Những mảnh hồn Hà Nội (phần 4)

Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng

VÀI MẢNH ĐỜI LÍNH

Rời phòng máy khang trang, sáng sủa trong ngôi nhà dưới bóng soài cổ thụ gần cổng Cửa Nam chuyển đến làm việc trong hầm tầng một tháp Cột Cờ và trong lô cốt bê tông bên cổng Cửa Đông, đại đội 3 trở thành một chốn ba nơi. Trước đây chỉ một chốn đôi nơi. Chỉ có trung đội 3 do thiếu uý Nguyễn Văn Thọ là trung đội trưởng có nhiệm vị điều chỉnh tần số máy phát sóng theo yêu cầu của trạm khai thác thông tin, phải ở liền với trạm máy phát đặt ở gần cổng Cửa Bắc. Trung đội 1 và trung đội 2 khai thác thu thông tin vẫn cùng ban chỉ huy đại đội ở ngôi nhà gần cổng Cửa Nam.

Nay trung đội 1 làm việc trong hầm trên tầng một tháp Cột Cờ vẫn ở ngôi nhà đại đội, bề thế, nền cao, tường dày, hành lang rộng. Phòng lính ở ấm áp khi mùa đông cửa khép lại, thoáng mát khi mùa hè cửa sổ rộng hướng bắc, cửa ra vào lớn hướng nam mở toang. Trung đội 2 làm việc trong lô cốt bên cổng Cửa Đông chuyển đến ở ngôi nhà trước đây là nhà xưởng của nhà máy thông tin M1 đã rời lên miền đồi trung du Phú Thọ, trước nữa là nhà lính Pháp. Chúng tôi gọi nơi ở mới bên con đường đi ra cổng Cửa Đông là chợ Đồng Xuân vì nhà khung sắt, tường mỏng, trần rất cao, cửa rộng thông thống, không có cánh cửa, trong nhà rộng thênh thang như trong lòng ngôi nhà chợ Đồng Xuân.

Ngôi nhà dài theo hướng Đông – Tây song song với đoạn đường trải nhựa từ thành cổ ra cổng Cửa Đông. Nhưng nhà không trổ cửa hướng bắc, không mở lối ra đường Cửa Đông mà trổ cửa rộng hướng nam nhìn ra mảnh sân rộng và dài. Để tiện đường ra nơi làm việc ở lô cốt cạnh cổng Cửa Đông, lính được lệnh trổ thêm cửa ở bức tường nhà hướng bắc và trổ cổng ở bức tường ngăn cách ngôi nhà với con đường ra cổng Cửa Đông.

Nơi ở cũ, mỗi tiểu đội cũng là mỗi ca làm việc chín người ở một phòng kê năm giường tầng. Đến nhà mới cả trung đội bốn tiểu đội ở một phòng, gần bốn mươi giường đơn kê cách nhau khoảng rộng vẫn còn khoảng trống thênh thang. Vốn là nhà ở của lính Pháp nên có bức tường chia nhà thành hai không gian, hai đẳng cấp khác biệt. Không gian mênh mông như lòng nhà chợ Đồng Xuân dành cho lính. Không gian nhỏ khép kín, riêng tư, cửa số, cửa ra vào đều có cánh cửa gỗ tốt, chắc nịch dành cho sĩ quan. Chúng tôi ở phòng lớn còn phòng ở của sĩ quan Pháp trước đây tuy nhỏ so với phòng lính nhưng cũng khá rộng kê được hai hàng, bảy dãy bàn, ghế dài. Bàn có gắn ma níp và hệ thống thu, phát tín hiệu vừa là lớp học của báo vụ để lính ôn luyện kĩ năng thu phát tín hiệu, vừa là hội trường sinh hoạt đại đội. Trước dãy bàn và ghế dài có bàn rộng và tấm bảng đen treo trên tường.

Chiến tranh đã đưa mười tám cô gái tốt nghiệp lớp đào tạo báo vụ trường trung cấp Bưu Chính từ thị xã Phủ Lý, Hà Nam về Hà Nội trở thành lính báo vụ đại đội 3. Biên chế về hai trung đội nhưng mười tám cô lính binh nhì vẫn ở chung gian nhà gần cổng Cửa Nam. Có con trai, con gái tuổi hai mươi, trái tim đã thức dậy, đang khao khát yêu đương, hàng ngày cùng nề nếp, giờ giấc sinh hoạt, tiếp xúc với nhau, cùng làm việc ca kíp, đi đêm về hôm với nhau, tất yếu phải nảy sinh những tình cảm riêng tư dành cho nhau. Gian nhà hội trường yên tĩnh, riêng biệt, vắng vẻ, đôi khi lại là nơi gặp của hai trái tim có cùng nhịp đập. Đôi lần tôi thấy Phạm Đức và Ngô Thị Việt Hồng ngồi rì rầm bên nhau trong gian nhà hội trường yên tĩnh, vắng vẻ.

Chiến tranh đã đưa các cô gái học báo vụ trường Bưu Chính Hà Nam về Hà Nội làm lính thông tin thì chiến tranh cũng làm cho khoảng cách Hà Nội – Quảng Ninh thêm ngàn trùng cách trở và chấm dứt tình cảm học trò thừa lãng mạn, thiếu thực tế giữa anh lính Phạm Đức và cô bạn Phạm Bích Ngoc, bạn học của Phạm Đức ở trường cấp ba Ngô Quyền, Hải Phòng nay đang là sinh viên trường đại học Mỏ – Địa Chất ở mãi vùng mỏ Đông Bắc, Quảng Ninh.

Ngô Việt Hồng là con một gia đình cán bộ kháng chiến chống Pháp quê Rạch Giá tập kết ra Bắc. Con gái miền biển Rạch Giá nơi chót cùng cực Nam đất nước mặn mòi gió biển và thừa thãi nắng nhiệt đới mà Hồng có làn da trắng hồng, cặp môi mọng đỏ tự nhiên như tô son và cặp mắt mơ màng như gần, như xa trong màn sương bảng lảng trên Hồ Tây mùa thu Hà Nội. Tôi biết Ngô Việt Hồng và Phạm Đức đến với nhau khởi đầu từ bài thơ Gió Bấc của Phạm Đức viết cho báo tường đại đội. Bài thơ dài, tôi chỉ nhờ tiêu đề và ý tứ bài thơ diễn giải tình yêu lứa đôi trong tình yêu đất nước. Đất nước rộng dài. Cô gái dời quê miền nam nắng ấm ra miền bắc theo lí tưởng tuổi trẻ gặp mùa đông gió bấc se sắt rét cắt da cắt thịt. Tuổi thơ êm đềm trên quê hương miền nam quanh năm chỉ có mùa khô và mùa mưa, chỉ có mùa xuân và mùa hè. Mùa xuân náo nức cho cây đơm hoa. Mùa hè nồng nàn nắng gió cho trái đọng mật đợi ngày chín ngọt. Tuổi trẻ đến với chân trời lí tưởng, đến với thử thách làm nên giá trị cuộc đời và cơn gió bấc lùa tê tái mùa đông miền bắc là thử thách đầu tiên. Những thử thách khắc nghiệt chỉ làm cho con người thêm mạnh mẽ và tình yêu thêm bền bỉ. Gió bấc tê tái càng nhận ra hơi ấm từ cái ổ rơm đơn giản, sơ sài trong ngôi nhà tranh tuềnh toàng ở miền bắc.

Bài thơ có tứ độc đáo, khá hay nhưng không hiểu sao Gió Bấc không có trong các tập thơ Phạm Đức được xuất bản sau này. Hoặc có mà tôi không biết. Những tập thơ của Đức đều xuất bản sau khi Đức đã chuyển ra dân sự. Chuyển ngành ra cơ quan trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, là đảng viên cộng sản, Đức được đưa sang Nga học khoá cán bộ công tác đoàn một năm ở trường Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Komsomol Liên Xô rồi về làm phó giám đốc nhà xuất bản Thanh Niên ở Hà Nội. Sau khi người vợ lính thông tin “Em rừng, anh biển mà quen / Suối tình yêu nhỏ nên sông biển dài” đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức không trở về, gia đình tan vỡ, Đức lận đận mãi vẫn không gặp được một nửa còn thiếu của mình. Không có người đàn bà đồng hành trong cuộc đời đầy khó khăn, thiếu thốn. Không có được cả mái ấm ngôi nhà của mình, không có căn hộ riêng. Suốt quãng đời dân sự lận đận kéo dài của Đức, tôi đã ở xa Đức gần hai ngàn cây số, ít có dịp gặp Đức, không có đầy đủ các tập thơ của Đức.

Thơ Đức có những phát hiện tinh tế, có giọng điệu riêng đáng nhớ và mảng thơ đáng nhớ nhất, hay nhất của Đức là thơ tình. Nhưng nhớ đến Phạm Đức, tôi nhớ đến những cuộc tình dang dở và tan vỡ của Đức nhiều hơn nhớ đến những tập thơ của Đức. Nhớ cuộc tình anh lính Phạm Đức và cô sinh viên trường Mỏ Địa Chất dìu dặt bên nhau trên đường phố hoang vắng trong trận mưa tầm tã mùa hè bình yên cuối cùng của Hà Nội trước khi bước vào chiến tranh. Nhớ mối tình Gió Bấc của anh lính quê Hải Dương, học sinh trung học Hải Phòng đất bắc và cô lính quê Rạch Giá phương nam. Nhớ cặp vợ chồng lính “em rừng anh biển mà quen” trong gian nhà chật chội mà đầm ấm giữa dãy nhà tạm mái lợp giấy dầu, tường vách đất trong khu gia đình bệnh viện Bạch Mai.

Nhớ nhiều đến những cuộc tình của Đức vì tôi đã được chứng kiến, đã được chính Đức kể cho nghe những khoảnh khắc ngọt ngào, say đắm của những cuộc tình đó. Chính tôi cũng có một kỉ niệm với gian nhà khởi đầu mối tình “Gió Bấc” của Phạm Đức, gian nhà vốn dành cho sĩ quan Pháp nay là gian nhà hội trường, nơi sinh hoạt đại đội, nơi dành cho chính trị viên đại đội bồi dưỡng và củng cố lập trường giai cấp vô sản cho đám lính trẻ chúng tôi.

Một lần trong yên tĩnh, vắng lặng của gian phòng hội trường, tôi cầm phấn viết lên bảng đen nỗi niềm như mơ hồ nhưng luôn đi về, luôn thấp thoáng ẩn hiện trong cảm nhận, trong vô thức của tôi:

Sao giá lạnh ôi trái tim hồng tuổi trẻ

Sao hoang vu ôi vầng trán đại dương

Sao ngơ ngác kiếm tìm ôi đôi mắt ngời gương

 

Vì trong đời còn nhiều nỗi cô liêu

Hay lẽ phải còn nhiều điều chưa tỏ?

Tôi viết rồi đến giờ đi nhận ca và quên luôn. Chiều hôm sau, gặp tôi, Phạm Đức bảo: Mày viết lăng nhăng trên bảng hội trường không xoá đi để ông Thế tra hỏi, hạch xách bọn tao. Thì ra sáng hôm sau, mấy hàng chữ tôi viết lọt vào mắt thiếu uý trung đội trưởng trung đội 2 Lưu Anh Tuấn.

Sĩ quan không có gia đình ở Hà Nội mới ở 24/24 giờ trong thành cố. Bốn cán bộ đại đội 3, đại đội trưởng, trung uý Bùi Đình Phù quê Diễn Châu, Nghệ An. Đại đội phó, thiếu uý Lê Như Tín quê Thường Tín, lúc đó còn thuộc Hà Tây. Chính trị viên trưởng, trung uý Nguyễn Văn Thước quê Đoan Hùng, Phú Thọ. Chính trị viên phó, thiếu uý Nguyễn Văn Thế quê Thanh Liêm, Hà Nam. Ban chỉ huy đại đội chỉ có phòng ngủ mà không có phòng làm việc. Hai bàn làm việc của đại đội trưởng và chính trị viên trưởng kê cạnh giường ngủ. Bốn cán bộ đại đội, bốn chiếc giường đơn trong phòng đầu dãy nhà bốn phòng mà ba phòng còn lại kê giường tầng của lính. Ngày ba bữa cầm bát sắt đến nhà ăn trung táo của sĩ quan. Sĩ quan có gia đình ở Hà Nội thì giờ nghỉ ở gia đình, chỉ đạp xe vào thành cổ giờ làm việc. Trung đội trưởng trung đội 1, thiếu uý Trần Lưu Tuấn có nhà riêng ở phố Tông Đản, phố Tây gần nhà Hát Lớn. Trung đội trưởng trung đội 2, thiếu uý Lưu Anh Tuấn chưa vợ nhưng có gia đình ở Hà Nội và chúng tôi cũng chỉ thấy mặt trung đội trưởng Lưu Anh Tuấn trong giờ làm việc.

Tôi đang trong ca làm việc sáng thì thiếu uý Lưu Anh Tuấn đến trung đội, vào hội trường thấy mấy chữ tôi viết liền về ban chỉ huy đại đội mách chính trị viên trưởng Nguyễn Vân Thước. Đứng trên hè trước gian phòng cán bộ đại đội, chính trị viên trưởng Nguyễn Văn Thước giao cho chính trị viên phó Nguyễn Văn Thế đi xem xét vụ việc mà thiếu uý Lưu Anh Tuấn vừa báo cáo. Hạ sĩ Phạm Đức vô tình nghe được điều mấy ông cán bộ nói với nhau liền đi trước thiếu uý Nguyễn Văn Thế vài bước chân, vào hội trường, xoá mấy hàng chữ phấn trắng tôi viết trên bảng đen. Nhờ vậy đận đó tôi thoát nạn nhưng vốn đã có tiếng về thơ phú lãng mạn, lại thấy Đức lảng vảng ở hội trường, thiếu uý Nguyễn Văn Thế, chính trị viên phó đại đội xuất thân nông dân liền hạch hỏi Đức và nhìn Đức bằng con mắt đầy cảnh giác cách mạng.

Trước khi phát đi lời kêu gọi thống thiết với người dân cả nước ngày 17.7.1966 “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa”, ngày 1.7.1966 Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã kí lệnh động viên cục bộ, vét lính cho cuộc chiến tranh vô định “20 năm hoặc lâu hơn nữa”. Dù chỉ là động viên cục bộ, nhiều cán bộ dân sự, nhiều dân thường ở tuổi trên dưới bốn mươi, quá tuổi nghĩa vụ quân sự rất lâu cũng được lùa vào lính. Lệnh đông viên “Chống Mỹ cứu nước” đã đưa bác nông dân Nguyễn Văn Thế, 41 tuổi, bí thư đảng uỷ xã vùng đồng chiêm trũng Hà Nam vào quân đội.

Đi học lớp sĩ quan chính trị ngắn ngày, chỉ vài tháng, nhận quân hàm thiếu uý, làm chính trị viên phó đại đội thì kiến thức quân sự, kiến thức chính trị của bí thư đảng uỷ xã Nguyễn Văn Thế chỉ là thuộc lòng mớ lí luận quân đội là công cụ bạo lực chuyên chính vô sản để đảng cộng sản tiến hành cuộc cách mạng triệt để tiêu diệt giai cấp phong kiến thống trị và giai cấp tư sản bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghia cộng sản không còn giai cấp, thiên đường có thật trên trái đất. Chính trị viên tiểu đoàn đến chính uỷ binh chủng thì có thêm thâm niên quân ngũ. Chỉ có vậy mà chính uỷ binh chủng Thông Tin từ chính uỷ Lê Cư đến chính uỷ đương nhiệm hiện nay đều thăng tiến đến hàm thiếu tướng. Còn thiếu uý Lưu Anh Tuấn tinh thông nghiệp vụ kĩ thuật thông tin, lúc về hưu chỉ là đại tá sĩ quan tham mưu binh chủng thông tin.

Là cháu ngoại của đại tá Hoàng Đạo Thuý, cục trưởng cục Thông Tin Liên Lạc từ khi thành lập tháng chín, năm 1945, thiếu uý trẻ Lưu Anh Tuấn tràn đầy lòng tin vào lí tưởng cộng sản vì vậy thoáng nhìn thấy mấy dòng chữ não lòng ảnh hưởng đến lập trường giai cấp, tinh thần chiến đấu của lính “Vì trong đời còn nhiều nỗi cô liêu / Hay lẽ phải còn nhiều điều chưa tỏ” viết trên bảng hội trường bộc lộ một tâm thế, một tư tưởng dao động, bấp bênh, thiếu kiên định lập trường cách mạng của kẻ lạc lõng, mang nỗi hoài nghi với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, cũng là hoài nghi lí tưởng cộng sản, hoài nghi sự lãnh đạo của đảng, thiếu uý Lưu Anh Tuấn liền đi mách chính trị viên, bí thư chi bộ đại đội.

Rất cộng sản, rất khác với đám lính xuất thân học trò tiểu tư sản nhưng chỉ hơn đám lính chúng tôi vài tuổi, lại xởi lởi, thân tình, thiếu uý Lưu Anh Tuấn gần gũi với chúng tôi như bầu bạn cùng trang lứa. Đám cưới thiếu uý Lưu Anh Tuấn với cô gái tên Yến ở Phương Liệt, Bạch Mai và lễ cưới tổ chức ở nhà gái, chúng tôi đã đến Phương Liệt dựng rạp, trang trí, kê bàn ghế, lo tiếp khách, thực sự là người ruột thịt của nhà trai. Sau chiến tranh tôi phiêu bạt vào Sài Gòn còn vợ chồng đại tá Lưu Anh Tuấn cùng hai con trai được bộ tư lệnh Thông Tin cấp cho căn hộ rộng rãi trong khu gia đình sĩ quan ở Cống Mọc, Nhân Chính, Hà Nội.

Một lần điện thoại của tôi có cuộc gọi từ số máy lạ. Mở điện thoại trả lời, tôi thoáng chút ngờ ngợ rồi nhận ra giọng nói của thiếu uý trung đội trưởng Lưu Anh Tuấn ngày nào. Cuộc gọi từ khu gia đình sĩ quan thông tin, Cống Mọc, Nhân Chính, Hà Nội. Đại tá nghỉ huu Lưu Anh Tuấn bảo đã đọc nhiều bài của tôi trên trang Bô Xít, trang Ba Sàm, từ lâu rất muốn gọi cho tôi. Mãi nay mới có số điện thoại của tôi do hôm trước gặp đại tá Nguyễn Văn Khoan trong ngày truyền thống binh chủng Thông Tin, mùng chín tháng chín. Đại tá Tuấn tỏ ra vui mừng, hào hứng chia sẻ với tôi sự đồng cảm về những suy tư, những nỗi niềm của tôi trong những bài viết trên các trang báo mạng lề dân.

Tôi đã được những ông bạn lính thông tin thời làm việc ở thành cổ Cột Cờ cho biết khi về hưu, đại tá, đảng viên cộng sản Lưu Anh Tuấn đã lặng lẽ tự rời bỏ đảng, tự khai trừ mình ra khỏi tổ chức cộng sản khi không nộp giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng cho đảng uỷ nơi cư trú mà giấu biến tờ giấy chuyển sinh hoạt đảng như giấu biến một tì vết, giấu biến một thời lầm lạc về lí tưởng.

Đại tá về hưu ở Hà Nội hàng ngày đều có tiêu chuẩn được nhận ba tờ báo, báo Hà Nội Mới của đảng bộ Hà Nội, báo Quân Đội Nhân Dân của đảng uỷ quân sự trung ương và báo Nhân Dân của trung ương đảng nhưng từ khi có internet, có các trang báo mạng lề dân, đại tá rời bỏ lí tưởng cộng sản Lưu Anh Tuấn hàng ngày không đọc báo đảng thiếu vắng sự thật, thiếu vắng cuộc sống thật mà chăm chỉ vào mạng, đọc những trang báo mạng lề dân để biết những sự thật bị khuất lấp. Do vậy những bài viết của tôi trên các trang mạng lề dân đã đến được với trung đội trưởng cũ của tôi nay là đại tá nghỉ hưu Lưu Anh Tuấn. Những tờ báo đảng, báo Nhân Dân, báo Quân Đội Nhân Dân, báo của đảng bộ tỉnh thành nơi đảng viên cư trú được phát không cho cán bộ cao cấp của đảng vì những tờ báo của các đảng bộ đều không bán được trên thị trường báo chí, đảng liền lấy kinh phí chính trị từ ngân sách nhà nước mua báo đảng phát không cho các đảng viên cao cấp của đảng như một tài liệu học tập chính trị, một cẩm nang tu dưỡng giữ vững lập trường, lí tưởng cộng sản,.

Đột ngột, bất ngờ nhưng cuốc điện thoại của đại tá Lưu Anh Tuấn không làm tôi ngạc nhiên chỉ mang lại cho tôi một thoảng vui. Trong niềm vui nho nhỏ, thầm lặng. tôi bảo: Em vẫn viết như thời em là lính của anh mà. Anh có nhớ lần anh mách chính trị viên Thước về mấy câu thơ con cóc “Sao giá lạnh ôi trái tim hồng tuổi trẻ” em viết trên bảng đen ở hội trường đại đội 3 trong thành cổ Cột Cờ Hà Nội không? Trung đội trưởng năm xưa của tôi cũng hào hứng nhớ đến thời xa xưa ấy: Có chuyện ấy à? Nhớ lại ngày ấy, mình chỉ nhớ tờ báo tường và những bộ phim đèn chiếu của Trọng thôi.

Nhớ đến tờ báo tường, đến phim đèn chiếu là nhớ đến những việc làm chính trị, tư tưởng với lính của hệ thống chính trị trong quân đội. Thời chiến tranh, công tác tư tưởng, bơm đô pinh tinh thần cho lính được cả một hệ thống nhiều tầng, nhiều lớp làm rất ráo riết.

Tối nào đại đội cũng tập trung nghe đọc báo Quân Đội, báo Nhân Dân. Những đợt học chính trị nối nhau và kéo dài vô tận, liên tục nhồi nạp kĩ lưỡng lập trường giai cấp cho người lính cách mạng. Nghe lên lớp chính trị ở tiểu đoàn. Thảo luận ở tổ. Viết thu hoạch cá nhân. Thông qua thu hoạch cá nhân ở tổ học tập để cả tổ đóng góp ý kiến, nâng cao nhận thức về đấu tranh giai cấp cho mọi người lính. Tiểu đoàn còn phát động liên tiếp nhiều đợt học tập ôn nghèo kể khổ. Cả tiểu đoàn tập trung nghe những người thật, việc thật kể lại cuộc đời bất hạnh sống lay lắt không ra kiếp người khi chưa có cách mạng để lính thấy được công ơn như trời cao, biển rộng của đảng, của bác Hồ, của cách mạng với người dân, với đất nước Việt Nam.

Cả tiểu đoàn lặng đi trong xúc động khi nghe Nguyễn Văn Chước, lính nhập ngũ tháng tư, năm 1962 nay là hạ sĩ, báo vụ đại đội 3, quê Dịch Vọng, Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội kể chuyện tháng ba, năm 1945, mới ba tuổi, phải đi ăn mày với mẹ, vật vờ ở chợ Cầu Giấy, rình người ăn bánh vất lá gói bánh liền xô đến giành giật với những người ăn mày khác để liếm chút bánh dính trên lá. Có lần giành giật bị đánh đổ máu. Không biết những điều hạ sĩ Chước nói có được chính trị viên bồi dưỡng, biên tập, tô đậm, nâng lên cho điển hình, cho lâm li và tập cho Chước cách nói không mà nhìn dáng cao gày lêu đêu như con cò con vạc, nghe giọng nói mộc mạc của Chước, nhiều người lính mủi lòng rơm rớm nước mắt.

Nhân nhắc đến đồng đội lính thông tin có tuổi thơ khốn khó Nguyễn Văn Chước, tôi xin kể thêm quãng đời rời quân ngũ trở về cuộc sống dân sự của người lính ở làng Dịch Vọng, Từ Liêm, ngày đó còn là ngoại thành Hà Nội. Chiến tranh nam bắc kết thúc, Nguyễn Văn Chước có lon thượng sĩ, cưới vợ là cô lính báo vụ, trung sĩ Nguyễn Thị Lành, quê Hưng Yên, nhập ngũ năm 1966. Sau lớp huấn luyện báo vụ, Lành được biên chế về tiểu đội khai thác thông tin do Chước là tiểu đội trưởng.

Không có văn bản chính thức nào cấm lính trai, lính gái yêu nhau. Tuy nhiên đơn vị quân đội nào có lính con gái, cán bộ quản lí lính cũng xét nét nghiêm khắc, cấm đoán ngặt nghèo quan hệ trai gái trong đơn vị. Nhưng ở căn cứ dã chiến trong lau lách hoang vu dưới chân núi Ba Vì, bước ra khỏi nhà ngủ chìm dưới mặt đất, bước ra khỏi hầm làm việc trong lô cốt bê tông trên đỉnh đồi là trập trùng đồi hoang mời gọi những lứa đôi cần tìm chốn vắng vẻ. Là bạt ngàn bờ bụi sim mua lúp xúp, rậm rì, kín đáo, lặng lẽ che chở cho những mối tình phải giấu giếm. Là thảm cỏ êm như chiếu hoa, như nệm gấm cho những đắm say. Làm sao những con mắt xét nét có thể trải khắp đồi hoang, trải khắp bờ bụi được. Vì vậy bên cạnh những mối tình chính đáng, những tình yêu đích thực như Chước – Lành còn có cả những cuộc tình lừa lọc, chiếm đoạt đời con gái của những cô lính trẻ.

Cô lính bị lừa có mái tóc dài xoã lưng, sợi tóc quăn tự nhiên từ chân tóc, con gái làng Bưởi, nơi có nghề thủ công làm giấy dó lâu đời của Hà Nội. Con gái Hà Nội, tốt nghiệp trung học phổ thông, tốt nghiệp lớp báo vụ trường trung cấp bưu chính, nhập ngũ năm 1965, báo vụ giỏi, đã giành huy chương bạc trong cuộc thi thu phát tín hiệu vô tuyến điện quân đội bốn nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ ở Bắc Kinh năm 1966, cô giáo dạy văn hoá cho lính thời còn ở trong thành cổ Hà Nội. Con gái kinh kì Hà Nội lại có hiểu biết, có văn hoá vẫn là cô gái nhẹ dạ nên có thai với anh lính bẻm mép, từng trải, là trung sĩ, linh tái ngũ đã có vợ đảm, con đàn, đã có gia đình bền vững không thể phá bỏ ở quê Thuận Thành, Hà Bắc.

Lính tái ngũ là lính nghĩa vụ quân sự đợt đầu tiên sau khi có luật nghĩa vụ quân sự năm 1958. Đầu những năm sáu mươi thế kỉ hai mươi, hết thời hạn nghĩa vụ quân sự, họ được xuất ngũ. Giữa những năm sáu mươi, chiến tranh lan rộng cả nước. Lệnh động viên cục bộ ban ra. Lớp lính xuất ngũ được gọi trở lại quân đội. Lính tái ngũ đều ngoài ba mươi tuổi, vợ con đề huề, từng trải cuộc đời và trường tình.

Tháng tư năm 1975 cuộc chiến tranh nam bắc kết thúc thì tháng mười năm đó, Chước – Lành làm đám cưới. Từ căn cứ dã chiến chân núi Ba Vì, hai vợ chồng ra quân, dẫn nhau về sống ở quê Chước, Dịch Vọng, Từ Liêm. Ở lính, Chước sống hồn nhiên, vui vẻ, nói năng hài hước. Về đời sống dân sự Chước lại học nghề khóc mướn bằng tiếng kèn thống thiết. Chước làm nghề thổi kèn đám ma. Lành chạy chợ. Một gia đình dân thường, bình dị, còn nhiều vất vả lo toan nhưng đầm ấm và ăm ắp hạnh phúc. Không bất hạnh như cô lính nhẹ dạ có thai với anh lính từng trải và lừa lọc. Bị lừa tình, cái thai phải phá bỏ dấm dúi nên phá luôn cả chức năng làm mẹ của người đàn bà. Sau này dù có chồng cũng là một người lính thông tin quê Lạng Sơn nhưng người đàn bà bạn lính của tôi, cũng là bạn lính của Chước, Lành, không thể có thai được nữa! Không được làm mẹ. Hai vợ chồng lính phải nhận một đứa con gái làm con nuôi sống trên mảnh đất của ông bà, bố mẹ để lại ở làng Bưởi nay là ngôi nhà trong ngõ nhỏ bên số chẵn đầu phố Hoàng Quốc Việt, quận Ba Đình.

Để làm công tác tư tưởng cho lính, tiểu đoàn 77 có hệ thống phát thanh, hằng tối đọc tin chiến thắng, đọc xã luận trên báo Nhân Dân, báo Quân Đội Nhân Dân và Ngô Thị Việt Hồng là phát thanh viên giọng miền nam của chương trình truyền thanh tiểu đoàn. Đất nước đang còn chia cắt hai miền bắc nam ở vĩ tuyến 17 thành hai nhà nước, hai trận tuyến nhưng trong thành cổ Cột Cờ Hà Nội vẫn có giọng nói phụ nữ Nam Bộ dịu dàng, ấm áp trên hệ thống loa truyền thanh tiểu đoàn 77 thông tin.

Tiểu đoàn 77 còn được trang bị máy phim đèn chiếu. Tờ báo tường đại đội 3 do Phạm Đức tập hợp, biên tập bài, tôi kẻ chữ, minh hoạ, trình bày, Đỗ Quang Chử chữ đẹp chép lại bài. Báo tường đại đội 3 với bài vở giữ được người đọc, trình bày khá bắt mắt luôn giành giải nhất cuộc thi báo tường tiểu đoàn nên tôi được giao vẽ phim đèn chiếu. Phim điện ảnh kể chuyện bằng hình ảnh động như cuộc sống. Phim đèn chiếu kể chuyện bằng hình ảnh tĩnh, như một truyện tranh. Vẽ những hình ảnh lên giấy pelure, chấm dầu cho tờ giấy trong suốt, hình vẽ nổi lên, chiếu hình vẽ lên màn ảnh kể câu chuyện đã được chính trị viên phê duyệt. Bộ phim đèn chiếu đầu tiên tôi vẽ là phim Đêm Trắng kể chuyện người thật việc thật vừa diễn ra ở đại đội 3. Thượng sĩ Đặng Xuân Luyến, tiểu đội trưởng, quê Khoái Châu, Hưng Yên được về nhà ba ngày thăm bố đổ bệnh phải đi cấp cứu. Khi ra bến xe trở về đơn vị, chuyến xe cuối cùng trong ngày đã rời bến. Trong nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, ngưng đọng, miền bắc rất ít ô tô và hầu hết ô tô đều của cơ quan nhà nước và của quân đội. Ô tô tư nhân ít ỏi và cũ nát đều đã gom vào các hợp tác xã vận tải hành khách, xe chạy theo kế hoạch, theo hoạch định của cơ quan quản lí nhà nước chứ không theo nhu cầu đời sống xã hội. Không có xe chạy trên đường, nhiều đoạn quốc lộ trở thành mảnh sân phơi thóc, phơi ngô, phơi sắn cắt lát của nông dân hai bên đường. Đã hết hạn nghỉ phép. Sáng mai phải có mặt ở đơn vị. Luyến đã cuốc bộ suốt đêm hơn ba mươi cây số, từ bến xe thị xã Hưng Yên về Hà Nội, kịp có mặt ở đơn vị đúng thời hạn.

Tôi cũng cần nhắc đến tờ báo tường đại đội 3 luôn giành giải nhất trong các cuộc thi báo tường toàn tiểu đoàn 77 vừa để thú nhận rằng tôi đã là người lính làm công cụ cần mẫn và đắc lực cho những cán bộ chính trị làm công tác chính trị tư tưởng cho lính, vừa để nhắc đến Đỗ Quang Chử người bạn lính đã khuất của tôi. Một mảnh hồn lính, một mảnh hồn Hà Nội còn ở lại mãi trong tôi.

Đỗ Quang Chử cùng quê Mễ Trì, Từ Liêm, cùng tốt nghiệp trung học phổ thông ở trường cấp ba Yên Hoà, Cầu Giấy, cùng một đợt nhập ngũ với Nguyễn Việt Quyền. Chử có hoa tay viết chữ rất đẹp, là máy in chữ trên tờ báo tường của chúng tôi.

Ngày đó sách, tranh ảnh, văn hoá phẩm được bán trong hiệu sách quốc doanh có tên là Cửa Hàng Sách Nhân Dân hoặc Hiệu Sách Nhân Dân. Các Hiệu Sách Nhân Dân đều treo bán những tranh cổ động của Liên Xô. Tranh Lénine một tay phanh áo vét, một tay vươn ra trên đầu đám đông công chúng thợ thuyền. Tranh Mẹ – Tổ Quốc, hình bức tượng người đàn bà Nga trên đồi Mamayev ở thành phố Stalingrd. Mẹ Tổ Quốc tay cầm kiếm vung về phía trước, tay đưa về phía sau vẫy gọi. Tranh Đảng Là Tay Lái, lá cờ búa liềm bay trên ngôi sao đỉnh tháp Kremlin . . . Tranh lớn gần bằng khổ giấy A0 ngày nay, giấy dày. Mặt trước in tranh. Mặt sau trắng tinh như dành cho chúng tôi làm những số báo tường đặc biệt. Phạm Đức tuyển chọn, biên tập, chỉnh sửa thơ, bảo đảm chất lượng những bài thơ đưa lên báo. Báo tường chủ yếu là thơ. Thơ của linh viết cho báo chưa đủ, chưa kín mặt báo thì Đức phải viết cho đủ. Tôi chịu trách nhiệm những bài văn xuôi và sắp xếp, trình bày, kẻ chữ, vẽ minh hoạ. Đỗ Quang Chử chép bài báo của lính từ tờ giấy nhỏ sang mặt báo lớn.

Thời gian ở trong thành cổ Hà Nội, năm nào chúng tôi cũng ra hai số báo tường đặc biệt vào dịp ngày sinh của nhà nước cách mạng vô sản 2.9 và dịp ngày sinh của quân đội công nông 22.12. Lên Ba Vì làm việc trong hầm bê tông, nhà ăn, nhà ngủ đều chìm dưới mặt đất, công việc dồn dập, gấp gáp, chỉ còn tờ báo tường thông thường. Chính trị viên đôn đốc lính viết bài. Tiểu đội trưởng thu bài trong tiểu đội, tự dán lên bảng dưới tên báo Quyết Thắng.

Đêm 18.12.1972 bom B 52 rải thảm xuống Yên Viên, cách Hà Nội chưa đến mười cây số. Trên trục đường phía bắc Hà Nội, Yên Viên chỉ là thị trấn tuềnh toàng, chỉ là cụm dân cư xơ xác còn bị bom B52 thì trên trục đường phía tây sát Hà Nội là khu công nghiệp lớn nhất Hà Nội, lớn nhất miền Bắc, là niềm tự hào, là bộ mặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với những nhà máy san sát, nhà máy cao su Sao Vàng, nhà máy xà phòng, nhà máy thuốc lá Thăng Long, nhà máy bóng đèn, phích nước Rạng Đông và trạm phát sóng Mễ Trỉ của đải phát thanh Tiếng Nói Việt Nam làm sao thoát khỏi sự huỷ diệt của bom B 52. Cách trạm phát sóng đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam chỉ một lối mòn đường làng, làng Mễ Trì của Đỗ Quang Chủ lọt trong vùng báo động đỏ, lọt trong toạ độ đánh phá của bom B52.

Sáng 19.12.1972 đơn vị cho Chử về nhà lo việc sơ tán cho vợ con. Từ chân núi Ba Vì, trưa 19.12.1972 Chử về đến nhà. Dân thành phố sơ tán về nông thôn. Dân ngoại thành Mễ Trì là nông thôn rồi, còn sơ tán đi đâu được nữa! Chỉ còn biết củng cố cho căn hầm trên mảnh vườn trước nhà thêm dày dặn. Nhà nào cũng đã làm hầm trong vườn, trong sân. Có nhà khoét ngay nền nhà làm hầm. Căn hầm chữ A của gia đình Chủ đã chìm sâu trong đất vườn, Chử chỉ đắp thêm đất cho nóc hầm dày dặn hơn. Lát ván ngủ trong hầm và đưa chăn chiếu xuống hầm. Trước đây vợ con Chử vẫn ngủ trong nhà. Khi có báo động mới chạy ra vườn, chui vào hầm. Từ đêm nay cả nhà sẽ ngủ trong hầm. Đêm mùa đông, ngủ trong hầm kín gió chìm sâu trong lòng đất càng ấm cúng. Đêm 19.12.1972 đêm đầu tiên Chử ngủ ở nhà với vợ con trong căn hầm đã được gia cố chắc chắn, tạm yên tâm. Cũng đêm 19.12.1972 oan nghiệt, B52 rải thảm bom xuống trạm phát sóng của đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam ở  Mễ Trì. Làng Mễ Trì lọt vào toạ độ thảm bom. Một quả bom khoan trúng căn hầm của gia đình Chử. Cả gia đình Đỗ Quang Chử, hai vợ chồng trẻ và đứa con trai hai tuổi không còn để lại một vết tích trên thế gian!

TAI NẠN CHÍNH TRỊ

Hai bên cổng Cửa Đông, quân Pháp để lại hai lô cốt bê tông. Từ trong thành đi ra, bên phải, phía trong tường thành, một lô cốt nổi có lẽ là thế hệ lô cốt đầu tiên. Bê tông dày nhưng lô cốt nổi tênh hênh trên mặt đất và cấu trúc rất đơn giản. Không gian trong lòng lô cốt như một gian nhà hẹp chữ nhật, dài trên bốn mét, rộng hai mét. Chỉ có một lối ra vào. Trước lối hẹp vào ra có bức tường bê tông dày che chắn. Lô cốt dưới tán cây nhãn xum xuê trong mảnh vườn của thảm cỏ và cây xanh. Liền với mảnh vườn có lô cốt chúng tôi làm việc là con đường trải nhựa vắng lặng nối với đường Lý Nam Đế. Bên kia đường có toà biệt thự đẹp nhất trong thành cổ, kiến trúc cổ điển Pháp duyên dáng, sang trọng, lịch lãm trên khu đất dìu hiu, tĩnh lặng, trong um tùm cây xanh như tách riêng một cõi trong thành cổ. Toà biệt thư im lìm là nhà khách đối ngoại của bộ Quốc Phòng.

Ngoài nhà khách đối ngoại dành tiếp khách nước ngoài là toà biệt thự trên đất thành cổ bên phố Lý Nam Đế, bộ Tổng Tư lệnh còn có hai nhà khách đối nội. Cán bộ chiến sĩ làm việc trong tổng hành dinh có gia đình đến thăm được đón tiếp ở nhà khách có tên Trạm 354 phố Ông Ích Khiêm cuối phố Lê Hồng Phong, đầu phố Đội Cấn cách thành cổ gần cây số. Cán bộ trong toàn quân về làm việc với bộ Tổng Tư lệnh được đón tiếp ở trạm 66, dãy nhà trệt đơn sơ cuối mảnh sân sau toà nhà bộ Quốc Phòng góc đường Phan Đình Phùng và Hoàng Diệu. Bảng tên Trạm 66 nền đỏ chữ vàng đặt trên cổng mở ra đường Phan Đình Phùng, ngay cạnh cổng Cửa Bắc thành cổ.

Tháng 10 năm 1965, đoàn anh hùng dũng sĩ miền nam đầu tiên ra miền bắc có năm người: Tạ Thị Kiều, Trần Dưỡng, Huỳnh Văn Đảnh, Lê Chí Nguyện và A Vai. Những du kích và bộ đội địa phương từ kênh rạch sông nước Nam Bộ, từ nhà sàn chênh vênh trên vách núi Trường Sơn, những người dân phải cầm súng viết lên trang sử chiến tranh được ưu đãi không ở nhà khách Trạm 66 như tư lệnh sư đoàn, tư lệnh quân khu ở xa về Hà Nội mà ở nhà khách đối ngoại đầy đủ tiện nghị hiện đại và đám lính chúng tôi suốt ngày đêm chối tai chai đít trong hầm bê tông có nhiều dịp được gặp ngay trên đất hoàng thành Thăng Long người đàn ông của núi rừng Trường Sơn chưa nói rành tiếng Việt, chỉ quen cởi trần, đi chân đất và người phụ nữ của miệt vườn Nam Bộ lúc nào trên vai cũng có chiếc khăn rằn, những người dân bình dị, côi cút ở tận cùng chốn vắng khuất nẻo cũng bị hút vào cuộc chiến tranh tận cùng khốc liệt giữa nguòi Việt với người Việt.

A Vai là người dân tộc Pa Kô của núi rừng Trường Sơn miền tây Thừa Thiên chỉ có tên gọi, chưa có họ. Người Pa Kô chưa có ý niệm xác nhận dòng dõi, chỉ xác nhận giới tính. Đàn ông thì có thêm tên A, anh hùng A Vai. Đàn bà có thêm tên Kan, anh hùng Kan Lịch. Lập chiến công bằng hầm chông, bẫy đá, bằng ý chí không lùi bước trước bất kì khó khăn thử thách nào, năm 1965 anh bộ đội địa phương tên A Vai được đi dự đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua quân giải phóng ở Tây Ninh, được phong anh hùng, được đưa ra miền bắc làm tuyên truyền, làm nhân chứng cho chiến thắng và lớn mạnh của lực lượng kháng chiến miền nam.

Để gắn bó những miền đất xa khuất, những nóc nhà heo hút và những tâm hồn lẻ loi với cách mạng, cách mang ban cho A Vai danh hiệu anh hùng như các triều vua thời xa xưa ban tước hiệu cho những người có công bảo vệ ngôi vua, củng cố quyền uy nhà vua. Cách mạng còn ban cho A Vai, ban cho dân tộc Pa Kô cả dòng họ cách mạng, họ Hồ của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Từ năm 1965 A Vai có tên, có họ là Hồ Đức Vai và cả dân tộc Pa Kô từ đó đều mang họ Hồ.

Quen chân trần lội khe, đạp núi đá, được về thủ đô, ở nhà khách đối ngoại sang trọng của bộ Quốc Phòng, những khi đi tiếp xúc với báo chí, với khách trong nước, ngoài nước, đến gặp gỡ người dân hậu phương ở nhà máy, ở trường học phải xúng xính đủ lệ bộ quân phục mới cứng vải ka ki Tô Châu. Đầu mũ vải. Dây lưng da to bản thắt ngoài áo chẽn ngang lưng. Chân dép cao su. Nhưng về đến nhà khách bộ Quốc Phòng, Hồ Vai liền tháo thắt lưng, cởi bỏ quân phục ka ki, tuột dép. Thoải mái, tự nhiên với áo lính cũ vải mỏng, quần xà lỏn, chân trần.

Dưới gốc nhãn chúng tôi để chiếc ghế dài. Làm việc trong lô cốt ngột ngạt, sau phiên liên lạc, rảnh được phút nào chúng tôi lại ra gốc nhãn hít thở khí trời thoáng đãng. Hồ Vai thường chân đất đến ngồi với chúng tôi trên chiếc ghế dài gỗ mộc. Ngồi với chúng tôi khi chỉ có mấy thằng lính con trai, Vai cởi luôn cả chiếc áo lính vải mỏng ra, phơi thân trần săn chắc và đen như gỗ mun. Đôi khi chị Mười Lý Tạ Thị Kiều, cô du kích ở Mỏ Cày, Bến Tre cũng không mặc quân phục ka ki Tô Châu vừa dày, vừa cứng mà chỉ mặc bộ đồ bà ba đen, vải mềm và không rời chiếc khăn rằn trên vai ra ngồi chuyện trò với chúng tôi. Hồ Vai bảo những chiếc ghế bự bọc nhung, bọc lụa trong toà nhà lớn kia lạ quá, đẹp quá, không dám ngồi ra ngồi chiếc ghế gỗ dài với chúng tôi thích hơn. Biết chúng tôi nối liên lạc với các đơn vị đang chiến đấu ở miền Nam, chị Mười Lý về đến nhà khách bộ Quốc Phòng cũng thường ra với chúng tôi.

Bên trái cổng Cửa Đông, ngay cạnh vọng gác, vẫn trên đất thành cổ là bãi đất trống. Pháp xây trên bãi đất trống một lô cốt chìm, cùng lô cốt nổi phía bên phải trấn giữ cổng Cửa Đông. Là thế hệ sau, lô cốt chìm sâu trong đất và thành bê tông trong lô cốt không vuông thành sắc cạnh, không gian trong lô cốt không thông thống mà cấu tạo díc dắc có vách bê tông dày chia không gian bên trong ra từng khoang. Chỉ có lỗ châu mai và khối bê tông nóc lô cốt nổi lên trên mặt đất.

Tháng mười, năm 1954, cơ quan Bộ Tổng Tư Lệnh quân đội cách mạng làm chủ thành cổ Hà Nội. Tổng cục Chính Trị lảm chủ hai toà nhà hai tầng bề thế và dải đất từ đường trục bắc nam trong thành cổ kéo dài ra cổng Cửa Đông, trong đó có lô cốt chìm và khu gia binh 16 Lý Nam Đế. Khu gia binh dân sự 16 phố Lý Nam Đế ngăn cách với khu quân sự trong thành cổ bằng hàng rào dây thép gai. Ngoài hàng rào là lô cốt chìm và khu gia binh. Trong hàng rào là con đường bê tông nhựa từ đường trục Đông Tây trong thành cổ đi vào khu hậu cần của Tổng Cục Chính Trị: nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, cantine và bãi cỏ rộng sau hai toà nhà hai tầng cơ quan Tổng cục Chính trị.

Đầu tiên chúng tôi chuyển máy vào làm việc trong lô cốt chìm khá rộng trong khu gia đình 16 Lý Nam Đế. Cửa vào lô cốt ngay cạnh cửa gian nhà trung tá Tiêu, cán bộ cục Tổ chúc, Tổng cục Chính Trị. Lũ lính chúng tôi một ngày đêm bốn lần thay ca. Ca làm đêm thay cho ca làm tối lúc khuya khoắt ngày cũ chuyển sang ngày mới, mười hai giờ đêm. Hai ca thay phiên làm việc, gần hai chục lính trẻ đêm nào cũng thậm thịch bước chân ra vào lô cốt, thậm thịch qua lại trước cửa nhà trung tá Tiêu, khuấy động không gian yên tĩnh của trung tá. Trung tá lại có cô con gái tên Lan đang học cấp ba hơ hớ tuổi xuân. Chúng tôi nhận ra trung tá Tiêu nhìn chúng tôi bằng con mắt gườm gườm vừa bực bội vì bị làm phiền, vừa đề phòng, răn đe những đốm lửa trong trái tim tuổi trẻ trước đụn rơm là cô tiểu thư con gái trung tá. Suốt đêm ngày tiếng tín hiệu ríu rít, tiếng lính lao xao từ trong lô cốt vọng ra làm cho giấc ngủ hằng đêm của trung tá Tiêu không còn yên tĩnh nữa. Ngày đó sĩ quan cấp tá rất ít. Cấp tướng càng hiếm hoi. Trung tá đã là sĩ quan chỉ huy cấp cục, cấp sư đoàn rồi. Cục Tổ chức làm công tác đảng trong quân đội là cục quyền uy hơn cả cục Cán bộ. Với quyền uy của tổ chức đảng, quyền uy Tổng cục Chính trị, trung tá Tiêu buộc thông tin phải chuyển máy, chuyển chỗ làm việc từ lô cốt chìm rộng rãi sang lô cốt nổi chật hẹp dưới bóng cây nhãn, trong mảnh vườn trước nhà khách đối ngoại bộ Quốc Phòng.

Trung tá Tiêu đuổi cụm vô tuyến điện bảo đảm thông tin chỉ huy cho Bộ Tổng Tư lệnh ra khỏi lô cốt trong khu gia đình 16 Lý Nam Đế nhưng tình cảm giữa bọn lính trẻ chúng tôi với khu gia đình 16 Lý Nam Đế thì còn ở lại mãi. Dù không còn làm việc ở 16 Lý Nam Đế, chúng tôi vẫn đi về với những gia đình ở đó dành tình cảm thân thiết cho chúng tôi.

Chúng tôi thường đến với gia đình anh chị Khắc Tuế – Ngọc Diệp có hai con trai ở tuổi mẫu giáo. Anh là diễn viên múa đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị được cử đi học biên đạo múa ở Triều Tiên. Chị cũng là diễn viên múa qua thời tuổi trẻ, cơ thể không còn mềm dẻo, không múa được nữa được chuyển từ văn công Tổng Cục Chính Trị về quản lí những giá sách ở thư viện Quân Đội, nơi cho chúng tôi được đọc những tác phẩm văn chương kinh điển của thế giới và Việt Nam. Sau chiến tranh anh Khắc Tuế chuyển ra dân sự làm giám đốc công ty Biểu diễn Nghệ thuật, Vinaconcert, đã tổ chức những đêm nhạc thượng lưu quí hiếm để Đặng Thái Sơn biểu diễn piano ở Nhà Hát Lớn Hà Nội sau khi Đặng Thái Sơn giành giải nhất cuộc thi piano quốc tế mang tên nhạc sĩ Frédéric Chopin ở Warsaw, Ba Lan, năm 1980.

Chúng tôi đến thăm gia đình trung tá Vũ Anh Tài, phó giám đốc bảo tàng quân đội, chồng anh hùng Nguyễn Thị Chiên, nữ anh hùng đầu tiên của quân đội công nông. Những sĩ quan thời kháng chiến chống Pháp thường gọi trung tá Tài là Tài Cận vì trên gương mặt dầu dãi của ông lấp lánh hai vòng tròn kính cận. Năm 1952 đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua đầu tiên diễn ra trong rừng Việt Bắc, Vũ Anh Tài là cán bộ cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị mà Lê Liêm là chủ nhiệm Tổng cục. Là trung đội trưởng du kích Kiến Xương, Thái Bình có thành tích chống quân Pháp đi càn, tay không bắt sống được cả trung uý Pháp, Nguyễn Thị Chiên là thành viên trong đoàn quân đội dự đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ tuyên huấn Vũ Anh Tài làm công tác thi đua khen thưởng của cục Tuyên huấn đã giúp Nguyễn Thị Chiên viết bản báo cáo thành tích đọc trong đại hội có đủ mặt lãnh đạo cao nhất cuộc kháng chiến chống Pháp cũng là linh hồn cuộc cách mạng vô sản đang gào thét ở Việt Nam, Hồ Chí Minh, Trưởng Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Lương Bằng, Chu Văn Tấn…

Anh cán bộ Tài Cận cảm cô du kích tay không bắt giặc từ đó nhưng cô du kích Thái Bình ngại ngần, mặc cảm thân phận nghèo hèn. Cả bốn anh chị của cô đều chết đói trong nạn đói năm 1945. Phận đi ở, làm thuê làm mướn của cô nhờ không sợ chết lao vào những trận đánh quân Pháp càn quét vào làng đốt nhà, giết dân mà cô được lên Việt Bắc, được gặp những người có chí lớn làm ra cả một thời bão táp cách mạng và được gặp người nhiều chữ như anh cán bộ Tài. Biết ơn anh cán bộ tuyên huấn giúp cô có bản báo cáo được đại hội nhiều lần dồn dập vỗ tay khích lệ, biết ơn cả tình yêu anh dành cho cô nhưng lo phận gái quê vụng về, thô thiển, lại thất học, không tương xứng với anh, không mang lại hạnh phúc cho anh, cô du kích Thái Bình nhiều lận trốn tránh tình yêu của anh cán bộ tuyên huấn Tài Cận rồi cô thật thà giãi bày nỗi niềm với chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Liêm. Lắng nghe nỗi lòng cô du kích rồi chủ nhiệm chính trị Lê Liêm gọi anh cán bộ chính trị Vũ Anh Tài đến, tạo không gian riêng tư cho hai người thắng thắn nói chuyện với nhau. Nhờ vậy mới có gia đình hạnh phúc của cô du kích anh hùng Nguyễn Thị Chiên và anh cán bộ tuyên huấn Vũ Anh Tài ở 16 phố Lý Nam Đế.

Danh nghĩa Văn Tiến Dũng là người đầu tiên đứng đầu cơ quan chính trị quân đội công nông một thời gian ngắn nhưng khi Lê Liêm thay Văn Tiến Dũng mới có chức danh Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị và Lê Liêm đích thực là Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị đầu tiên của quân đội Nhân Dân Việt Nam.

Tôi có ấn tượng mạnh với nhà chính trị và nhà văn hoá là chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị đầu tiên của quân đội chuyển ra dân sự làm Thứ trưởng kiêm bí thư đảng đoàn bộ Văn Hoá đã hoạch định, đưa ra chủ trương tổ chức các đoàn nghệ thuật, các nhà hát, xây dựng các khu văn công, các trường văn hoá nghệ thuật, hình thành lên các đơn vị nghệ thuật cùng cơ sở vật chất khang trang, bề thế bảo đảm cho hoạt động và sự phát triển của văn hoá, nghệ thuật, tạo ra nền móng vững chắc và nét đẹp của toà nhà văn hoá đất nước. Một bí thư đảng đoàn bộ Văn Hoá biết lướt những ngón tay trên phím đàn piano làm vang lên những giai điệu say đắm của Beethoven, của Chopin. Một lãnh đạo bộ Văn Hoá đã sáng tác bản đại hợp xướng “Điện Biên Phủ” được dàn nhạc giao hưởng hợp xướng quốc gia dàn dựng và trình diễn.

Tôi kính trọng người không xu thời, không hùa theo những người cơ hội, không tham gia đánh hôi lập công với quyền lực trong vụ án nguỵ tạo “Xét lại chống đảng”, không viết một chữ, một câu vu tội cho những nạn nhân bị gán tội trong khi hầu hết những người làm chính trị tư tưởng và văn hoá văn nghệ ở miền bắc đều xăng xái, sôi sục bộc lộ lòng trung thành với quyền lực bằng những bài viết đánh hội đồng lập công thì Lê Liêm, bí thư đảng đoàn bộ Văn hoá im lặng. Vì đứng ngoài cuộc đấu tố Xét Lại nguỵ tạo, quyền lực nguỵ tạo ra vụ Xét lại chống đảng đã loại ông ra khỏi đảng, loại ông ra khỏi vị trí làm việc, không cho ông đóng góp và thể hiện tài năng.

Con người có tài năng và nhân cách đẹp đó là Lê Liêm, người đã vun vén cho hạnh phúc gia đình người lính Vũ Anh Tài – Nguyễn Thị Chiên. Những dịp đến thăm anh Tài, chị Chiên tôi thường gợi chuyện, hỏi anh Tài về Lê Liêm, thủ trưởng gần gũi của anh thời trên rừng Việt Bắc. Anh Tài đã kể về vị tướng không mang hàm tướng lãnh đạo cơ quan chính trị trong quân đội thuở ban đầu của đội quân công nông và dấu ấn của vị tướng chính trị không mang hàm tướng để lại với gia đình hạnh phúc của anh hôm nay.

Đã chuyển từ lô cốt chìm ở 16 Lý Nam Đế đến làm việc trong lô cốt nổi dưới tán nhãn phía trong cổng Cửa Đông. Một lần tôi đi ngang qua hàng rào thép gai ngăn cách với khu gia đình 16 Lý Nam Đế bỗng nghe tiếng con gái dịu dàng gọi tên. Cô bé Dân, con một sĩ quan trong khu gia đình đưa qua hàng rào thép gai cho tôi quyển sổ bảo tôi ghi lưu niệm vì Hà Nội đã thành trận địa, tua tủa những nòng pháo bắn máy bay Mỹ. Tuần tới Dân sẽ theo trường đi sơ tán xa Hà Nội chưa biết ngày nào mới trở về.

Trong số các cô gái đang tuổi trổ mã, khoe nhan sắc thời rực rỡ nhất ở khu gia đình 16 Lý Nam Đế, đám lính thông tin trẻ chúng tôi để ý nhiều đến em Lan con trung tá Tiêu, em Điệp, chưa kịp biết con ai. Những cô gái mới lớn nhan sắc mặn mòi làm chúng tôi xao xuyến đều có vẻ kiêu kì. Con những ông sĩ quan cấp tá lại có chút nhan sắc nhìn đám lính mang quân hàm binh nhất, binh nhì đều là binh bét bằng con mắt lãnh đạm, xa lạ và giữ khoảng cách với chúng tôi. Chỉ có em Dân da ngăm đen, người thẳng đuột, chưa hề thấy có sự trổ mã, chúng tôi ít để ý đến thì Dân lại là người thường xuyên gặp gỡ, chuyện trò với chúng tôi vui vẻ, cởi mở. Sau bữa cơm chiều hôm đó cho đến trưa hôm sau, lúc nào rảnh tôi lại ngổi vào giường tầng dưới của tôi mà tầng trên là giường ngủ của Nguyễn Việt Quyền loay hoay viết bài lưu niệm có chút vần điệu. Viết xong cầm bát đi ăn cơm sớm để đi thay ca. Ra lô cốt Cửa Đông làm ca chiều tôi mang theo quyển sổ lưu niệm trả lại cho em Dân.

Chưa hề có tình cảm gì mà viết như đã phải lòng, đã lọt vào trái tim nhau, bài lưu niệm chỉ là câu chữ đại ngôn, sáo rỗng của tuổi trẻ cuồng nhiệt mà nông nổi, thừa hão huyền, viển vông mà thiếu hiện thực cuộc đời. Không ngờ bài lưu niệm đã gây ra tai nạn chính trị đầu tiên cho tôi. Tai nạn nhỏ thôi nhưng cũng đáng để nhớ.

Không phải chỉ có tôi được viết lưu niệm cho cô bé Dân. Tôi chỉ là người viết trang đầu tiên. Sau tôi, quyển sổ còn được chuyển đến tay nhiều người lính khác đã từng làm việc trong lô cốt chìm ở 16 Lý Nam Đế. Quyển sổ đến tay người lính xuất thân từ thợ chạy máy cưa xí nghiệp gỗ Hải Phòng đang phấn đấu vào đảng. Ông bạn lính đang say lí tưởng cộng sản liền mang quyển sổ có bài lưu niệm của tôi viết tặng em Dân trình với Phạm Văn Khoa, binh nhất lính báo vụ nhưng là đảng viên từ lúc còn là nhân viên một cơ quan dân chính ở Hải Phòng trước khi vào lính. Là đảng viên, Khoa luôn giữ vẻ đạo mạo, nghiêm trang, bề trên và thực sự là bề trên, là đàn anh dìu dắt, nâng đỡ với mấy người lính có ý chí phấn đấu về chính trị và biết vì nể, biết săn đón lấy lòng Khoa như anh lính xuất thân từ nhà máy chế biến gỗ, anh lính xuất thân là công nhân xí nghiệp bánh kẹo Hải Phòng.

Bài lưu niệm của tôi là dịp để người lính ham hố vào đảng báo công với đảng viên Khoa, đề cao Khoa và cũng là dịp cho Khoa thể hiện sự hiểu biết văn chương và lập trường giai cấp vô sản vững vàng. Khoa qui kết rất nặng nề những câu chữ tôi viết trong cuốn sổ của cô bé Dân là tư tưởng đồi truỵ, bệnh hoạn của thành phần tiểu tư sản thối nát, là nọc độc của Nhân Văn Giai Phẩm, chống đảng, phá quân đội:

Đến rồi ngày ấy em đi

Đến rồi ngày ấy chia li

Gió thu thổi mãi lá vàng

Rụng trong lòng anh ngổn ngang

 

Sẽ phải xa em bằn bặt

Hình bóng em rồi vắng ngắt

Lòng anh trống trải mênh mông

Biến thành đại dương gầm thét.

Ngôn từ lâm li, cải lương, sáo rỗng như vậy cứ kéo dài đến vần điệu cuối cùng mới trở về hiện thực, có chút thực tế và câu chữ bớt loè loẹt, đại ngôn, sáo rỗng:

Mai ngày trở lại thủ đô

Anh vẫn người lính bác Hồ

Còn em biết bao đổi thay

Anh không lường được từng ngày

Khoa lên gân lập trường giai cấp, buộc tội bài thơ gây ảnh hưởng xấu, làm xấu hình ảnh người lính cách mạng, làm mất tư thế hiên ngang của anh bộ đội cụ Hồ. Đảng viên Phạm Văn Khoa chỉ cho đoàn viên trong ban chấp hành chi đoàn đại đội 3 thấy rằng quân đội không thể chấp nhận một kẻ hư hỏng, tư tưởng còn đang ngụp lặn trong vũng bùn tiểu tư sản, vì vậy không thể có “Mai ngày trở lại thủ đô, anh vẫn người lính bác Hồ!” Thế là tôi đang là cảm tình đoàn, chuẩn bị kết nạp vào đoàn Thanh niên Lao Động liền bị xoá tên khỏi danh sách cảm tình đoàn.

Toán Xồm, Lộc Vàng chỉ vì hát những bài hát là giai điệu, là nhịp đập, là sự rung động của trái tim tuổi trẻ mới thức dậy, nhạy cảm với cái đẹp, chỉ hát những bài hát là sự thổn thức trước cái đẹp mà bị đày đoạ trong ngục tù mười năm, mười lăm năm, nhà cửa bị tịch thu. Ra tù, người chết gục bên đường vì đói rét, người sống vật vờ lay lắt và chui lủi như thú hoang thì tôi viết “Đến rồi ngày ấy em đi. Đến rồi ngày ấy chia li. Gió thu thổi mãi lá vàng. Rụng trong lòng anh ngổn ngang” chỉ bị mất cảm tình đoàn là quá nhẹ nhàng, chẳng có gì phải bận tâm. Nhưng dù sao cũng là tai nạn chính trị đầu tiên của người lính trong đội quân là công cụ chuyên chính vô sản của đảng cộng sản, làm sao tôi có thể quên.

 

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.