phải phá giá tiền tệ theo Anh, dẫn đến chi phí sinh hoạt ở Pháp tăng mạnh, chính phủ Queuille sụp đổ và Pháp đi vào một thời kì bất ổn. Trong khi đó, mặt khác, liên minh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã được kí kết và sắp thành hiện thực là Kế hoạch Schuman vốn “mang trong mình mầm mống của một liên minh toàn diện và gắn kết chặt chẽ hơn nhiều giữa các quốc gia châu Âu.”[62]

Cũng vào khoảng thời gian đó, một cuộc rà soát lại chính sách châu Á theo lệnh của Acheson vào mùa thu năm 1949 đã dẫn đến Tài liệu Tham mưu An ninh Quốc gia NSC 48/2, được tổng thống Truman phê duyệt vào ngày 31/12.[63] Tài liệu này, trong khi kêu gọi Mĩ tiếp tục nỗ lực chấm dứt chủ nghĩa thực dân và củng cố tinh thần quốc gia ở châu Á, cũng mô tả Đông Nam Á là “mục tiêu cho một cuộc tấn công phối hợp do điện Kremlin chỉ đạo”. Tài liệu kêu gọi Mĩ “trợ giúp và tư vấn về chính trị, kinh tế và quân sự khi cần để bổ sung vào sự kháng cự của các chính phủ khác trong và ngoài khu vực có liên quan trực tiếp hơn.”[64] “Acheson thậm chí còn phỏng đoán rằng nếu nỗ lực của Pháp ở Đông Dương sụp đổ, Hoa Kì có thể thấy mình buộc phải can thiệp thay chỗ họ. Đó không phải là một suy nghĩ dễ chịu, nhưng đó là điều làm nền tảng cho quyết định cuối cùng của ông là cung cấp cho Pháp sự trợ giúp chính trị và quân sự cần thiết để tiếp tục cuộc chiến.”[65] Stalin vẫn còn sống và mối đe dọa từ một âm mưu của cộng sản do Moscow chỉ đạo là khá thực tế. “Nhưng hoàn toàn tách biệt với chủ nghĩa Stalin, Acheson chủ yếu quan tâm đến tác động của một chiến thắng của Cộng sản ở Đông Dương tới tình hình bất ổn ở châu Á và dư luận trong nước.”[66]

Khi Chính phủ Hoa Kì thông báo công nhận Việt Nam, Lào và Cambodia vào ngày 7/2/1950, Hoa Kì đã dựa trên việc các quốc gia đó chính thức được thành lập như những quốc gia độc lập trong khối Liên hiệp Pháp và mô tả hành động này là phù hợp với chính sách cơ bản về cung cấp trợ giúp cho sự chuyển biến  hoà bình và dân chủ của các dân tộc bị phụ thuộc hướng tới tự quản và độc lập. Họ dự đoán việc thực hiện đầy đủ các thỏa thuận cơ bản này, và các hiệp định bổ sung, sẽ thúc đẩy sự ổn định chính trị và sự phát triển của các thể chế dân chủ hiệu quả ở Đông Dương. Một lần nữa, vào ngày 8/5/1950, khi Acheson tuyên bố mở rộng viện trợ quân sự và kinh tế cho các Quốc gia Liên kết (3 nước Đông Dương) và Pháp, ông nói rằng “Hoa Kì nhận thấy rằng việc giải quyết vấn đề Đông Dương phụ thuộc vào cả việc khôi phục an ninh lẫn sự phát triển của tinh thần quốc gia chân chính và rằng sự trợ giúp của Hoa Kì có thể và nên đóng góp vào những mục tiêu chính này.”[67]

Khi bình luận về việc Liên Xô công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh, Acheson nói rằng điều đó sẽ loại bỏ “… bất kì ảo tưởng nào về bản chất dân tộc chủ nghĩa trong mục tiêu của Hồ Chí Minh và cho thấy Hồ Chí Minh trong bộ mặt thật của mình là kẻ thù không đội trời chung của nền độc lập bản địa ở Đông Dương”[68] Trước đó, vào mùa hè năm 1949, ngoại trưởng này đã nói rằng “Nếu chế độ Cộng sản (Trung Hoa) chấp nhận mục tiêu của đế quốc Nga Xô Viết và cố gây hấn với các nước láng giềng của Trung Quốc, chúng ta và các thành viên khác của Liên Hợp Quốc sẽ phải bị đối mặt với một tình huống vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc và đe dọa  hoà bình và an ninh quốc tế.”[69]

Việt Minh đã thực hiện một bước đi mà họ chắc chắn biết sẽ gây thù địch với Hoa Kì. Chúng ta xem vai trò của mình là giúp hướng tới một giải pháp cho Đông Dương có thể đáp ứng các mục tiêu dân tộc chủ nghĩa và giảm thiểu căng thẳng cho các đồng minh châu Âu của chúng ta, đồng thời ủng hộ sự hiện diện của Pháp như một chỉ dẫn và giúp 3 quốc gia này tiến tới độc lập thật sự. Pháp đã do dự trong việc hành động nhanh chóng. Họ có lí do của riêng mình, liên quan đến mức độ mà họ tin rằng lợi ích và dư luận Pháp sẽ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến trong trường hợp không có bất kì triển vọng rõ ràng nào về sự hiện diện lâu dài. Người Việt Nam không cộng sản đòi quyền kiểm soát trong các lĩnh vực mà theo quan điểm của Acheson, họ khó có thể thực hiện hiệu quả nhất, lĩnh vực ngoại giao.[70] Tất nhiên, họ cũng có lí do của riêng mình, liên quan đến mức độ mà họ tin rằng lợi ích và dư luận Việt Nam sẽ ủng hộ cuộc chiến khi không có bất kì bằng chứng nào cho thấy độc lập thật sự sẽ thuộc về họ.

Trong Bộ Ngoại giao, Văn phòng phụ trách các vấn đề Đông Nam Á nghi ngờ rằng Hiệp định Elysée sẽ không diễn ra như được viết. Vụ châu Âu nghi ngờ rằng việc gây áp lực lên Pháp không thể làm được gì ngoài việc làm lập trường của họ về Đông Dương thêm cứng rắn và gây thù địch với họ về các vấn đề cùng quan tâm khác.[71] Trong khi đó, Hoa Kì bắt đầu nhận thấy việc Pháp đứng ở Đông Dương là một phần của nỗ lực chung nhằm đẩy lùi các cuộc phiêu lưu quân sự của cộng sản. Tất cả những cân nhắc này đã đặt nền tảng cho quyết định thứ ba của Hoa Kì về Đông Dương được đưa ra vào mùa xuân năm 1950. Bộ này khuyến nghị cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp và các Quốc gia Liên kết.[72] Khuyến nghị này cuối cùng đã được phê duyệt và chính thức hóa trong Hiệp định 5 bên về Viện trợ Quốc phòng Quân sự năm 1950 và trong các Hiệp định Viện trợ Kinh tế song phương năm 1951 với Cambodia, Lào và Việt Nam. Những diễn biến này khiến một số nhà quan sát, ví dụ như Devillers, cho rằng việc “Việt Nam hóa” cuộc chiến, hay còn gọi là “giải pháp Bảo Đại”, sẽ dẫn đến không phải việc giữ Việt Nam (cùng Lào và Cambodia) trong khối Liên hiệp Pháp mà là một cuộc xung đột Trung-Mĩ được tiến hành thông qua các lực lượng uỷ nhiệm (như ở Triều Tiên).[73]

Một số người trong Bộ Ngoại giao cho rằng, ngay cả với sự viện trợ kinh tế và quân sự, Pháp và Bảo Đại vẫn sẽ bị đánh bại trên chiến trường. Theo Acheson, tất cả mọi người trong Bộ đều cho rằng thất bại như vậy là có thể xảy ra trừ khi Pháp nhanh chóng chuyển giao quyền lực cho các Quốc gia Liên kết và thành lập các lực lượng quân sự bản địa.[74]

Như chúng ta đã lưu ý, Acheson phần nào đã dự đoán được những gì cuối cùng đã xảy ra vào năm 1954 khi người Pháp đến Geneva, và bắt đầu có xu hướng coi vai trò của Pháp ở Đông Dương là không thể thiếu. Nếu Pháp không được khuyến khích tiếp tục ở đó mà rút lui và giao toàn bộ vấn đề cho Hoa Kì, thì Hoa Kì sẽ phải đối mặt với một gánh nặng mà họ chưa thật sự sẵn sàng gánh vác.[75] Vì vậy, cần phải xử lí vấn đề với Pháp một cách rất cẩn thận, không chỉ trong bối cảnh tái vũ trang của Đức và sự phục hồi kinh tế của châu Âu, mà còn dưới ánh sáng của điều mà Hoa Kì coi đây là cuộc đấu tranh toàn cầu chống lại sự xâm lược của cộng sản, trong đó Hoa Kì cần tất cả sự giúp đỡ có thể nhận được.

Một nhóm nghiên cứu mới dưới quyền R. Allen Griffin đã đến Sài Gòn vào tháng 4/1950 và đưa ra khuyến nghị ủng hộ viện trợ quân sự và kĩ thuật, và Bộ Tham mưu Liên quân khuyến nghị ủng hộ viện trợ quân sự. Ngày 1/5/1950, tổng thống Truman phê duyệt khoản viện trợ quân sự trị giá $10 triệu cho Đông Dương. Ngày 8/5, sau cuộc đàm phán với Robert Schuman và Ernest Bevin (đồng nhiệm với Acheson trong Chính phủ Pháp và Anh), và sau khi tham khảo ý kiến của các nhóm và uỷ ban Quốc hội, Truman đã phê duyệt trợ giúp kinh tế và quân nhu. Pháp đồng ý cử một Phái đoàn Kĩ thuật và Kinh tế Đặc biệt (STEM [Special Technical and Economic Mission]), nhưng viện trợ phải được thu xếp thông qua Paris và rất ít viện trợ đến nơi vào năm 1950.[76]

Sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên vào ngày 24/6 đương nhiên đã tạo ra sự ủng hộ đáng kể cho quan điểm của Acheson – rằng một cuộc chinh phục của cộng sản đối với Đông Dương sẽ gây ra mối nguy hiểm không thể chấp nhận được đối với Đông Nam Á. Người viết tiểu sử của Acheson khẳng định, “Acheson chưa bao giờ có thể vượt qua mâu thuẫn giữa bản chất thật sự của nỗ lực của Pháp muốn khôi phục chế độ thực dân và niềm tin của ông rằng chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể bị đánh bại bằng cách trao quyền tự trị thật sự cho một chính phủ đại diện cho dân tộc Việt Nam.”[77] Khi phần chiến phí mà Hoa Kì đóng góp tăng lên, Pháp càng ít sẵn lòng hơn, chứ không phải ngược lại, trao độc lập thật sự hơn cho các Quốc gia Liên kết. Sự can thiệp của Trung Quốc vào Triều Tiên đã góp phần kết nối hai cuộc chiến tranh chặt chẽ hơn như là những khía cạnh của nỗ lực toàn cầu chống lại sự xâm lược của cộng sản. Tướng de Lattre de Tassigny đã công khai ủng hộ quan điểm này năm sau khi ông đến thăm Washington cùng với Schumann (tháng 9/1951). Tài liệu NSC 124/2 tháng 6/1952 nêu rõ rằng “nguy cơ của một cuộc tấn công quân sự công khai vào Đông Nam Á là điều vốn phải có trước sự hiện hữu của một Trung Hoa cộng sản thù địch và hung hăng.” Tài liệu này nói thêm: “Nếu không có phản ứng đối phó hiệu quả và kịp thời, một quốc gia đơn lẻ nào bị mất đi cũng có thể dẫn đến các quốc gia còn lại trong nhóm này nhanh chóng khuất phục hoặc liên minh với Cộng sản.”[78]

Khi xem xét những việc cần làm nếu Pháp yêu cầu Hoa Kì can dự quân sự trực tiếp vào Đông Dương, Acheson:

… đã trình bày một chiến lược tổng thể để giới quân sự Mĩ, Pháp và Anh xem xét… Chiến lược này bao gồm việc thừa nhận thực tế rằng cuộc chiến không thể thắng nếu không có các đội quân bản địa lớn mạnh và được huấn luyện tốt, mà Hoa Kì sẵn sàng chi trả và giúp huấn luyện. Chỉ nên xem xét các hành động trên không và trên biển chống Trung Quốc và cần phải làm rõ rằng chúng ta hành động chỉ để chống lại sự can thiệp của họ chứ không phải nhằm mục đích tiêu diệt chế độ của họ. Không có quân trên bộ của Mĩ được sử dụng ở Đông Dương. Sẽ là vô ích và sai lầm khi bảo vệ Đông Dương ngay tại Đông Dương.[79]

Thật thú vị khi xem một bài báo trên tạp chí Time ngày 28/8/1950, có tựa đề “Báo cáo đặc biệt: Đông Dương”.[80] Sau 6 tuần ở Đông Dương, trưởng văn phòng Paris của tạp chí đã có một số nhận xét sâu sắc. Ông nhận thấy Bảo Đại vẫn được kính trọng rất nhiều (chỉ mất đi phần nào do ông lơ là việc công), rằng chính phủ của ông yếu kém, không có uy tín trong nước, không có chính sách xã hội cũng như ý thức xã hội. Ông nhận thấy người Pháp đang phải trả giá đắt cho những sai lầm trong quá khứ và rằng sự không sẵn lòng mạo hiểm, cùng với tư duy pháp lí thiếu linh hoạt của họ, đã khiến khối Liên hiệp Pháp bị cứng đờ, đe dọa bóp nghẹt nó ngay từ khi mới hình thành. Tuy nhiên, ông nhận thấy người Pháp ở Đông Dương đang kéo dài thời giờ cho phương Tây và do đó, nguyên tắc đầu tiên trong chính sách của Hoa Kì ở Đông Dương phải là viện trợ cho quân đội Pháp. Nếu Pháp trao độc lập hoàn toàn cho Bảo Đại và rút lui, như đôi khi được đề xuất, thì chế độ cộng sản sẽ cai trị Sài Gòn hai tuần sau khi người Pháp rời đi. Đề xuất khác, rằng Hoa Kì nên tập trung vào việc củng cố sức mạnh của Pháp để đè bẹp phe cộng sản trong khi để chính trị Việt Nam tạm ngừng hoạt động, sẽ không có tác dụng. Châu Âu lẫn châu Á đều không thể được bảo vệ vĩnh viễn bằng lực lượng bên ngoài. Cuộc chiến có một phần là cuộc nội chiến Đông Dương và chỉ có thể giành chiến thắng hoàn toàn bởi đa số của một dân tộc tự do được khơi gợi bằng một lí tưởng quốc gia. Có một giải pháp thứ ba có thể đưa người dân Việt Nam vững chắc về phía phương Tây: hãy cho họ lòng tự trọng của những người tự do. Hãy để người Pháp xây dựng một đội quân quốc gia Việt Nam mà cuối cùng có thể thay thế quân Pháp; hãy để người Pháp cung cấp vũ khí cho những dân làng nào có mong muốn tự vệ không có gì là đáng ngờ. Hoa Kì cam kết viện trợ dân sự $ 23,5 triệu cho Chính phủ Việt Nam. Sài Gòn cũng kì vọng nhận được $ 200 triệu trong tổng số $ 300 triệu dành cho Đông Nam Á. Khi viện trợ được trao cho, Hoa Kì sẽ phải gây áp lực khéo léo lên Việt Nam và Pháp để họ sửa chữa những sai lầm của minh. Hoa Kì sẽ phải giúp các nhà quản lí năng động, khuyên những người khác sử dụng những gì họ đang có trước khi yêu cầu thêm, khởi xướng một chính sách xã hội và dạy cho giới trí thức Đông Dương rằng tự trị không chỉ đơn thuần là một thứ gì được trao cho với giấy chứng nhận và dải ruy băng hồng, mà là một vị thế cần phải giành được và một trách nhiệm cần phải nhận lấy. Tất cả những điều này đều là lời khuyên tuyệt vời, nhưng cho thì dễ hơn thực hiện, nói dễ hơn làm.

Những người chỉ trích quyết định cấp viện trợ quân sự và kinh tế cho Pháp và 3 nước Đông Dương cho rằng quyết định này không giúp Pháp từ bỏ nỗ lực vô vọng tái lập vai trò thực dân của họ, cũng không giúp họ đủ mạnh để làm điều đó, hay giúp họ đánh bại Hồ Chí Minh rồi rời đi một cách êm thấm. Acheson cho rằng chỉ trích này không có cơ sở trên nhiều phương diện: nó không xem xét giới hạn mức độ của việc ép buộc một đồng minh; nó không xem xét rằng việc từ chối giúp đỡ và ủng hộ một đồng minh chỉ có hiệu quả khi đồng minh đó không thể làm gì nếu không có sự giúp đỡ, giống như trường hợp của Hà Lan ở Indonesia; và nó không xem xét rằng việc từ chối viện trợ cho Pháp có thể loại bỏ họ khỏi sân chơi nhưng không thể tạo ra một tình thế “có lợi” ở Đông Dương hay Đông Nam Á. Hành động như vậy cũng không thể thúc đẩy sự ổn định và việc phòng vệ châu Âu.[81]

Sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên đã có ảnh hưởng không thể tránh khỏi đến diễn biến ở Đông Dương. Đến tháng 9/1950, Pháp đã đồng ý thành lập quân đội bản địa với viện trợ tài chính và vật chất của Hoa Kì. Bộ trưởng Heath ở Sài Gòn đồng tình với quyết định này nhưng chỉ ra rằng chỉ khi nào 3 nước Đông Dương giữ vai trò thật sự thì mới có thể tạo ra hiệu quả chính trị và tâm lí mong muốn.[82]

Nỗ lực viện trợ quân sự của Hoa Kì tiếp tục phát triển trong suốt năm 1950 và chỉ cần lướt nhìn vào một vài mốc thời gian quan trọng trong năm đó cũng đủ thấy mối liên hệ ngày càng tăng giữa nỗ lực này với những diễn biến ở châu Âu và Triều Tiên.

8/5/1950                Mĩ thông báo viện trợ quân sự và kinh tế cho các Quốc gia Liên kết (3 nước Đông Dương)

4 tháng 6              Chuyến tàu chở vũ khí viện trợ đầu tiên rời Mĩ

25 tháng 6            Bắc Triều Tiên xâm lược Nam Triều Tiên

26 tháng 6            Tổng thống Truman ra lệnh tăng viện trợ cho Đông Dương (cùng những điều khác)

8 tháng 7              Tướng MacArthur nhậm chức Tư lệnh quân Liên Hợp Quốc

16 tháng 7            Phái bộ MAP của Mĩ đến Sài Gòn, Hồ Chí Minh công kích can thiệp Mĩ trên đài phát thanh

3 tháng 8               MAAG thường trực được thành lập ở Sài Gòn dưới quyền tướng Francis Brink

11 tháng 8            Lô vũ khí đầu tiên đã đến

23 tháng 8            Pháp quyết định phái tiểu đoàn đến Triều Tiên

22 tháng 9            Kế hoạch Pleven về Lực lượng châu Âu [83]

1 tháng 10             Tướng Graves B. Erskine và John Fremont Melby đến Sài Gòn để đánh giá lại nhu cầu vũ khí,

theo Hiệp định 5 bên năm 1950

6 tháng 12             Dưới áp lực của Mĩ, Pháp chấp nhận thỏa hiệp về việc tái vũ trang Đức

Năm 1951 chứng kiến một cuộc tranh luận lớn ở Hoa Kì, trong đó phe cánh hữu Cộng  hoà đã thách thức không thành công quyền lực của tổng thống trong việc điều động lực lượng vũ trang Hoa Kì ra nước ngoài. Cựu tổng thống Herbert Hoover và thượng nghị sĩ Taft phản đối việc phái quân đến châu Âu. Taft cáo buộc chính quyền đã ban hành chính sách từ năm 1945 mà không tham khảo ý kiến Quốc hội hay người dân. Tuy nhiên, các đảng viên Cộng  hoà Dwight Eisenhower, Thomas Dewey và Harold Stassen ủng hộ lập trường của chính quyền về việc trợ giúp quân sự cho châu Âu. Ngày 4/4/1950, Thượng viện đã phê chuẩn việc đóng góp một tỉ lệ công bằng quân đội Mĩ cho phòng thủ châu Âu nhưng yêu cầu tổng thống tham vấn trước khi thật sự điều quân, và cố hạn chế số lượng quân có thể được phái đi. Kết quả của cuộc tranh luận lớn này không chỉ khẳng định quyết định của Hoa Kì trong việc bảo vệ châu Âu tại chỗ mà còn cả quyền lực của tổng thống trong việc điều động lực lượng vũ trang ra nước ngoài.[84]

Đến năm 1951, Chiến tranh Đông Dương bắt đầu thay đổi bản chất từ một cuộc chiến tranh thuộc địa truyền thống sang một cuộc chiến tranh giải phóng theo đường lối cộng sản. Việc Cộng sản Trung Hoa nắm quyền kiểm soát lục địa Trung Hoa đã làm thay đổi hoàn toàn tình hình quân sự. Miền Nam Trung Hoa trở nên quan trọng hơn nhiều với vai trò là khu vực căn cứ an toàn cho lực lượng Cộng sản Việt Nam, tương tự như Mãn Châu trong tình huống Triều Tiên. Trong cùng thời kì đó, chiến thuật và chiến lược của Việt Minh cũng mang những đặc điểm riêng của một cuộc chiến tranh giải phóng cộng sản khi họ phát triển các cơ cấu chính trị và xã hội.[85] Tướng Jean de Lattre de Tassigny, xuất hiện vào cuối năm 1950 và giữ chức cao uỷ kiêm tổng tư lệnh cho đến khi mất tại Paris vào ngày 12/1/1952, dường như hiểu được tầm quan trọng của sự thay đổi về bản chất của cuộc đấu tranh. Bài phát biểu nổi tiếng của ông trước các học sinh trường trung học Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn vào ngày 11/7/1951 đã phản ánh sự hiểu biết này.[86] Ông nói với họ: “Hãy là đàn ông… Nếu bạn là cộng sản, hãy gia nhập Việt Minh; có một số cá nhân chiến đấu tốt cho một lí tưởng tồi. Nhưng nếu các bạn là người yêu nước, hãy chiến đấu vì đất nước của mình, vì cuộc chiến này là của các bạn.”

Thực tế là, những lời lẽ mà vị tướng này dùng để kêu gọi thanh niên Việt Nam chọn phía trong cuộc đấu tranh chống cộng sản, những lời lẽ nghe có vẻ đầy cảm hứng và khơi gợi đối với người phương Tây, lại trở nên trống rỗng đối với thanh niên Việt Nam bởi vì theo cách nhìn của họ, vấn đề nan giải về độc lập thật sự vẫn như trước nay, chưa được giải quyết.

Thành tựu chính của De Lattre là dập tắt được sự hoảng loạn mới chớm nở trong lòng người Pháp ở Đông Dương bằng sức mạnh cá nhân ông và ngăn cản Giáp tiếp tục các hoạt động quân sự thông thường vào thời điểm đó với việc đánh bại ông ta một cách sít sao nhưng dứt khoát tại Vĩnh Yên. Nhờ vậy, ông đã giúp cho Chính phủ Pháp có thêm thời gian, nhưng họ không thể tận dụng khoảng thời gian này để khởi xướng bất kì sáng kiến mới khả thi nào cho một dàn xếp chính trị.[87] Từ năm 1951, giải pháp Bảo Đại rõ ràng đã mờ nhạt và tàn lụi, ý chí chính trị của Pháp trong việc tiếp tục cuộc đấu tranh bằng lực lượng hiện có, và trong bối cảnh không có bất kì triển vọng nào về một thỏa thuận chính trị thật sự với người Việt Nam không cộng sản, đã tan biến. Cũng vào lúc đó, Hoa Kì bắt đầu can dự ngày càng tăng nhưng không dứt khoát.[88]

Một vài mốc thời gian được nhớ lại từ giai đoạn 1951-1953 cho thấy sự phát triển song song của hai xu hướng này.

11/9/1951              Hoa Kì kí hiệp định viện trợ kinh tế song phương với các Quốc gia Liên kết

16/12/1951            Mendès France kêu gọi đàm phán  hoà bình

12/1/1952              De Lattre mất tại Paris

27/5/1952              Cộng đồng phòng vệ Châu Âu được thành lập

29/9/1952              Daladier kêu gọi chấm dứt Chiến tranh Đông Dương

12/10/1952            Chiếc tàu thứ 200 chở hàng quân viện của Hoa Kì đến Sài Gòn

27/2/1953              Reynaud kêu gọi tăng cường nỗ lực chiến tranh sau khi thăm Sài Gòn và Hà Nội

26/2/1953              Đài phát thanh Bắc Kinh phác thảo Chương trình Việt Minh năm 1953

 30/3/1953             Pháp thiết lập trại phòng thủ tại Cánh Đồng Chum, Lào, để bảo vệ Luang Prabang trước mối

                              đe dọa của Việt Minh

16/4/1953              Lào kêu gọi Liên Hợp Quốc về mối đe dọa từ Việt Minh, qua mặt và gây khó xử cho Pháp

19/4/1953              Sihanouk kêu gọi quyền tự trị lớn hơn

7/5/1953                6 chiếc Flying Box Car (máy bay vận tải hàng không dân dụng) của CIA được Hoa Kì gửi đến

Hà NộI để giúp Pháp

9/5/1953                Eisenhower ra lệnh viện trợ quân sự đặc biệt trị giá $ 60 000 000

9/5/1953                Tướng Navarre nhậm chức chỉ huy

4/6/1953                Mendès France gọi chiến tranh là một đòn giáng mạnh

25/6/1953              Schumann kêu gọi  hoà bình thông qua đàm phán

3/7/1953                Tướng Mĩ “Iron Mike” O’Daniel thăm Việt Nam

18/7/1953              60 sĩ quan Không quân Mĩ được cử đi huấn luyện phi công Pháp

16/9/1953              Bedell Smith nói Mĩ sẽ không đứng yên nếu Trung Quốc có động thái

24/10/1953            Quốc hội Pháp bỏ phiếu về cuộc tranh luận về chiến tranh

1/11/1953              Phó tổng thống Nixon kêu gọi Việt Nam đẩy mạnh nỗ lực chiến tranh

3/11/1953              Phó tổng thống Nixon nói Mĩ sẽ phản đối  hoà bình thông qua đàm phán

21/11/1953            Quân đội Pháp chiếm Điện Biên Phủ

30/11/195              áo Stockholm Expressen đăng tải đề nghị ngừng bắn của Hồ Chí Minh

17/12/1953            Nguyễn Văn Tâm (một người được Pháp bảo trợ, được đưa lên làm thủ tướng thay thế Trần

Văn Hữu) từ chức do tranh chấp với Bảo Đại về kế hoạch thành lập Chính phủ Liên hiệp Quốc

gia để đàm phán với Việt Minh

27/1/1954              Eisenhower nói Mĩ sẽ duy trì lực lượng ở mức thích hợp để đáp ứng các cam kết ở châu Á

Hoa Kì đã kí các thỏa thuận song phương về viện trợ kinh tế cho các Quốc gia Liên kết ở Đông Dương vào thời điểm mà Chiến tranh Lạnh, đặc trưng bởi “chủ nghĩa Stalin ở nước ngoài” và “chủ nghĩa McCarthy trong nước”, chắc chắn đã ảnh hưởng đến các quyết sách của Hoa Kì.[89] Tài liệu NSC-68 (tháng 4/1950) đã dự đoán một cuộc tấn công của lực lượng cộng sản ở một số nơi trên thế giới và đã khuyến nghị “Hoa Kì nên chuẩn bị đầy đủ để chống lại việc nổ ra bất kì cuộc tấn công nào như vậy, có hợp tác với các đồng minh nếu có thể, nhưng nếu cần thì bằng chính lực lượng vũ trang của mình.”[90] Khi Bắc Triều Tiên tấn công qua vĩ tuyến 38 vào ngày 25/6/1950, hành động của họ nói chung được Hoa Kì nhìn nhận là một hành động chiến tranh “do Moscow thúc đẩy và chỉ đạo nhằm hỗ trợ chiến lược thế giới của Cộng sản quốc tế.”[91] Cuộc tấn công ở Triều Tiên là một thách thức đối với thế giới tự do và toàn bộ hệ thống an ninh tập thể thời hậu chiến, và cần phải được ứng phó. Mặc dù trước đó không có cảm nhận mạnh mẽ nào về tầm quan trọng chiến lược của Triều Tiên như thế, nhưng hành động của Bắc Triều Tiên đã thay đổi tất cả điều này. Chính quyền Truman cho rằng hành động của Bắc Triều Tiên “đe dọa các nguyên tắc cơ bản trong chính sách toàn cầu của chúng ta và có khả năng đe dọa an ninh quốc gia của chúng ta.”[92]

Tổng thống Truman đã có những hành động mạnh mẽ và các cuộc thăm dò dư luận cho thấy 73% người dân ủng hộ ông.[93] Ông đã yêu cầu triệu tập một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, với Liên Xô tẩy chay không dự, đã thông qua với tỉ lệ 9-0, với Nam Tư bỏ phiếu trắng, một nghị quyết coi hành động của Bắc Triều Tiên là vi phạm  hoà bình và kêu gọi họ rút quân ngay lập tức về phía sau vĩ tuyến 38. Ông uỷ quyền cho tướng MacArthur, với tư cách là tổng tư lệnh Lực lượng Hoa Kì tại Viễn Đông, cung cấp vũ khí và đạn dược cho Nam Triều Tiên và bảo vệ việc sơ tán tất cả người Mĩ. Ngày hôm sau, ông ra lệnh cho MacArthur điều lực lượng không quân và hải quân đến giúp Nam Triều Tiên. Đại diện của Mĩ đã đưa ra một nghị quyết mới cho Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, khuyến nghị tất cả các thành viên của Liên hợp quốc cung cấp sự trợ giúp cần thiết cho Nam Triều Tiên để đẩy lùi sự xâm lược và lập lại  hoà bình. Nghị quyết này đã được thông qua với tỉ lệ 7-1, với Ấn Độ và Ai Cập bỏ phiếu trắng và Nam Tư bỏ phiếu chống. Điều quan trọng là phải nhớ lại bầu không khí của những ngày đó. Mặc dù là bên chủ động, Hoa Kì đã tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên dưới “cờ” của Liên hợp quốc và nhận được sự ủng hộ rộng rãi, ít nhất là lúc đầu.[94]

Cùng lúc đó, tổng thống Truman, với trách nhiệm cá nhân và hành động độc lập với Liên Hợp Quốc, đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan để ngăn chặn lực lượng Cộng sản Trung Quốc lợi dụng cơ hội này tấn công phe Quốc dân đảng trên đảo. Quyết định tháng 6/1950 này trên thực tế đã đảo ngược chính sách được tuyên bố vào tháng 1/1950 rằng Formosa (nay là Đài Loan) nằm ngoài tuyến phòng thủ chiến lược của Mĩ ở tây Thái Bình Dương.[95]

Với những quyết sách đạt được sau cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên, Hoa Kì bước vào một giai đoạn mới trong chính sách kiềm chế tổng thể của mình ở Viễn Đông. Tại Triều Tiên, Hoa Kì hành động để ngăn chặn sự xâm lược vũ trang và ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản. Về vấn đề Đài Loan, các bước đã được thực hiện để ngăn chặn việc mất đi hòn đảo còn lại của Trung Hoa tự do này vào tay cộng sản. Theo lời khuyên của ngoại trưởng Acheson, Truman đã tiến thêm một bước nữa với việc ra lệnh “đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ quân sự cho lực lượng của Pháp và các Quốc gia Liên kết ở Đông Dương.”[96]

Tháng 5/1951, Trung Quốc xâm lược và nhanh chóng chiếm đóng Tây Tạng, làm dấy lên câu hỏi Trung Quốc có thể tiến xa đến mức nào và ở đâu. Đông Dương có vẻ có khả năng nhất là mục tiêu tiếp theo.[97] Bắc Kinh đang tăng viện trợ quân sự và trợ giúp cho Việt Minh trong cuộc đấu tranh chống lại Pháp. (Thật thú vị khi đọc các tài liệu tuyên truyền của Trung Quốc trước và sau các hoạt động quân sự của họ dọc biên giới VNDCCH [CHXHCNVN – ND] vào đầu năm 1979. Các tài liệu này mô tả phạm vi rộng lớn và tầm quan trọng then chốt của viện trợ dành cho Cộng sản Việt Nam trong những ngày đầu và lên án bên nhận vì sự vô ơn tột độ của họ.) Việc tập trung quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc dọc biên giới cũng làm dấy lên khả năng Trung Quốc có thể can thiệp như họ đã từng làm ở Triều Tiên.

Việc Hoa Kì ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với nỗ lực quân sự của Pháp, bất chấp việc thiếu tiến bộ hướng tới nền độc lập thật sự cho các Quốc gia Liên kết, là để phản ứng trước áp lực phát sinh từ tình hình ở châu Âu. Kể từ khi Thế chiến II kết thúc, chính sách của nước này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tầm quan trọng của việc duy trì sự hợp tác đầy đủ của Pháp trong chương trình đồng minh nhằm chống lại sự xâm lược có thể xảy ra của Liên Xô ở châu Âu. Vào lúc đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc thuyết phục Chính phủ Pháp, vốn khá thiếu nhiệt tình, tham gia Cộng đồng Phòng thủ châu Âu vừa được đề xuất.[98]

Đã có một số phản đối trong Bộ về việc phát triển mối quan hệ gần gũi hơn này với Pháp. Một học giả nhận xét rằng “Trong Bộ Ngoại giao, từ lâu đã có những nghi ngờ về sự khôn ngoan của việc chúng ta can dự vào Việt Nam và một số lo ngại về việc chương trình viện trợ quân sự của chúng ta cuối cùng có thể dẫn chúng ta đến đâu. Nhưng đà tiến của các sự kiện đã buộc phải tăng tốc lên.”[99] Ngoại trưởng Acheson sau đó đã viết:

Chúng ta đã đồng ý tăng mạnh viện trợ quân sự. Mặc dù Pháp phàn nàn rằng viện trợ của chúng ta không đủ, nhưng vẫn nhiều hơn mức Đông Dương có thể hấp thụ. Pháp cũng phàn nàn rằng các đồng minh của họ không đánh giá cao những nỗ lực của họ ở Đông Dương và Việt Nam không hợp tác. Bảo Đại đáp lại rằng Paris do dự và dè xẻn trong việc để cho ông tạo dựng những yếu tố cần thiết của một quốc gia độc lập. Trong khi cuộc tranh cãi này đang diễn ra, tướng MacArthur đã bắt đầu cuộc hành quân định mệnh đến sông Áp Lục và đến đầu tháng 11 đã bắt được những tù binh Trung Quốc đầu tiên. Vào Lễ Tạ ơn, thảm họa ập đến với ông… Tuy nhiên, ngay cả trước khi thảm họa xảy ra, một lời cảnh báo sáng suốt đã đến từ một đồng nghiệp tài giỏi trong Bộ, John Ohly, thúc giục rằng sự xuất hiện của Trung Quốc ở Triều Tiên đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại hướng đi của mình ở Đông Dương. Không chỉ có nguy cơ thật sự là những nỗ lực của chúng ta sẽ thất bại trong mục đích trước mắt, mà chúng ta còn đang tiến vào một vị trí ở Đông Dương trong đó “trách nhiệm của chúng ta có xu hướng thay thế chứ không phải bổ sung cho trách nhiệm của người Pháp.” Ông nói thêm, “chúng ta có thể trở thành vật tế thần cho Pháp và bị cuốn vào sự can thiệp trực tiếp. Những tình huống này có xu hướng leo thang,” ông kết luận. Những nguy hiểm mà ông chỉ ra phải mất hơn một thập kỉ mới hiện thực hóa hoàn toàn, nhưng chúng đã hiện thực hóa.

Tuy nhiên, tôi quyết định rằng một khi đã bắt tay vào việc, chúng ta sẽ không nhìn lại…[100]

Tháng 11/1950, mặc dù Quốc hội Pháp đã bỏ phiếu tăng cường lực lượng Pháp ở Đông Dương và thành lập lực lượng quốc gia tại các Quốc gia Liên kết, và mặc dù việc chuyển giao quyền lực địa phương dự kiến sẽ diễn ra vào đầu năm 1951, Acheson lưu ý rằng ngày chuyển giao liên tục bị hoãn lại.[101] Pháp đã kí các thỏa thuận cơ bản về độc lập trong khối Liên hiệp Pháp với Việt Nam vào ngày 8/3/1949, với Lào vào ngày 19/7 và với Cambodia vào ngày 8/11. Tuy nhiên, phải đến tháng 12/1950, một loạt các công ước liên quốc gia chi tiết mới được kí kết, bao gồm Bưu chính và Viễn thông, Nhập cư, Tái thiết, Hiện đại hóa và Trang thiết bị, việc sử dụng Cảng Sài Gòn, Hải quan, Ngoại thương, Ngoại hối, Phát hành tiền tệ và Hoạt động Kho bạc.[102]

Năm 1951, viện trợ quân sự của Hoa Kì tăng lên hơn nửa tỉ đô la. Acheson nhận thấy rằng, bất chấp hai chuyến thăm Washington của de Lattre trong năm đó để yêu cầu viện trợ nhiều hơn và nhanh hơn, ông ta lại tỏ ra khó chịu khi bị hỏi về kế hoạch quân sự và ý định chuyển giao quyền lực cho 3 quốc gia này. Ngoài ra, theo góc nhìn của Acheson có vẻ có quá ít tiến triển trên thực địa ở Việt Nam về việc phát triển sức mạnh quân sự cũng như phát triển chính quyền địa phương và sự ủng hộ của người dân. Lực lượng Việt Nam đã tăng lên 4 sư đoàn vào năm 1951 nhưng họ chỉ có 700 trong số 2 000 sĩ quan Việt Nam cần đến và học viện quân sự tại Đà Lạt chỉ đào tạo được 200 sĩ quan mỗi năm.[103] Đề nghị của Mĩ về việc cung cấp huấn luyện viên từ phái đoàn quân sự tại Triều Tiên đào tạo hàng loạt sĩ quan Triều Tiên đã bị Pháp từ chối.[104] Khoảng thời gian còn lại của năm này chứng kiến rất ít tiến triển trong việc phát triển sức mạnh quân sự ở Đông Dương, và Mĩ, bị sa lầy trong các cuộc đàm phán tại Bàn Môn Điếm, ngày càng trở nên thất vọng. Bộ Tham mưu Liên quân cảnh báo chống lại bất kì tuyên bố nào có thể ràng buộc hoặc tạo ấn tượng cho Pháp về việc sẽ đưa lực lượng Hoa Kì vào Đông Dương trong tương lai. Bộ này đã tuân thủ đường lối này trong các cuộc thảo luận tiếp theo với Pháp vào mùa thu.[105] Tháng 1/1952, tại một cuộc họp của các tham mưu trưởng Anh, Pháp và Mĩ ở Washington, Pháp một lần nữa nêu lên câu hỏi về những gì sẽ được thực hiện nếu Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào Đông Dương. Các lãnh đạo Mĩ chỉ giữ lập trường rằng diễn biến như vậy sẽ là vấn đề lo ngại đối với Liên Hợp Quốc.[106] Hai tuần sau, các đại biểu Mĩ, Anh và Pháp tại cuộc họp Đại hội đồng ở Paris được chỉ thị phải giữ lập trường tương tự. Không có quyết định nào được đưa ra về việc một hoặc tất cả 3 đồng minh sẽ làm gì nếu Trung Quốc can thiệp, mặc dù hành động như vậy đã được lo ngại trong suốt mùa xuân năm 1952.[107]

Theo kết quả của cuộc họp tại Nhà Trắng ngày 19/5/1952, có sự tham gia của bộ trưởng Quốc phòng Lovett và tướng Bradley, Acheson được chỉ thị thảo luận 4 điểm với Eden và Schuman:[108]

  • phát triển hơn nữa các lực lượng bản địa và sự sẵn lòng của chúng ta trong việc trợ giúp thêm cho nỗ lực của họ;
  • một cảnh báo 3 bên có thể có đối với Bắc Kinh về hành động gây hấn ở Đông Dương, bao gồm các cuộc thảo luận dự phòng về ngoại giao và quân sự;
  • dự kiến các phản ứng ​​của Bắc Kinh;
  • phương án hành động mở và chấp nhận được đối với 3 cường quốc nếu cảnh báo bị phớt lờ.

Acheson được yêu cầu tránh đề cập đến bất kì khoản viện trợ cụ thể nào thêm và những thay đổi nội bộ ở Đông Dương ngoài việc phát triển lực lượng. Việc giới hạn chương trình nghị sự được hi vọng sẽ tránh làm phật lòng người Pháp ở những vấn đề thứ yếu. Cuộc đàm phán ở Paris đã dẫn đến quyết định gặp lại Letourneau, bộ trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết, sau khi ông hoàn thành chuyến thăm Đông Dương.

Trong khi đó, các báo cáo từ các tòa đại sứ ở Paris và Sài Gòn đã cho thấy rõ khó khăn mà Chính phủ Hoa Kì đang phải đối mặt. Acheson đã tóm tắt các báo cáo này như sau:

Paris nói với chúng tôi rằng người Pháp liên kết vấn đề Đông Dương với vấn đề Tunisia-Morocco và bất bình trước điều mà họ coi là “sự can thiệp của Hoa Kì”. Cả Paris và Sài Gòn đều đồng ý rằng Đông Dương cần được “hồi sinh”, nếu không việc tiêu hao nguồn lực của Pháp có thể dẫn đến quyết định cắt giảm tổn thất và rút lui. Bảo Đại không phải là người có thể gắn kết Việt Nam lại với nhau, nhưng người Pháp phải tiến xa hơn để đẩy nhanh sự phát triển của các Quốc gia Liên kết, đúng vào lúc cái chết của De Lattre đã loại bỏ sự lãnh đạo hiệu quả của Pháp. Sài Gòn, trong khi nhận thức được sự nhạy cảm của Pháp, tin rằng chúng ta nên kiên quyết đòi thông tin và hành động đồng thời với việc Pháp yêu cầu chúng ta viện trợ. Tất nhiên, đó là điều chúng ta đã làm trong hai năm qua.[109]

Vào giữa tháng 6, khi Jean Letourneau, người cũng trở thành cao uỷ sau khi de Lattre mất, yêu cầu thêm viện trợ, Acheson nói với ông rằng, vì Hoa Kì đang chi trả hơn 1/3 chi phí cho chiến dịch ở Đông Dương, nên việc mong đợi thêm thông tin từ phía Pháp dường như không phải là không hợp lí. Thông tin này cần thiết để chính phủ có thể giải thích cho người dân Mĩ vì sao họ đóng góp và tiến bộ đã đạt được như thế nào. Chúng tôi cũng không nghĩ rằng những đề xuất thân thiện từ một đồng minh tích cực như vậy lại bị coi là can thiệp. Letourneau không phản đối lập luận này nhưng chẳng có gì nhiều xảy ra. Cần lưu ý rằng, vào lúc đó, Hiệp định Bonn đang chờ được Thượng viện và Quốc hội Pháp phê chuẩn và tình hình ở Đông Dương, như thường lệ, rất nguy kịch. Do đó, không ai nghĩ rằng việc chấm dứt hoặc đe dọa chấm dứt viện trợ cho Đông Dương là một ý kiến hay trừ khi Pháp không làm những gì Hoa Kì muốn về cải cách quân sự và chính trị.[110]

Thay vì vậy, Hoa Kì đã đưa ra một thông cáo[111] lưu ý rằng cuộc chiến ở Đông Dương là một phần của cuộc kháng chiến toàn cầu chống lại “những nỗ lực chinh phục và lật đổ của Cộng sản”, và rằng Pháp có “vai trò chủ yếu ở Đông Dương”, giống như vai trò mà Hoa Kì đã đảm nhiệm ở Triều Tiên. Thông cáo cũng nói thêm rằng, trong phạm vi cho phép của Quốc hội, Hoa Kì sẽ tăng viện trợ để gầy dựng các quân đội quốc gia.[112] Letourneau, vì mục đích của mình, đã nói về tiến bộ quân sự và chính trị ở Đông Dương khi ông trở về nước và dự đoán viện trợ của Hoa Kì sẽ tăng lên 40% tổng chi tiêu của Pháp ở Đông Dương trong 6 tháng tới.

Cuối tháng 6, Acheson gặp Schuman và Eden ở London và thảo luận về việc có nên đưa ra cảnh báo cho Bắc Kinh về việc can thiệp quân sự vào Việt Nam hay không. Khi chỉ ra rằng nếu đưa ra cảnh báo mà không hành động gì nếu bị phớt lờ thì sẽ là “tai hoạ”, Acheson thúc giục cần phải xác định các bước mà mỗi đồng minh sẽ thực hiện để đối phó với một cuộc can thiệp. Ông nói rõ rằng việc Hoa Kì đưa quân vào Triều Tiên và châu Âu sẽ hạn chế sự tham gia thêm của Mĩ ở Đông Dương xuống mức chỉ hành động trên không và trên biển. Ý tưởng về một cảnh báo đã không được 3 đồng minh bàn thêm nữa.[113]

Tháng 12, Bộ nhận thấy có sự bất an tăng thêm ở người Pháp về Đông Dương và có một khoảng cách lớn trong thông tin về tình hình hiện tại ở đó so với các kế hoạch đối phó của Pháp. Rõ ràng, ý định ban đầu của Pháp là làm cho kẻ thù suy yếu đến mức lực lượng của các Quốc gia Liên kết có thể xử lí tình hình trước khi giảm quân số Pháp ở Đông Dương, đã bị diễn biến thực tế làm cho phá sản. Tại một cuộc họp ở Paris, Schuman đã yêu cầu viện trợ tài chính thêm, mặc dù vào lúc này, Hoa Kì đang gánh vác 40% gánh nặng. Ngay trước khi Acheson lên đường trở về Hoa Kì, Letourneau, trước sự chứng kiến của Schuman, đã đưa ra một đề xuất kêu gọi giúp đỡ mới trong việc tăng thêm quân để ứng phó với các cuộc tấn công dự kiến của địch ở Lào và Việt Nam. Acheson phản ứng bằng việc nhấn mạnh rằng Hoa Kì cần phải có thông tin đầy đủ và chi tiết mọi mặt của tình hình ở Đông Dương. Thông tin nhận được không đạt yêu cầu. “Điều này cần phải được khắc phục. Chúng tôi phải biết tình hình như thế nào và chúng ta sẽ làm gì nếu, khi và lúc nào chúng ta phải thực hiện bất kì bước tiếp theo nào.”[114]

Sự bất lực của Pháp trong việc giành chiến thắng quân sự trong hoàn cảnh hiện tại ngày càng trở nên rõ ràng. Các cân nhắc chính trị đã hạn chế quy mô lực lượng được triển khai đến Đông Dương. Sự bất mãn của người Việt Nam (và Cambodia) với mức độ độc lập mà người Pháp dường như sẵn sàng trao cho họ đã cản trở những nỗ lực tập hợp sự ủng hộ thật sự của người dân địa phương đối với cuộc chiến. Việc thiếu sự ủng hộ đó khiến người Pháp lo ngại về an ninh của Quân đoàn Viễn chinh và khiến họ miễn cưỡng từ bỏ một số trách nhiệm an ninh nội bộ. Sự miễn cưỡng từ bỏ những trách nhiệm đó của Pháp càng làm người Việt Nam, người Cambodia và các bên khác bất mãn. Mĩ đã nản lòng trước thái độ của cả Pháp lẫn Đông Dương.

Những khó khăn nhỏ nhặt đã gây ra sự thất vọng không tương xứng.[115] Ví dụ, người Mĩ muốn đánh dấu lần giao hàng đầu tiên các loại vũ khí bộ binh hiện đại của Mĩ cho Quân đội Quốc gia Lào (súng trường Garand). Họ đã cử một phái đoàn từ Phái bộ ngoại giao và Nhóm Cố vấn Viện trợ Quân sự tại Sài Gòn đi máy bay đến Vientiane, mang theo một số súng trường. Họ đã trao tặng những súng trường này cho các đại diện của Quân đội Quốc gia Lào tại một buổi lễ có sự tham dự của các quan chức Pháp, Lào và Mĩ, trong đó thủ tướng Lào và đại biện lâm thời Mĩ đã có những bài phát biểu thích hợp trước sự chứng kiến của một đại diện của tờ The New York Times. Sau khi buổi lễ kết thúc, những khẩu súng trường được đưa trở lại Sài Gòn để phân phối sau đó thông qua các kênh quân sự của Pháp. Vào ngày 12/10/1952, chiếc tàu thứ 200 của Mĩ chở hàng quân viện đến ngoài khơi Sài Gòn và người Mĩ cũng đã có kế hoạch kỉ niệm sự kiện quan trọng này. Khi đến cửa sông Sài Gòn, thuyền trưởng của con tàu, theo luật lệ và phong tục biển cổ, đã tháo bỏ khỏi đỉnh cột buồm cái mà ông ta cho là cờ Việt Nam. Hóa ra đó là cờ Việt Minh của Hồ Chí Minh, do một nhà cung cấp vật tư tàu biển ở Manila cung cấp nhầm. Hải quân Pháp không hài lòng về điều này.

Năm 1953, một tướng Pháp đã đưa ra một kế hoạch táo bạo nhằm phát triển nhanh chóng sức mạnh quân sự của Việt Nam. Tướng Marcel Alessandri, người đã xuất sắc thoát khỏi sự bắt giữ của quân Nhật năm 1945 và dẫn dắt quân mình rút lui rất gian nan qua các dãy núi sang Trung Quốc, được bổ nhiệm làm cố vấn quân sự cho Bảo Đại. Alessandri cũng từng là uỷ viên Pháp tại Cambodia và đã chỉ huy đội quân thay thế lực lượng Trung Hoa tại Lào sau khi Nhật Bản đầu hàng.[116] Alessandri hình dung một Quân đội Quốc gia Việt Nam hùng mạnh với lực lượng cơ động lên tới một triệu bộ binh Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian huấn luyện binh chủng, ông đề xuất điều động các đơn vị pháo binh, công binh và không quân Pháp sang làm các thành phần phục vụ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam dưới sự chỉ huy cá nhân của Bảo Đại. Đội quân này sẽ tiến vào vùng cao Bắc Kì và diệt tận gốc cơ cấu Việt Minh. Theo quan điểm của Alessandri, sự tồn tại của nó sẽ là một đảm bảo cho nền độc lập thật sự mà mọi người đều hiểu được. Tuy nhiên, một sáng kiến tầm cỡ này đơn giản là không nằm trong kế hoạch của Chính phủ Pháp vào lúc đó. Chi phí ngày càng tăng của cuộc chiến về sinh mạng, tiền bạc cùng những rắc rối chính trị trong nước đã khiến dư luận và nghị viện Pháp hoàn toàn mất niềm tin.[117] Tất cả những yếu tố này kết hợp lại gây ra sự trì trệ trong nỗ lực quân sự của Pháp trên thực địa và gia tăng áp lực ở Paris đòi đàm phán. Hậu quả thảm khốc của quyết định chiến đấu tại Điện Biên Phủ đã thúc đẩy nhanh việc tiến tới đàm phán.

Trong cuốn Mandate for Change (Sứ mệnh thay đổi), tổng thống Eisenhower nhắc lại rằng một nghị quyết của NATO được hoàn toàn nhất trí thông qua ngày 17/12/1952, tại cuộc họp mà Acheson tham dự ở Paris, “đã thừa nhận rằng sự kháng cự của Pháp đối với quân phiến loạn được Trung Quốc hậu thuẫn là điều thiết yếu để bảo vệ tự do, thừa nhận rằng sự kháng cự này phù hợp với các mục tiêu và lí tưởng của NATO, và do đó đồng ý rằng ‘chiến dịch do lực lượng Liên hiệp Pháp tiến hành ở Đông Dương xứng đáng nhận được sự trợ giúp liên tục từ các chính phủ NATO.’”[118] Ông cũng nhắc lại rằng tổng thống Truman đã phê duyệt chương trình viện trợ quốc phòng trị giá $ 30,5 triệu cho Lào, Cambodia và Việt Nam và rằng Hoa Kì cũng đồng thời đã dành khoảng cùng số tiền đó cho viện trợ kinh tế và cho tái định cư những người tị nạn từ cuộc chiến ở Việt Nam. Cũng vào ngày 21/12, Hoa Kì đã ủng hộ 3 quốc gia này làm thành viên của Liên Hợp Quốc.

Eisenhower lưu ý rằng, bất chấp những hi sinh về xương máu và tiền bạc của Pháp trong Chiến tranh Đông Dương, Chính phủ Pháp vẫn chưa hứa với các Quốc gia Liên kết một cách dứt khoát về quyền “tự quyết.” Trong thông điệp Liên bang tháng 2/1953, Eisenhower chỉ ra rằng có “quan hệ rõ ràng giữa cuộc chiến ở Đông Dương và cuộc chiến ở Triều Tiên.” Khi ngoại trưởng Pháp Georges Bidault đến thăm Washington vào tháng 3, Eisenhower hi vọng đạt được một số thỏa thuận về cả Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu và Đông Dương, nhưng Bidault tỏ ra né tránh.[119] Thông cáo cuối cùng của cuộc họp này bày tỏ lo ngại rằng một cuộc ngừng bắn ở Triều Tiên sẽ cho phép Trung Quốc hoạt động tích cực hơn trong việc trợ giúp Việt Minh ở Đông Dương. Eisenhower cho rằng việc mất Đông Dương vào tay cộng sản sẽ gây ra hậu quả thảm khốc đối với các nước tự do khác trong khu vực. Ông coi nhiệm vụ chính của nước mình là thuyết phục thế giới rằng cuộc chiến ở Đông Nam Á là một động thái gây hấn của cộng sản chống lại toàn bộ khu vực.[120]

Vào giữa năm 1953, Bộ báo cáo với tổng thống rằng một trong những yếu tố tiêu cực chính trong tình hình Đông Dương là việc các phần tử quan trọng trong dân cư địa phương không hoàn toàn ủng hộ nỗ lực chiến tranh. Các biểu tượng của thời kì thực dân vẫn còn tồn tại dù có việc trao “độc lập trong khối Liên hiệp Pháp” năm 1949.[121] Pháp vẫn kiểm soát các vấn đề đối ngoại và quân sự, thương mại và trao đổi quốc tế, và nội an. Sự độc quyền của Pháp đối với đời sống kinh tế ở 3 nước này đã gần như hoàn thành. Dù được biện minh hay không bởi sự đóng góp về quốc phòng và tài chính của Pháp, vai trò tối cao này của Pháp đã bị nhiều bộ phận dân cư Đông Dương không ưa thích. Sự bất mãn này đã cản trở sự phát triển tinh thần chiến đấu trong lực lượng bản địa và ảnh hưởng xấu đến tốc độ hình thành Quân đội Việt Nam. Sự bất mãn của vua Norodom Sihanouk của Cambodia, muốn đòi được độc lập hoàn toàn và thật sự trong khối Liên hiệp Pháp, đã gây ra một cuộc khủng hoảng vào tháng 6; trước tiên ông đã di chuyển đến Bangkok và sau đó đến vùng Angkor Wat để làm sự phản đối của mình thêm kịch tính.[122] Gần cuối giai đoạn được bài viết này xem xét, nội các mới của Pháp đang chuẩn bị một tuyên bố về sự sẵn sàng của Pháp trong việc mở các cuộc đàm phán nhằm hoàn tất chủ quyền và độc lập của 3 nước này. Báo cáo của Bộ kết luận, “Vẫn còn phải xem liệu điều này có tạo ra phản ứng cần thiết trong số các dân tộc bản địa và tạo động lực cho một bước ngoặt mới trong cuộc chiến hay không.”[123]

Eisenhower cảm thấy rằng, mặc dù Pháp chậm trễ trong việc công bố ý định của họ, nhưng viện trợ không nên bị chậm trễ. Ông đã gửi một thông điệp tới Quốc hội vào ngày 5/5/1953, trong đó ông chỉ ra sự cần thiết vì lợi ích của chính chúng ta trong việc cung cấp nhiều nguồn lực hơn cho Pháp và 3 quốc gia Đông Dương. Vài ngày sau, thứ trưởng Ngoại giao Bedell Smith tuyên bố rằng vấn đề Đông Dương đã trở thành một vấn đề toàn cầu và việc giúp đỡ thật sự cho Pháp đã trở thành một điều cần thiết đối với Hoa Kì.[124]

Tháng 6, Eisenhower cử trung tướng John W. “Iron Mike” O’Daniel đến Sài Gòn để hội đàm với Quân đội Pháp. Tháng 9, chính quyền thông báo cam kết chi $385 triệu cho đến cuối năm 1954, ngoài các khoản tiền khác đã được dành riêng cho việc tiến hành chiến tranh. Ngày 17/9, ngoại trưởng Dulles phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc:[125]

… Chính phủ Pháp, thông qua tuyên bố ngày 3/7/1953, đã công bố ý định hoàn tất quá trình chuyển giao cho chính phủ 3 Quốc gia Liên kết tất cả các quyền lực còn lại cần thiết để hoàn thiện nền độc lập của họ theo đúng ý muốn của họ.

Các đội quân do Cộng sản chi phối ở Đông Dương không có bất kì cơ sở nào để được coi là những người đấu tranh của phong trào độc lập.

Eisenhower hi vọng tuyên bố của Dulles sẽ chứng minh một lần và mãi về sau rằng việc chiến đấu ở Đông Dương không phải nhằm mục đích tái lập sự thống trị của Pháp. Tuy nhiên, ông hiểu rằng tuyên bố như vậy sẽ không có nhiều ý nghĩa trừ khi cá nhân người dân Việt Nam có thể tin chắc rằng họ đang chiến đấu vì độc lập và tự do của chính mình. Ông cũng nhận ra rằng, mặc dù ông đã vượt qua được cuộc khủng hoảng Việt Nam năm 1953, nhưng sẽ còn nhiều cuộc khủng hoảng như vậy sẽ phải xảy ra.

Năm 1954 đánh dấu sự điểm cuối của giai đoạn đầu của việc Hoa Kì can dự vào Đông Dương. Mặc dù bị cuốn vào gánh vác gánh nặng tài chính và trang thiết bị lớn hơn, Hoa Kì không thể làm được nhiều hơn xét về vấn đề chính trị cơ bản vẫn chưa được giải quyết giữa Pháp và các Quốc gia Liên Hiệp về thực tế độc lập. Đề nghị ngừng bắn của Hồ Chí Minh thông qua bài báo ngày 30/11/1953 trên tờ báo Thụy Điển Stockholm Expressen, mặc dù xuất hiện 9 ngày sau khi Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ, có lẽ nhằm mục đích khai thác về mặt chính trị tình hình phát sinh từ trạng thái tâm lí nhất thời của Pháp và Việt Nam, trong khi việc quay trở lại chiến tranh du kích khai thác nó trên thực địa. Khi Việt Minh nắm được ý định của tướng Navarre, họ đã nhanh chóng khai thác cơ hội quân sự tuyệt vời do quyết định kì lạ của Pháp khi chiến đấu trên một chiến trường bất lợi như Điện Biên Phủ mang lại cho họ.[126]

Eisenhower cảm thấy khó hiểu tại sao, một năm trước khi kế hoạch Navarre dự kiến hoàn thành việc tăng cường lực lượng, Pháp lại quyết định điều 10 000 binh lính tinh nhuệ đến một vị trí như vậy. Ông đã chỉ thị cho cả Bộ Ngoại giao lẫn Bộ Quốc phòng thông báo cho phía Pháp về lo ngại của ông đối với động thái này. Kế hoạch Navarre dự kiến điều thêm 9 tiểu đoàn quân và các đơn vị hỗ trợ đến Đông Dương, nâng quy mô Lực lượng Viễn chinh Pháp lên 250 000 người. Kế hoạch này cũng dự kiến tăng quân số của Quân đội Việt Nam lên 300 000 người trong năm tiếp theo. Khi đó, Lực lượng Liên hiệp Pháp sẽ có 550 000 người so với khoảng 400 000 người của Việt Minh. Họ có thể hi vọng dụ Việt Minh vào cuộc giao tranh công khai và đánh bại họ vào cuối mùa chiến đấu năm 1955. Tình hình quân sự sau đó có thể được lực lượng 3 Quốc gia Liên kết kiểm soát. Hoa Kì sẽ giúp tài trợ cho kế hoạch này với số tiền $ 385 triệu được nói ở trên.[127] Trên thực tế, tướng Navarre đã bắt đầu “dụ dỗ” Việt Minh tới mà chưa hoàn thành việc chuẩn bị lực lượng trước.

Hoa Kì đã cung cấp cho Pháp tất cả sự trợ giúp vật chất cần thiết mà họ có thể cung cấp, nhưng không phải cử nhân viên kĩ thuật người Mĩ đến huấn luyện cho người Pháp và người Việt Nam về bảo trì và vận hành các thiết bị tiên tiến.

Khi xem xét triển vọng can thiệp quân sự của Mĩ vào đầu năm này, Eisenhower nghĩ, “Nếu 3 yêu cầu cơ bản được đáp ứng, Hoa Kì có thể đưa ra trợ giúp một cách thích hợp và hiệu quả trong việc giành chiến thắng trong cuộc chiến.”[128] Những yêu cầu này là quyền hành động hợp pháp theo luật quốc tế, dư luận thuận lợi trong Thế giới Tự do và hành động thuận lợi của Quốc hội. Một yêu cầu khẩn cấp từ phía Pháp, phản ánh rõ ràng mong muốn của 3 Quốc gia Liên kết, sẽ đáp ứng yêu cầu đầu tiên. Ông nghĩ rằng, một lời kêu gọi của các Quốc gia Liên kết tới Liên Hợp Quốc yêu cầu Hoa Kì can thiệp với tư cách là một phần của liên minh (bao gồm Anh, ANZUS và một số quốc gia Đông Nam Á) có thể tạo ra một bầu không khí thuận lợi trong dư luận của Thế giới Tự do và cung cấp ít nhất là lực lượng tượng trưng giúp Hoa Kì, nước sẽ gánh chịu gánh nặng chính như ở Triều Tiên. “Nhu cầu này đặc biệt cấp thiết,” tổng thống viết, “vì không có bằng chứng không thể chối cãi về sự tham gia của Trung Quốc trong cuộc xung đột Đông Dương.”[129]

Xét đến loại lực lượng có thể được sử dụng trong bất kì cuộc can thiệp nào, Eisenhower tin rằng, kể từ tháng 1/1954, không cần thiết phải đưa lực lượng bộ binh Hoa Kì vào Đông Nam Á. Có khả năng giúp Pháp bằng không kích, có thể từ tàu sân bay, vào các cơ sở của cộng sản xung quanh Điện Biên Phủ nhưng Eisenhower hết sức nghi ngờ về hiệu quả của các cuộc không kích “vào các đơn vị triển khai ở nơi có nhiều chỗ ẩn nấp.”[130] Ông cũng đánh giá rằng có nguy cơ của việc can thiệp bằng các cuộc không kích và việc không đạt được mục đích mong muốn. Ông không muốn sử dụng lực lượng Mĩ nếu việc sử dụng chúng không mang lại hiệu quả quyết định. Do đó, ông thích tập trung vào việc cố thuyết phục Pháp và Anh rằng cần có một liên minh để tạo cho một cuộc can thiệp có một ý nghĩa đạo đức. Ông cũng thấy cần có thêm các biện pháp để thuyết phục người Việt Nam và thế giới rằng Pháp thật sự có ý định trao độc lập hoàn toàn càng sớm càng tốt và cần tăng cường mọi hình thức giúp đỡ vật chất.[131]

Việc cung cấp thêm viện trợ vật chất là phức tạp. Máy bay được gửi đến giúp Pháp, nhưng theo luật, Hoa Kì không thể phái nhân viên Không quân. Sau khi tham khảo ý kiến của các lãnh đạo cả hai viện Quốc hội, 200 kĩ thuật viên đã được phái đến chỉ ở lại đến giữa tháng 6. Tổng thống cũng thành lập một uỷ ban lâm thời gồm thứ trưởng Ngoại giao Bedell Smith, thứ trưởng Quốc phòng Roger Kyes, tham mưu trưởng Liên quân và giám đốc CIA Allen Dulles. Ông chỉ định tướng O’Daniel, lúc đó đang làm nhiệm vụ tạm thời ở Đông Dương, làm trưởng Nhóm Cố vấn Viện trợ Quân sự. Đây là tình hình chung khi Hội nghị Ngoại trưởng Berlin nhóm họp vào ngày 25/1. Bidault tin rằng nếu chính phủ Laniel muốn tồn tại, ông phải trở về Paris với một dấu hiệu đồng thuận nào đó để thảo luận về Đông Dương tại Hội nghị Geneva. Sự tồn tại của chính phủ Laniel rất quan trọng đối với Hoa Kì vì nước này tin rằng không chính phủ kế nhiệm nào có thể mạnh hơn về các vấn đề Đông Dương và Cộng đồng Phòng thủ châu Âu. Do đó, chúng ta phải thông cảm với mong muốn của Pháp về một hội nghị, nhưng chúng ta tin rằng các đồng minh phương Tây đang bắt đầu đặt quá nhiều niềm tin vào tính hiệu lực của các cuộc đàm phán với Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc.[132] Dulles chỉ ra cho Bidault rằng sự lo lắng thái quá về việc đàm phán có thể gây ra sự suy giảm tinh thần hơn nữa ở Đông Dương và thậm chí cả ở Pháp. Ngày 9/2, Dulles báo cáo với tổng thống rằng áp lực của Pháp đối với một hội nghị về Đông Dương đang tăng lên và nếu Hoa Kì bị quy trách nhiệm vì ngăn chặn hội nghị thì nghĩa vụ đạo đức tiếp tục cuộc chiến có thể được chuyển từ Pháp sang Mĩ.[133]

Cuối cùng, Dulles buộc phải đề xuất một hội nghị hạn chế 4 cường quốc về Viễn Đông. Ba yếu tố đã ảnh hưởng đến ông theo hướng này. Thứ nhất, Pháp đang ở trong tình thế tuyệt vọng. Thứ hai, mong muốn tổ chức hội nghị của Anh và Pháp sẽ ít bị xem là dấu hiệu chia rẽ giữa các đồng minh nếu Hoa Kì chính thức đề xuất hội nghị và giới hạn phạm vi của nó. Thứ ba, nếu một hội nghị là không thể tránh khỏi, như có vẻ là vậy, thì tốt hơn nên khởi xướng nó trước khi xảy ra những diễn biến bất lợi trong cuộc chiến ở Đông Dương. Tuy nhiên, Dulles cảnh báo Bidault rằng triển vọng về một hội nghị sẽ làm gia tăng nỗ lực của cộng sản trong việc đánh bại họ bằng quân sự trong mùa chiến đấu hiện tại. Ông cũng cho biết cần phải đảm bảo với Pháp rằng các thỏa thuận của Mĩ về việc tiếp tục viện trợ quân sự sẽ được thực hiện. Đáp lại, Eisenhower đã gửi điện tín cho Dulles vào ngày 10/2: “Chính quyền không có ý định né tránh các cam kết của mình trong khu vực, miễn là hiệu quả thực hiện của Pháp tương xứng với những lời hứa mà họ đã đưa ra dùng làm cơ sở để yêu cầu chúng ta tăng thêm trợ giúp.”[134] Ngày 18/2, Hội nghị Berlin kết thúc với một thỏa thuận sẽ gặp nhau tại Geneva vào ngày 26/4 để thảo luận về các vấn đề của Triều Tiên và Đông Dương.

Ngày 13/3, các đơn vị Việt Minh ở Điện Biên Phủ, sau khi được tăng viện mạnh mẽ, đã thực hiện cuộc tấn công quy mô lớn đầu tiên vào các vị trí của Pháp. Hai ngày sau, pháo binh Việt Minh đã phá huỷ các đường băng của Pháp, ít nhất là tạm thời. Việt Minh chịu tổn thất nặng nề nhưng các báo cáo tình báo về triển vọng của Pháp bắt đầu trở nên rất bi quan. Xét đến những tuyên bố trước đó của Navarre rằng ông tin là lực lượng của mình sẽ bị tấn công tại Điện Biên Phủ, Eisenhower cảm thấy khó hiểu tại sao người Pháp lại phản ứng bi quan như vậy trước các cuộc tấn công thực tế. Các hoạt động quân sự tại Điện Biên Phủ là một câu chuyện riêng biệt nhưng quyết định lớn về Đông Dương mà Chính phủ Hoa Kì phải đối mặt vào lúc đó là có nên can thiệp quân sự hay không.

Quyết định, cái thứ tư về Đông Dương, là không can thiệp. Đã có nhiều đồn đoán rằng Hoa Kì suýt nữa đã can thiệp trực tiếp và thậm chí sử dụng vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, không có đồn đoán nào đứng vững qua kiểm chứng. Tổng thống Eisenhower đã khá rõ ràng trong đầu những gì ông coi là những yêu cầu cơ bản cho việc can thiệp đúng đắn và hiệu quả. Ông cũng đã nêu:

… hãy để mọi người biết rằng tôi sẽ không bao giờ đồng ý phái quân bộ của chúng ta chỉ để tăng viện cho các đơn vị Pháp, để họ sử dụng theo ý muốn của mình. Một phần quan niệm cơ bản của tôi về chức vụ Tổng thống là chúng ta có một chính phủ hợp hiến và chỉ khi có tình huống khẩn cấp đột ngột, không lường trước được thì tổng thống mới phải đưa chúng ta vào chiến tranh mà không có sự chấp thuận của Quốc hội.[135]

Khi được đô đốc Radford và các tướng Pháp Ely và Valluy hỏi phản ứng của Mĩ sẽ như thế nào nếu chính Cộng sản Trung Quốc tấn công các vị trí của Pháp ở Việt Nam bằng máy bay MiG của họ, Dulles đã trả lời:

Tôi nói rằng, tất nhiên, tôi sẽ không cố thử trả lời câu hỏi đó. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cần phải nhắc nhở những người bạn Pháp của chúng ta rằng nếu Hoa Kì mang cờ và lực lượng quân sự của chính mình – trên bộ, trên biển hoặc trên không – vào cuộc chiến ở Đông Dương, thì uy thế của Hoa Kì sẽ bị lôi vào đến mức chúng tôi muốn có được chiến thắng. Do đó, chúng tôi không thể kham được việc để uy thế của Hoa Kì dính vào và chịu một thất bại có thể gây ra hậu quả trên toàn thế giới.[136]

Tướng Ely đã viết rằng mặc dù việc sử dụng vũ khí hạt nhân có thể đã được thảo luận nhiều lần, nhưng việc sử dụng chúng tại Điện Biên Phủ không được xem xét một cách nghiêm túc.[137] René Pleven nói với BBC vào năm 1975 rằng Pháp chưa bao giờ yêu cầu sử dụng vũ khí nguyên tử.[138] Đô đốc Radford nhắc lại trong một thư gửi tác giả của cuốn The Meaning of Limited War (Ý nghĩa của Chiến tranh hạn chế) rằng: “… theo như tôi nhớ thì những kế hoạch như vậy có lẽ là những kế hoạch dự phòng và chúng có lẽ được các đơn vị riêng lẻ lập ra như một biện pháp phòng ngừa. Theo như tôi nhớ, liên quan tới tổng thống, bộ trưởng Quốc phòng và tham mưu trưởng Liên quân không hề có ai ra lệnh lập kế hoạch chi tiết.”[139]

Có vẻ rằng, trong bối cảnh không có sự đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cơ bản của Eisenhower cho can thiệp quân sự, và xét tới sự thất bại quân sự không thể tránh khỏi của Pháp tại Điện Biên Phủ, Eisenhower và Dulles đã chuyển sự chú ý sang việc hoàn thiện Hiệp ước Manila thay vì kế hoạch can thiệp quân sự. Ấn tượng mà Dulles nhận được từ Eden, rằng người Anh đã có lập trường dứt khoát chống lại bất kì cuộc đàm phán tập thể nào hướng tới việc phát triển một liên minh chống cộng ở Đông Nam Á, và rằng Eden đã tham dự hội nghị với chỉ thị phải thúc đẩy mạnh mẽ một cuộc ngừng bắn ở Đông Dương, rõ ràng đã xóa bỏ mọi cơ hội tạo ra một bầu không khí dư luận trong Thế giới Tự do thuận lợi cho bất kì sự can thiệp nào của Mĩ.

Khi thời gian tiếp tục tiến tới việc mất Điện Biên Phủ và việc kí kết thỏa thuận ngừng bắn ở Đông Dương, tổng thống nhận được tin từ tướng Alfred Gruenther tại NATO về “sự buồn nản và dao động” của Pháp. Đáp lại, Eisenhower nhắc lại rằng ông và Gruenther đã cảnh báo Pháp trong 3 năm rằng họ không thể thắng cuộc chiến Đông Dương và đặc biệt là không thể nhận được sự trợ giúp thật sự của Mĩ trong khu vực trừ khi họ cam kết dứt khoát trao độc lập cho các Quốc gia Liên kết một khi giành được chiến thắng quân sự. Ông cũng lưu ý rằng chính quyền của ông đã lập luận rằng: “Không một cường quốc phương Tây nào có thể can thiệp quân sự vào châu Á; trừ khi với tư cách là một phần của liên minh các cường quốc, liên minh đó phải bao gồm người dân bản địa châu Á.” Eisenhower tiếp tục bày tỏ ý kiến rằng việc mất Điện Biên Phủ không nhất thiết có nghĩa là thất bại trong Chiến tranh Đông Dương, rằng những chiến công của quân trú đóng nên được ca ngợi như là chỉ dấu cho phẩm chất và quyết tâm của người Pháp, và rằng Hoa Kì, Pháp, Thái Lan, Vương quốc Anh, Australia, New Zealand và các nước khác “nên bắt đầu thảo luận ngay lập tức về các biện pháp để ngăn chặn thành công các bước tiến của Cộng sản ở Đông Nam Á.” Ông cho rằng cần phải xây dựng một kế hoạch bao gồm việc sử dụng phần lớn quân đội Pháp ở Đông Dương, đảm bảo quyền tự do hành động chính trị cho Đông Dương ngay khi giành được chiến thắng, lực lượng bộ binh bổ sung nên từ các binh sĩ châu Á và châu Âu đã có mặt trong khu vực, và các mục tiêu chung của một liên minh như vậy giữa các quốc gia này cần được công bố công khai như trong NATO.[140]

Ngày 29/4, ba ngày sau khi Hội nghị Geneva khai mạc, Eisenhower phát biểu trong một cuộc họp báo ở Washington rằng, trong điều kiện hiện tại, Hoa Kì có lẽ sẽ không đạt được điều mình muốn thông qua một thỏa thuận tại Geneva, mà chỉ là một giải pháp tạm thời (modus vivendi). Ông không thấy có lí do gì để Hoa Kì can thiệp quân sự và thậm chí không chắc người dân Việt Nam có muốn sự can thiệp như vậy hay không. Phó tổng thống Nixon đã nói với Hội Biên tập viên Báo chí Hoa Kì vào ngày 16/4 rằng một ngày nào đó Mĩ có thể phải gửi quân. Để trả lời câu hỏi tại cuộc họp báo về một điều khoản bổ sung trong dự luật phân bổ ngân sách của Hạ viện giới hạn quyền của tổng thống trong việc điều động quân đội đến bất cứ nơi nào trên thế giới mà không có sự cho phép của Quốc hội, Eisenhower nói rằng, “dự luật phân bổ ngân sách không phải là nơi để luật hóa trách nhiệm của nhánh hành pháp” và “một sự hạn chế nhân tạo như vậy sẽ làm tổn hại đến tính linh hoạt của tổng thống trong việc hành động để duy trì lợi ích của Hoa Kì.” Ông tuyên bố sẽ phủ quyết dự luật nếu nó được thông qua kèm theo điều khoản bổ sung; điều khoản bổ sung này đã không được thông qua.[141]

Trong khi đó, rõ ràng là Anh sẽ ủng hộ và hậu thuẫn việc thực thi bất kì thỏa thuận  hoà bình nào mà Pháp có thể đạt được, nhưng họ không quan tâm đến việc tham gia bất kì thỏa thuận quốc phòng nào cho đến sau Hội nghị Geneva. Australia và New Zealand cho biết họ không còn ủng hộ việc hành động thống nhất theo nghĩa này nữa. Pháp vẫn còn một vài hi vọng về sự can thiệp quân sự của Mĩ tại Điện Biên Phủ, nhưng Eisenhower cho rằng tình hình ở đó đã trở nên bất khả. Trong một cuộc họp được triệu tập để thảo luận lại về khả năng không kích của Mĩ vào Đông Dương, Eisenhower nhận xét rằng nếu Hoa Kì đơn phương để mình bị cuốn vào cuộc xung đột ở Đông Dương và những nơi khác trong một loạt các cuộc chiến tranh châu Á, thì sự hao phí nguồn lực có thể làm suy yếu vị thế phòng thủ tổng thể của nước này. Từ đó, ông suy ra rằng nếu chúng ta chiến đấu khắp nơi và “nếu sự tham gia xâm lấn của Trung Hoa Đỏ được xác định rõ ràng, thì chúng ta khó có thể tránh khỏi việc xem xét sự cần thiết phải đập trực tiếp vào đầu thay vì đuôi con rắn, chính Trung Hoa Đỏ.”[142]

Cuối tháng 4, ngoại trưởng Dulles đã có cuộc trò chuyện thẳng thắn với ngoại trưởng Anthony Eden, trong đó ông bày tỏ sự thất vọng rằng phái đoàn Anh đã vẫn im lặng khi phía cộng sản, trong tuần đầu tiên của hội nghị, đã công kích Hoa Kì vì “các hành động đế quốc.” Ông cũng phàn nàn rằng, theo như ông hiểu, Anh đã đồng ý rằng ông có thể bắt đầu các cuộc tham vấn ở Washington để thảo luận về một liên minh với các quốc gia liên quan và rằng người Anh đã bác bỏ sự thỏa thuận này, không đưa ra bất kì phương án thay thế nào. Ông trấn an Eden rằng Hoa Kì không tìm kiếm chiến tranh với Trung Quốc hoặc can thiệp quy mô lớn vào Đông Dương. Thay vào đó, ông tin rằng bất kì diễn biến nào như vậy có thể được tránh tốt nhất bằng cách thể hiện sự kiên quyết của phương Tây.[143]

Ngày 1/5, Việt Minh bắt đầu cuộc tấn công cuối cùng vào Điện Biên Phủ, và họ đã đánh chiếm được Điện Biên Phủ vào ngày 7/5.

Ngày 8/5, Chính phủ Pháp đưa ra cho Hội nghị Geneva một đề xuất chấm dứt chiến sự ở Lào, Cambodia và Việt Nam, tất nhiên, tình hình ở Việt Nam là phức tạp nhất. Eisenhower đã phê duyệt chỉ thị cho phái đoàn Hoa Kì rằng Hoa Kì sẽ không tham gia vào bất kì đề xuất ngừng bắn nào có hiệu lực “trước khi một hiệp định đình chiến được chấp nhận có bao gồm các cơ chế quốc tế cho việc thực thi.”[144] Tuy nhiên, Hoa Kì sẽ “đồng ý khởi xướng các cuộc đàm phán” về hiệp định đình chiến. Hoa Kì cũng sẽ khuyến khích lực lượng Liên hiệp Pháp tiếp tục chiến đấu ở Đông Dương trong suốt hội nghị, sẽ cung cấp thêm viện trợ và sẽ tiếp tục cố “tổ chức và nhanh chóng kích hoạt việc lập nhóm khu vực Đông Nam Á.” Về phần mình, phía cộng sản, nhận thức được rằng không có khả năng các cường quốc phương Tây có hành động thống nhất cho đến sau hội nghị, đã có thể kéo dài hội nghị trong khi sử dụng lợi thế quân sự của họ ở Đồng bằng sông Hồng để gây áp lực lên phía Liên hiệp Pháp. Eisenhower cho rằng phía Pháp vẫn còn đủ lực lượng để giành chiến thắng nếu họ có thể thuyết phục quân chính quy Việt Nam tham chiến cùng với các lực lượng Liên hiệp Pháp khác và thuyết phục dân chúng ủng hộ họ. Tuy nhiên, ông nhận xét: “Nhưng chiến tranh du kích không thể hoạt động theo hai chiều; thông thường chỉ một bên mới có thể nhận được sự giúp đỡ đáng tin cậy từ người dân.”[145] Eisenhower vẫn cho rằng cần thiết phải để Pháp từ bỏ việc đòi độc quyền chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng sản trong khu vực để chuyển cho một liên minh. Do đó, Eisenhower và Dulles quyết định để đại sứ Dillon trình bày lại quan điểm của họ với người Pháp như sau:[146]

  • Pháp và các Quốc gia Liên kết nên chính thức yêu cầu Hoa Kì tham gia và mời các nước ANZUS cùng giúp đỡ;
  • Liên Hợp Quốc nên được mời tham gia để thành lập uỷ ban quan sát hoà bình;
  • Pháp nên đảm bảo quyền độc lập hoàn toàn cho các Quốc gia Liên kết, bao gồm cả “lựa chọn rút khỏi Liên hiệp Pháp bất cứ lúc nào mà không có điều kiện ràng buộc”;
  • Pháp nên duy trì hoạt động của lực lượng mình, với sự trợ giúp của Hoa Kì – “chủ yếu là trên không và trên biển” với vai trò bổ sung, chứ không phải thay thế, lực lượng Pháp;
  • Cần đạt được thỏa thuận về việc Hoa Kì tham gia huấn luyện binh lính bản địa và xây dựng cấu trúc chỉ huy cho hành động thống nhất;
  • Tất cả những quyết định này cần được nội các Pháp chấp thuận và được Quốc hội Pháp cho phép hoặc tán thành;

Eisenhower nhận thấy rằng, mặc dù hoàn toàn hiểu hầu hết các điểm này, Laniel và Maurice Schumann (thứ trưởng ngoại giao Pháp) lại bối rối trước quyền rút khỏi Liên hiệp Pháp. Ngay sau đó, Pháp cũng bày tỏ lo ngại về việc duy trì toàn bộ lực lượng của họ trong suốt thời kì hành động thống nhất. Schumann lưu ý rằng Pháp không thể chấp thuận Cộng đồng Phòng châu vệ châu Âu nếu họ phải giữ toàn bộ lực lượng ở Đông Dương vô thời hạn. Họ cũng lo ngại về phản ứng của người dân Pháp nếu Lực lượng Viễn chinh chịu thất bại nặng nề “vì Hoa Kì đã không đến cứu viện.”

Nhận thấy nhiều người dường như cho rằng Hoa Kì chịu trách nhiệm chính trong việc phòng thủ Đông Dương, giống như trường hợp Nam Triều Tiên, Eisenhower đã làm rõ thái độ của mình vào ngày 3/6:[147]

  • Hành động đơn phương của Hoa Kì mà không có lời mời rõ ràng của người dân Việt Nam và các thỏa thuận thỏa đáng với Pháp sẽ đồng nghĩa với sự sụp đổ của chính sách hành động thống nhất của Mĩ.
  • Nếu các quốc gia Đông Nam Á hoàn toàn thờ ơ với số phận của Đông Dương, điều đó cho thấy Hoa Kì nên xem xét lại chính sách an ninh cơ bản của mình.
  • Việc điều động lực lượng trong trường hợp Trung Quốc có hành động xâm lấn công khai là vì lợi ích của Hoa Kì, nhưng các quốc gia Đông Nam Á không thể chối bỏ trách nhiệm bảo vệ an ninh cho chính mình, dồn toàn bộ gánh nặng an ninh của Thế giới Tự do lên vai Hoa Kì.
  • Nếu tổng thống phải xin phép Quốc hội để can thiệp vào Đông Dương, ông muốn có thể nói rằng chúng ta có các đồng minh – Thái Lan, Australia, New Zealand, Philippines – và trên hết, phần lớn người dân Việt Nam, sẵn sàng sát cánh cùng chúng ta.

Ngày 3/6, Chính phủ Pháp bổ nhiệm tướng Ely làm tổng uỷ viên tại Đông Dương và tổng tư lệnh các lực lượng Liên hiệp Pháp trong khu vực. Eisenhower cho rằng Ely đang tiếp nhận một tình hình đang tan rã. Ông nhận thấy phía cộng sản đang trì hoãn tại Geneva, giao tranh ngày càng dữ dội, và khả năng chia cắt Việt Nam, thậm chí có thể cả Lào và Cambodia, đang được chấp nhận rộng rãi.

Đến ngày 9/6, đã có những dấu hiệu cho thấy, mặc dù Pháp không có lập trường nào về các điều kiện tiên quyết của chúng ta cho hành động thống nhất, nhưng Anh có thể đang chuẩn bị rút khỏi hội nghị trong khi khuyến nghị Lào và Cambodia đưa vấn đề của họ ra Liên Hợp Quốc. Chiến thuật như vậy thu hút Chính phủ Hoa Kì, nhưng Eisenhower cho rằng nó đã bị các sự kiện vượt qua. Ngày 8/6, Vyacheslav Molotov, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, đã mạnh mẽ chỉ trích Hoa Kì, Bidault rời đi đến Paris cùng ngày, và ngày 12/6, Chính phủ Laniel sụp đổ. Như Eisenhower đã nói, “Chúng ta quyết định rằng tốt nhất là Hoa Kì nên rút khỏi sự tham gia chính ở Hội nghị Geneva. Những ngày giữ cho các cường quốc phương Tây bị ràng buộc vào sự không hành động bằng cách tạo ra sự chia rẽ chính sách giữa họ trong một hội nghị kéo dài, đã sắp đến lúc kết thúc.”[148]

Ngày 18/6, Pierre Mendès France trở thành thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoai giao, giành được phiếu tín nhiệm với tỉ lệ 419 – 47, cam kết sẽ đạt được  hoà bình ở Đông Dương không quá ngày 20/7. Churchill viết thư cho Eisenhower rằng, do những sai lầm mà Pháp đã mắc phải ở Đông Dương, Mendès France đã quyết định rút ra khỏi theo những điều kiện tốt nhất có thể đạt được và rằng ông, Churchill, cũng có xu hướng chấp nhận rằng ông ấy đã đúng. Trước sự vui mừng của Eisenhower, Churchill cho rằng đây càng là lí do để thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), tương đương với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.

Eisenhower và Churchill gặp nhau tại Washington vào ngày 25/6 và soạn thảo một lập trường chung gồm 7 điểm về những gì hai quốc gia thấy chấp nhận được trong bất kì thỏa thuận nào mà Pháp có thể đề xuất. Tuy nhiên, Anh coi 7 điểm này như là “một hi vọng”, trong khi Mĩ muốn chúng chỉ là “mức tối thiểu.” Ngày 10/7, Dulles gửi một thông điệp cho Mendès France giải thích lí do Hoa Kì muốn tránh tham gia đầy đủ vào một hội nghị ngoại giao mà họ không thể chấp thuận kết quả. Ngày 12/7, ông bay đến Paris, ở đó từ ngày 13 đến ngày 15/7, ông gặp Mendès France và Eden, đạt được thỏa thuận về một văn bản lập trường mà về cơ bản giống với văn bản đã được thống nhất trước đó giữa Mĩ và Anh trong chuyến thăm của Churchill. Bedell Smith, người đã được triệu hồi về Washington, trở lại Geneva. Ngày 20/7, hạn chót của Mendès France, 3 thỏa thuận ngừng bắn đã được kí kết, tiếp theo sau vào ngày 21/7 là Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị và Tuyên bố đơn phương của Hoa Kì.[149]

Trong cuộc họp báo ngày 21/7, Eisenhower nói rằng ông hài lòng vì cuộc đổ máu đã chấm dứt, rằng Hoa Kì không phải là một bên tham chiến trong cuộc chiến, và trách nhiệm chính trong việc dàn xếp vấn đề ở Đông Dương thuộc về các quốc gia tham chiến. Ông nói rằng, mặc dù Hoa Kì đã cố gắng giúp đỡ, nhưng họ không phải là một bên tham gia cũng như không bị ràng buộc bởi các quyết định được đưa ra tại hội nghị, nhưng hi vọng rằng chúng sẽ dẫn đến việc thiết lập  hoà bình.[150] Ông nói thêm rằng Hoa Kì đã đưa ra một tuyên bố đơn phương rằng họ sẽ không sử dụng vũ lực để phá vỡ thỏa thuận và sẽ coi bất kì sự tái diễn nào của hành động xâm lược của cộng sản là một vấn đề đáng lo ngại. “Chúng tôi sẽ tích cực theo đuổi các cuộc thảo luận với các nước tự do khác để thành lập một tổ chức phòng thủ tập thể Đông Nam Á nhằm ngăn chặn sự xâm lược tiếp theo của cộng sản.”

Robert M. McClintock đã lưu ý trong cuốn The Meaning of Limited War (Ý nghĩa của Chiến tranh hạn chế) rằng Hoa Kì đã nhận ra trong những năm trước đó rằng Pháp cần sự trợ giúp nếu họ phải ngăn chặn làn sóng tấn công ở Đông Dương sau chiến thắng của cộng sản trên lục địa Trung Quốc. Đồng thời, Hoa Kì đang tìm cách chống đỡ cho Pháp ở châu Âu qua trợ giúp ngân sách và viện trợ kinh tế theo Kế hoạch Marshall và liên minh NATO. “Do đó, chính sách của Mĩ ở cả Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương đều gắn liền với vận mệnh của Pháp, và những lo ngại về việc phòng thủ châu Âu đã ảnh hưởng đến các quyết định của Washington về việc phòng thủ Đông Nam Á.”[151] Dưới thời chính quyền Truman, và trong giai đoạn đầu của chính quyền Eisenhower, chính sách của Hoa Kì là tiến hành hành động cầm cự thông qua các lực lượng uỷ nhiệm là Quân đoàn Viễn chinh Pháp và Quân đội Nam Việt Nam. Điều này, như McClintock đã chỉ ra, đã khiến Hoa Kì liên tục phải dính líu với vấn đề cực kì khó khăn về sự nhạy cảm của Pháp. Sự nhạy cảm này đã hạn chế và thậm chí cản trở việc áp dụng viện trợ vật chất và tư vấn của Mĩ về các phương pháp huấn luyện hiện đại. Dù sao đi nữa, sau Điện Biên Phủ và Geneva, chắc chắn rằng chính sách của Mĩ đối với Đông Dương phải được thay đổi. McClintock viết rằng khi ông đang giữ chức chủ tịch Nhóm làm việc liên bộ để xây dựng chính sách mới như vậy, ông đã viết: “Về cơ bản, chính sách của Hoa Kì đối với Đông Dương nên được xác định bởi những gì phục vụ lợi ích quốc gia của chúng ta ở Đông Nam Á. Chính sách của Hoa Kì đối với Pháp nên được xác định bởi những gì phục vụ lợi ích quốc gia của chúng ta ở châu Âu. Do đó, các chính sách của chúng ta cho đến nay đã thất bại vì chúng ta cố ném trúng hai con chim với một hòn đá và đã bị hụt cả hai.”[152]

Nhóm đặc nhiệm nói trên, họp vào tháng 8/1954, đã khuyến nghị với ngoại trưởng và tổng thống “Chính sách của Hoa Kì đối với Đông Dương sau các thỏa thuận ngừng bắn Geneva nhằm bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập của Lào, Cambodia và Việt Nam để các nước này có thể tạo thành rào cản ngăn chặn sự xâm lấn hơn nữa của Cộng sản ở Đông Nam Á.”

Cụ thể, nhóm đã khuyến nghị:[153]

  1. Hoa Kì nên cung cấp viện trợ kinh tế, tài chính và quân sự trực tiếp và đầy đủ cho 3 nước ở Đông Dương. Tuy nhiên, viện trợ này phải kèm theo điều kiện là 3 nước này phải hoàn thành việc thực hiện các cải cách cần thiết và tiến hành chúng, nếu cần, với sự trợ giúp của Hoa Kì hoặc các nguồn khác. Hệ quả tất yếu của chính sách viện trợ trực tiếp này đòi hỏi việc đàm phán lại với Pháp về các công cụ hiện hành, vốn hiện đang chuyển viện trợ của Hoa Kì cho Đông Dương, cả về quân sự và tài chính, đều hoàn toàn thông qua Pháp.
  2. Ba quốc gia Đông Dương nên được đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ và chính trị từ một Hệ thống Phòng thủ Tập thể Đông Nam Á trong tương lai. Tuy nhiên, ban đầu, 3 nước này không nên tham gia hiệp ước phòng thủ tập thể chính thức mà nên hưởng lợi từ các điều khoản của nó, giống như Tây Đức theo hiệp ước NATO. Cambodia, Lào và Việt Nam Tự do nên được các bên kí kết hiệp ước phòng thủ mới thông báo rằng sự toàn vẹn lãnh thổ của họ được hiệp ước đảm bảo.

Bản khuyến nghị của nhóm đặc nhiệm đã được gửi đến ngoại trưởng Dulles vào ngày 12/8/1954. Ông và Nhà Trắng đã chấp thuận và ban hành thành chính sách trong một bức điện tín ngày 18/8, chỉ thị cho đại sứ Dillon tại Paris “thông báo cho Thủ tướng Mendès-France rằng viện trợ của Mĩ tại Đông Dương từ nay sẽ được chuyển trực tiếp đến các quốc gia nhận viện trợ chứ không thông qua kênh của Pháp.”

Hiệp ước Manila ra đời vào ngày 8/9/1954. Ngày 5/10, quân đội Pháp rời Hà Nội theo các điều khoản của Hiệp định Geneva (tòa Lãnh sự Hoa Kì vẫn mở cửa ở đó cho đến ngày 12/12/1955). Đến ngày 11/10/1954, VNDCCH đã nắm quyền kiểm soát Hà Nội. Tổng thống Eisenhower thông báo cho tổng thống [đúng ra là thủ tướng – ND] Ngô Đình Diệm của Việt Nam Tự do (phía nam vĩ tuyến 17) trong các bức thư ngày 23 và 24/10 rằng viện trợ của Mĩ sẽ được chuyển trực tiếp đến Việt Nam. Ngày 4/10, Tướng J. Lawton Collins được bổ nhiệm làm đại diện của tổng thống tại Đông Dương.[154] Ngày 18/10, tướng Collins tuyên bố Hoa Kì ủng hộ Ngô Đình Diệm. Hoa Kì đã đưa ra quyết định thứ năm về Đông Dương:

Từ khi Chiến tranh Thế giới II ở Thái Bình Dương kết thúc vào tháng 8/1945 đến khi Hiệp định Geneva được kí kết vào tháng 7/1954, Hoa Kì ngày càng can dự sâu vào Đông Dương để giúp Pháp và các Quốc gia Liên kết chống lại Cộng sản Bắc Việt được Trung Quốc và Liên Xô hậu thuẫn. Sự phục hồi kinh tế và an ninh quân sự của châu Âu, việc cộng sản lên nắm quyền ở Trung Quốc, và cuộc xâm lược do Liên Xô bảo trợ ở Triều Tiên đều góp phần làm tăng sự can dự của Mĩ. Việc Pháp không đạt được thỏa thuận hoàn toàn thỏa đáng với các Quốc gia Liên kết, chủ yếu là Việt Nam, về độc lập thực tế đã làm suy yếu nỗ lực trợ giúp chiến tranh của Mĩ, đồng thời khuyến khích sự ra đời của nền độc lập thật sự. Sự can dự của Mĩ trong giai đoạn này thể hiện dưới hình thức cấp viện trợ kinh tế và quân sự, cung cấp cố vấn quân sự và thậm chí cả việc sử dụng máy bay vận tải và nhân viên tạm thời của Mĩ. Nó không bao gồm sự can thiệp quân sự trực tiếp của lực lượng vũ trang Hoa Kì. Chính quyền Truman cho rằng nhân lực phải đến từ các lực lượng quốc gia của các Quốc gia Liên kết.[155] Chính quyền Eisenhower khẳng định không một cường quốc phương Tây nào có thể can thiệp hiệu quả trừ khi với tư cách là một phần của một liên minh bao gồm cả người châu Á.

Sau Điện Biên Phủ và Geneva, Hoa Kì đã bác bỏ một cách rõ ràng sự can thiệp đơn phương của Mĩ trong hoàn cảnh hiện tại. Thay vì vậy, sự can dự của Hoa Kì sẽ mang hình thức cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự lớn ở Đông Dương và một cam kết hiệp ước có chiều kích Đông Nam Á. Chính quyền Eisenhower quyết định mở rộng viện trợ trực tiếp cho các Quốc gia Liên kết và cùng với các quốc gia tự do khác lập ra “Một tổ chức phòng thủ tập thể ở Đông Nam Á để ngăn chặn sự xâm lược trực tiếp hoặc gián tiếp của Cộng sản trong khu vực tổng thể đó.”[156] Hiệp ước SEATO, được kí kết vào tháng 9/1954, đã được Thượng viện phê chuẩn vào tháng 9/1955 với tỉ lệ 82 – 1.

Việc lựa chọn vai trò viện trợ trực tiếp này, đặc biệt trong việc trợ giúp chính phủ mới của Diêm ở Việt Nam, được hậu thuẫn bởi một hiệp ước, thể hiện cho quyết định thứ năm của Hoa Kì về Đông Dương.

Cả chính quyền Truman và Eisenhower đều đã không chấp nhận việc can thiệp quân sự đơn phương của Hoa Kì vào Đông Dương, nhưng cả hai đều đã thực hiện, hoặc sẽ thực hiện, các biện pháp mà tổng hợp lại dẫn đến sự khởi đầu của sự can dự của Hoa Kì. Những biện pháp này được thúc đẩy bởi những gì được coi là đòi hỏi của lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kì và bởi một quan điểm lí tưởng rằng các nước Đông Nam Á nên được phép đạt được những tiến bộ về chính trị và kinh tế mà họ có thể đạt được khi không bị xâm lược và lật đổ từ bên ngoài. Trong bài phát biểu ngày 15/8/1967,[157] trợ lí ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương William P. Bundy khi bình luận về “bộ quyết định thứ năm”, đã lưu ý rằng chúng xuất phát từ nhận định rằng mối đe dọa xâm lược của Bắc Việt và Trung Hoa Cộng sản đối với Thái Lan, Philippines, Nam Việt, Lào và Cambodia là có thật. Người ta cũng nhận định rằng việc Bắc Việt hoặc Trung Hoa Cộng sản nắm quyền thành công ở bất kì nước nào trong số các nước này sẽ sớm khiến các nước khác không thể duy trì được nền độc lập của mình. Người ta cũng nhận định thêm rằng, mặc dù Hoa Kì không muốn có vị thế đặc biệt nào ở Đông Nam Á, nhưng việc khu vực đó, hoặc phần lớn khu vực đó bị chuyển cho cộng sản kiểm soát thông qua lật đổ hoặc xâm lược chỉ có thể được coi là tạo ra tình trạng thống trị hung hãn đối với phần lớn châu Á, giống như những gì quân phiệt Nhật Bản đã cố tạo ra, điều này sẽ “hoàn toàn trái ngược với lợi ích quốc gia của chúng ta.” Chúng ta cũng tin rằng “các quốc gia Đông Nam Á thật sự là những thực thể quốc gia hợp lệ và mặc dù sự tiến bộ của họ có thể còn chậm chạp và chưa hoàn hảo cả về chính trị lẫn kinh tế, nhưng sự tiến bộ này đáng được ủng hộ.” Bundy chỉ ra rằng vào lúc đó chính sách này đã nhận được sự ủng hộ vượt xa những người phản đối chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc và châu Á theo cảm tính.

[1] Nói chuyện với Dr. Kenneth P. Landon, October 1980.

[2] Robert Aura Smith in The New York Times Book Review of the Struggle for Indochina, May 1954.

[3] Leon Wolff, Little Brown Brother, How the Americans Conquered the Philippines in 1898-1902 (Philippines: Erewhon Press, 1971), cover and title page.

[4] Guy Wint, The British in Asia (London: Faber, 1954), 226-28.

[5] Bernard B. Fall, The Two Viet-Nams, A Political and Military Analysis (New York: Frederick A. Praeger, 1964), 40.

[6] Admiral Decoux, A la Barre de l’Indochine (Paris: Librairie Plon, 1949), 48.

[7] Fall, Two Viet-Nams, 40.

[8] Decoux, A la Barre de l’Indochine, 141.

[9] Edwin F. Stanton, Brief Authority (New York: Harper & Bros., 1956), 171.

[10] Wint, British in Asia, 229.

[11] Ibid, 230.

[12] Ibid.

[13] Ibid, 231.

[14] Ibid, 233-34.

[15] Chuyện trò với Kenneth Landon, October 1980. Ghi chú của biên tập: Được xác định như là quyết định “đầu tiên” của trợ lí Ngoại trưởng Bundy, người mà tôi đã mượn danh sách liệt kê. Department of State Publication 8295, Released September 1967. Xem Phụ lục A

[16] Chuyện trò với Kenneth Landon; Hammer, Ellen J. The Struggle for Indochina (Stanford: Stanford University Press, 1954), 42-42; U.S. Department of State. The Path to Viet-Nam, Released September 1967; Fall, Two Viet-Nams, 53.

[17] Fall, Two Viet-Nams, 51.

[18] Ibid, 55-8.

[19] Ibid, 53.

[20] Ibid.

[21] Ibid, 57

[22] Ibid, 69.

[23] Chuyện trò với Kenneth Landon, October 1980.

[24] Michael Charlton and Anthony Moncrieff, Many Reasons Why (New York: Hill and Wang, 1978), 5-6.

[25] Ibid, 6-14.

[26] Ibid, 17

[27] Bernard B. Fall, Le Viet Minh, 1945-1960 (Paris: Librairies Armand Colin, 1960), 19- 20.

[28] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 17.

[29] Ibid, 18.

[30] Historia (hors Série 24), Notre Guerre d’Indochine, Mars 1945-Juillet 1951 (Paris: Librairie Jules Tallandier, 1972), “Leclerc Arrive,” Raymond Dronne; Hammer, Struggle for Indochina, 110-11.

[31] Hammer, Struggle for Indochina, 176, 178-81.

[32] Ibid, 131; Historia, Notre Guerre d’Indochine, “Ho Chi Minh à l’Affût,” Jean Laccuture.

[33] Trao đổi với quận trưởng Gò Vấp, 1953.

[34] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 25.

[35] Ibid, 25.

[36] Ibid.

[37] Historia, Notre Guerre d’Indochine, “Ho Chi Minh Proclame la Republique,” Jean Sainteny.

[38] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, Chapter I; Fall, Two Viet-Nams, Chapter IV; Historia, Sainteny, “Ho Chi Minh,” 37; Robert McClintock, The Meaning of Limited War (Boston: Houghton Mifflin, 1967), 174.

[39] Fall, Two Viet-Nams, 107; Hammer, Struggle for Indochina, 120, Historia, “Leclerc arrive,” 48..

[40] Historia, Dronne, “Leclerc Arrive,” 53.

[41] Historia, “L’Impromptu de Fontainebleau,” Louis Saurel, 59.

[42] Hammer, Struggle for Indochina, 211; Fall, Two Viet-Nams, 73-4.

[43] Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952 (Paris: Editions du Seuil, 1952), 219; Hammer, Struggle for Indochina, 110-11.

[44] Fall, Two Viet-Nams, 73; Hammer, Struggle for Indochina, 153.

[45] Hammer, Struggle for Indochina, 165-68; Historia, Saurel, “L’Impromptu de Fontainebleau,” 57-61.

[46] Hammer, The Struggle for Indochina, 202.

[47] Nói chuyện với Kenneth P. Landon, October 1980.

[48] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 27; Historia, Saurel, “L’Impromptu de Fontainebleau,” 57; Department of State, Path to Viet-Nam, 1-2.

[49] David S. McClellan, Dean Acheson, The State Department Years (New York: Dodd, Mead and Company, 1976), 259-60; Hammer, Struggle for Indochina, 202

[50] Robert McClintock, The Meaning of Limited War, Chapter IX.

[51] Historia, Saurel, 57.

[52] Hammer, Struggle for Indochina, 149.

[53] Ibid, 187-91.

[54] Ibid, 191

[55] Ibid, 192

[56] Devillers, Histoire du Viet-Nam, 363-64.

[57] Hammer, Struggle for Indochina, 247 et seq.

[58] Historia, “L’Autre Solution: Bao Dai chef d’État,” Philippe Devillers, 89–90.

[59] Hammer, Struggle for Indochina, 247-48.

[60] McClellan, Dean Acheson, 239.

[61] Ibid, 242.

[62] Ibid, 253.

[63] Ibid, 262

[64] Ibid.

[65] Ibid.

[66] Ibid.

[67] U.S. Senate, Committee on Foreign Relations, Background Information relating to Southeast Asia and Viet-Nam, 3d Revised Edition (Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office, 1967, 79-6620).

[68] Hammer, Struggle for Indochina, 250-51.

[69] Ibid, 267

[70] Dean Acheson, Present at the Creation (New York: Signet Books, 1970), 856.

[71] Ibid.

[72] Ibid, 856; Background Information, 44.

[73] Devillers, “Histoire du Viet-Nam, Dam chef d’État,” Historia, 91.

[74] Dean Acheson, Present at the Creation, 857.

[75] Ibid, 857.

[76] McClellan, Dean Acheson, 264–65; U.S. Senate, Background Information, 4-45.

[77] McClellan, Dean Acheson, 265, 383.

[78] Ibid, 385.

[79] Ibid.

[80] Time Magazine, August 28, 1950, 18-20.

[81] Dean Acheson, Present at the Creation, 857-58.

[82] Ibid, 858.

[83] Kế hoạch Pleven là một đề xuất về một đội quân châu Âu thống nhất, kết hợp các đơn vị từ nhiều quốc gia.

[84] Ibid, 634-40

[85] McClintock, Limited War, 178-80.

[86] Historia, Le Roi Jean,” Jean-Pierre Dannaud, 178.

[87] Ibid, 179; McClintock, Limited War, 161; Acheson, Present at the Creation, 861.

[88] Hammer, Struggle for Indochina, 291; McClintock, Limited War, 160, 191; McClellan, Acheson, 383.

[89] Foster Rhea Dulles, American Foreign Policy Toward Communist China (New York: Thomas Y. Crowell Company, 1972), 89-91.

[90] Ibid, 91.

[91] Ibid.

[92] Ibid, 92.

[93] Ibid, 92-3.

[94] Ibid, 93

[95] Ibid, 94.

[96] Ibid, 97.

[97] Ibid, 109, 122-23

[98] McClintock, Limited War, 173.

[99] Dulles, American Foreign Policy Toward Communist China, 124.

[100] Acheson, Present at the Creation, 859.

[101] Ibid, 859.

[102] Imprimerie d’Extrême-Orient, Conventions Inter-Etats (Saïgon, 1951).

[103] Acheson, Present at the Creation, 860.

[104] Ibid, 860.

[105] Ibid.

[106] Ibid.

[107] Ibid.

[108] Ibid, 860-61.

[109] Ibid, 861.

[110] Ibid.

[111] Ibid, 861-62.

[112] Ibid, 862.

[113] Ibid.

[114] Ibid, 862-63.

[115] Writer’s recollection.

[116] Editor’s note: He was also blamed, some thought unjustly, for the Cao Bang disaster of 1950 and his prospects for further advancement in the French Army had vanished. (Ông cũng bị đổ lỗi, một số người cho rằng không công bằng, về thảm họa Cao Bằng năm 1950 và triển vọng thăng tiến hơn nữa của ông trong quân đội Pháp đã tan biến.)

[117] Writer’s recollection of conversation with Alessandri in 1953.

[118] Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change (New York: Signet Books, 1965), 215.

[119] Ibid, 216.

[120] Ibid, 217.

[121] Ibid.

[122] Ibid.

[123] Ibid.

[124] Ibid.

[125] Ibid, 218.

[126] McClintock, Limited War, 163; Bernard B. Fall, Hell in a Very Small Place (Philadelphia/New York: J. B. Lippincott Company, 1967), ix, 450 et seq.

[127] Eisenhower, Mandate, 409-11.

[128] Ibid, 412.

[129] Ibid.

[130] Ibid, 413.

[131] Ibid.

[132] Ibid, 415.

[133] Ibid.

[134] Ibid, 416.

[135] Ibid, 418.

[136] Ibid, 417-18.

[137] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 33.

[138] McClintock, Limited War, 167-68.

[139] McClintock, Limited War, 168.

[140] Eisenhower, Mandate, 426.

[141] Ibid, 427.

[142] Ibid, 428-29.

[143] Ibid, 429.

[144] Ibid, 432.

[145] Ibid, 433.

[146] Ibid, 433-34.

[147] Ibid, 437-38.

[148] Ibid, 442.

[149] Ibid, 443-48.

[150] Ibid, 448.

[151] McClintock, Limited War, 173-74.

[152] Ibid, 175.

[153] Ibid, 176-77.

[154] U.S. Senate Committee, Background, 82-91.

[155] Acheson, Present at the Creation, 859.

[156] U.S. Senate Committee, Background, 82.

[157] U.S. Department of State, The Path to Viet-Nam.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.