Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng
ĐƯỜNG CỘT CỜ – ĐƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
Hơn năm giờ chiều thứ năm, 7.5.1964, trên đường sang sân cỏ Cột Cờ vừa đến con đường nhựa dẫn ra cổng Cửa Nam tôi gặp ông bạn lính báo vụ Nguyễn Việt Quyền mũ sao, giầy vải cao cổ, quân phục lính, quân hàm binh nhất nghiêm chỉnh, từ cổng Cửa Nam đi vào. Ra vào cổng thành, ngay trong giờ làm việc, sĩ quan cũng có thể mặc đồ dân sự. Nhưng lính thì phải nai nịt đầy đủ bộ lệ của lính, dù là ngày nghỉ. Trên đầu phải có mũ gắn ngôi sao quân hiệu, dưới chân, giầy phải buộc dây, dép cao su phải có quai sau. Thấy trên tay Quyền lọ mực Cửu Long còn trong hộp giấy tôi biết Quyền vừa ra cửa hàng mậu dịch quốc doanh số 5 phố Nam Bộ, cách cổng Cửa Nam thành cổ chỉ vài trăm mét.
Ngày đó trừ quan chức cấp cao, thứ trưởng, bộ trưởng trở lên có chế độ cung cấp riêng, có đời sống và tiện nghi sinh hoạt khác biệt, cao hơn với số đông người dân, còn dân thường có sự đồng dạng, đồng trang bị rất đồng nhất từ ngôn ngữ, nói năng đến tiện nghi sinh hoạt tạo nên khuôn mẫu, hình hài, dáng dấp, cốt cách chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đồng ngôn: Ngôn ngữ truyền thông chiếm lĩnh không gian, tạo nên âm thanh cuộc sống hàng ngày luôn vang lên những từ ngữ lấp lánh như cách mạng, đấu tranh, độc lập, tự do, đảng quang vinh, bác Hồ vĩ đại, nhân dân anh hùng, chiến thắng vẻ vang, thành công rực rỡ… Trên miệng người dân từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược đều đồng thanh những từ ngữ phấn khởi, tự hào, tin tưởng, ơn đảng, ơn Bác, ơn cách mạng,… Đồng phục: quần áo xuềnh xoàng xỉn màu lam lũ thợ thuyền. Màu trang phục chủ đạo ở thành phố, thị xã là màu xanh đậm, ở nông thôn là màu nâu, màu đen. Đồng dùng: đồ dùng tiện nghi sinh hoạt của mọi dân thường đều như nhau. Trong nhà cái giường ba xà gỗ tạp. Trong bếp có hai loại bếp thông dụng. Bếp đốt than đá hoặc bếp nhồi mùn cưa và bếp đốt dầu. Đàn ông mũ cối, dép cao su. Đàn bà nón lá, dép nhựa gia công. Sau năm 1975, phụ nữ thành thị mới đi guốc gỗ sơn màu. Từ ông chủ nhiệm đến cô kế toán hợp tác xã, từ ông bác sĩ ở bệnh viện đến anh sinh viên trong trường đại học đều viết bút máy Trường Sơn, bút máy Hồng Hà, bơm mực Cửu Long của nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà do Trung Quốc viện trợ xây dựng ở phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Các nhà máy Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam đều là công nghệ lỗi thời, cho sản lượng thấp và chất lượng sản phẩm kém xa sản phẩm của Trung Quốc. Bút máy tốt nhất của nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà là bút Hồng Hà kém xa bút Kim Tinh, bút Héros của Trung Quốc.
Quyền cũng là dân học trò. Kết thúc quãng đời cắp sách ở trường cấp ba Yên Hòa, Từ Liêm – Hà Nội rồi vào lính. Cũng có nỗi đam mê chạy theo quả bóng trên sân cỏ Cột Cờ những buổi chiều và niềm đam mê với những trang sách trên giá sách ở thư viện Quân Đội trên gác hai toà nhà câu lạc bộ Quân Nhân. Nói năng có duyên, hóm hỉnh, thường có nhận xét khá sắc sảo bất ngờ và cũng thờ ơ với những sinh hoạt chính trị, không ham hố phấn đấu vào đoàn, vào đảng do đó Quyền khá thân thiết với tôi. Quyền báo tin: Đường Cột Cờ đổi tên là đường Điện Biên Phủ rồi nhé. Tôi hỏi: Đổi tên bao giờ? Quyền hỏi lại: Mày có nhớ hôm nay là ngày gì không?
Ai ở Hà Nội mà không biết rằng cả tháng nay đường phố Hà Nội rợp màu đỏ của cờ, của khẩu hiệu chào mừng ngày này, ngày 7.5.1964, mười năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Những thằng lính chúng tôi ở trong thành cổ it ra ngoài phố còn biết rằng kết thúc tháng chào mừng mười năm chiến thắng Điện Biên Phủ là đêm hội lớn ở sân vận động Hàng Đẫy tối thứ bảy 9.5.1964 sẽ có những giọng hát mê hồn Thương Huyền, Khánh Vân, Tân Nhân, Trần Khánh, Mai Khanh, Quốc Hương… Vì vậy tôi không trả lời câu hỏi của Quyền mà hỏi: Sao ông biết đường Cột Cờ đổi tên? Xưng hô của lính là mày, tao. Tôi không quen với khẩu khí bỗ bã thân tình đó nên thường nghiêm chỉnh ông, tôi. Lễ đổi tên đường đang diễn ra ngoài cổng Cửa Nam, trước bảo tàng Quân Đội kia kìa. Nghe Quyền nói vậy, tôi hỏi như quát lên với Quyền: Sao lại đổi tên đường Cột Cờ? Tôi kéo Quyền cùng ra cổng Cửa Nam để xác minh điều vô lí đang diễn ra.
Đứng ở đầu mút trục đường nam – bắc phía trong vọng gác nhìn qua hàng song sắt trên bức tường ngăn cách với bảo tàng Quân Đội tôi nhận ra ngay bác sĩ Trần Duy Hưng, chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội đứng trước vài hàng người đều là bô lão ngồi trên ghế dài trên hè đường Cột Cờ trước cổng bảo tàng Quân Đội vừa lúc chủ tịch Hà Nội kết thúc phần diễn từ. Đương nhiên diễn từ chỉ là mấy lời diễn giải lí do, ý nghĩa đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ. Trong tiếng vỗ tay rời rạc, chủ tịch Hà Nội Trần Duy Hưng đi đến cây cột điện ngay sát cổng bảo tàng Quân Đội. Ông đưa hai tay kéo tấm lụa vàng phủ bảng tên đường treo trên cột điện. Tên đường Điện Biên Phủ lộ ra. Lúc này tiếng vỗ tay mới đồng loạt rộ lên.
Lễ đổi tên, trao cho một đường phố lớn của thủ đô mang tên vàng Điện Biên Phủ vào ngày lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ là một cột mốc, một sự kiện lịch sử, văn hoá của thủ đô và của đất nước mà tổ chức khá âm thầm, đơn sơ, buồn tẻ và lúi xùi như một sinh hoạt thường ngày ở một tổ dân cư, như một việc làm chiếu lệ cho có. Buổi lễ diễn ra ngay hè đường, không một băng vải, một bảng chữ nêu tên buổi lễ. Chỉ có khoảng hơn hai chục ông bà già chắc huy động từ mấy nhà dân đầu đường Cột Cờ ngồi trên mấy chiếc ghế dài loại ghế học trò khuân ra từ một trường học.
Chủ tịch Hà Nội, bác sĩ Trần Duy Hưng và những bô lão tham dự lễ đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ ngày đó nay đều đã là người thiên cổ. Chỉ là kẻ chầu rìa buổi lễ, hai thằng lính binh nhất vô danh bị cuộc chiến nam bắc khốc liệt cuốn vào mặt trận phía nam rồi dừng lại ở Sài Gòn đã gần nửa thế kỉ. Từ nơi xa Hà Nội ngàn dậm xin ghi lại giờ phút một con đường Hà Nội mang nặng dấu tích lịch sử Hà Nội bỗng phải bỏ cái tên của khí thiêng đất Hà Nội, cái tên thân thiết trong cuộc sống hàng ngày và lay động, gợi cảm trong hồn người Hà Nội để mang tên một mảnh đất của núi rừng tây bắc xa xôi, một cái tên vang dội của lịch sử đương đại nhưng không cùng hồn văn hoá, không cùng hồn lịch sử với mảnh đất đọng hồn lịch sử, hồn văn hoá kinh kì Hà Nội.
Tên vàng Điện Biên Phủ của trang lịch sử chống quân Pháp xâm lược xứng đáng được đặt tên phố, tên quảng trường, tên trường học, tên công trình kiến trúc, xây dựng nhưng tên Điện Biên Phủ cần đặt ở chỗ khác, thay thế những cái tên khác chứ không thể đặt ở đường Cột Cờ, không thể thay tên Cột Cờ.
Không thể tuỳ tiện, làm chính trị nông cạn lấy tên ông chủ tịch nhà nước công nông Tôn Đức Thắng vốn là thợ cơ khí nhà máy sửa chữa tàu biển Ba Son bên sông Sài Gòn thay cho tên phố Hàng Bột, làm mất tên Hàng Bột của lịch sử kẻ chợ ba mươi sáu phố phường. Ở ngay đoạn đầu phố Hàng Bột có phố Hàng Cháo. Tên Hàng Bột, Hàng Cháo ghi dấu lịch sử đời sống xã hội ở mảnh đất đó đã có thời người dân sống bằng nghề xay bột, bán cháo. Vì phố Hàng Cháo rất ngắn và im lìm nên tên Hàng Cháo vẫn còn. Hàng Bột phố dài, đường rộng, tên phố Hàng Bột mang hồn Hà Nội ba mươi sáu phố phường bị tên Tôn Đức Thắng chiếm mất rồi!
Không thể vì phải có tên phố Nam Bộ mà làm mất đi tên phố Hàng Lọng, một cái tên gợi nhớ, nhắc nhở về một thời Hà Nội ngựa xe dập dìu, võng lọng xênh xang. Câu thơ của bà Huyện Thanh Quan viết về Thăng Long – Hà Nội “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” còn đi về trong trí nhớ, trong hồn người Việt Nam, trong trang sách lịch sử, văn hoá Hà Nội thì tên phố Hàng Lọng còn phải được giữ lại ở đường phố nơi đã từng bán ô, bán lọng, nơi đã từng dập dìu xe ngựa rất đặc sắc kinh kì, chỉ kinh kì mới có. Không phải chỉ một lần tuỳ tiện, vô lí, những người quản lí hành chính mảnh đất Hà Nội không có hồn lịch sử Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, không có hồn văn hoá Hà Nội đã tuỳ tiện lấy tên Nam Bộ thay cho tên Hàng Lọng. Rồi lại tuỳ tiện lấy tên Lê Duẩn thay cho tên Nam Bộ.
Mảnh đất nào cũng có lịch sử, có hồn của đất. Đất được gọi đúng tên là gọi lên hồn của đất, là nhắc đến cả lịch sử thăm thẳm của đất. Nam Bộ dù là tên gọi miền đất phương Nam ruột thịt của tổ quốc Việt Nam, dù là tên gọi thương nhớ trong lòng người dân Việt Nam cũng không thể thay thế cho tên Hàng Lọng gợi nhớ đời sống xã hội, gợi nhớ sinh hoạt một thời lịch sử của mảnh đất kinh kì Thăng Long, Hà Nội. Tên Lê Duẩn lại càng không thể thay thế cho tên Hàng Lọng. Lê Duẩn là cái tên đậm nét trong lịch sử Việt Nam thời đau thương nhất, là tên người đứng đầu đảng cộng sản cầm quyền, người vạch sách lược và phát động cuộc nội chiến đẫm máu thâu tóm giải đất miền nam vào lãnh thổ cai trị của đảng cộng sản càng là cái tên lạc lõng với đường phố đã từng in dấu xưa xe ngựa kinh kì.
Năm con đường bao quanh thành cổ Hà Nội, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Lý Nam Đế, Trần Phú, Cột Cờ thì đường Cột Cờ mang nhiều chứng tích, nhiều dấu ấn lịch sử nhất của mảnh đất nhiều thăng trầm, nhiều biến cố Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
Tháp Cột Cờ đỏ sẫm màu gạch cổ được xây trong bảy năm từ 1805 đến 1812, ngay sau khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế năm 1802 trở thành vua Gia Long, dời kinh đô vào Phú Xuân. Không còn là kinh đô, Gia Long đổi tên Đông Đô của nhà Lê thành Hà Nội. Kinh kì Thăng Long, kinh kì Đông Đô mang tên Hà Nội từ đó và Cột Cờ Hà Nội cũng có từ đó.
Giành và thống nhất được giang sơn một dải từ Hà Giang tới Hà Tiên, Phú Quốc, dời kinh đô cùng cả Quốc Tử Giám – Văn Miếu vào Phú Xuân, Gia Long vẫn cho xây thêm toà lầu Khuê Văn Các tuyệt đẹp ở kinh đô cũ Thăng Long. Xây tháp Cột Cờ xác định kinh đô mới ở Phú Xuân, Gia Long cũng cho xây tháp Cột Cờ ở Hà Nội ghi nhận kinh đô của quá khứ. Đường Cột Cờ ngang qua trước tháp Cột Cờ hình thành từ đó. Con đường gắn liền với một sự kiện của lịnh sử Hà Nội. Con đường trải dài trong không gian lịch sử của kinh kì Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
Cuối đường Cột Cờ giáp quảng trường Ba Đình, xưa là đất tịch điền. Thời nhà Lý, thời nhà Trần, kinh kì còn ở Thăng Long, thời nhà Lê, kinh kì còn ở Đông Đô, hàng năm đến ngày lập xuân, vua Lý, vua Trần, vua Lê ra đất tịch điền bên đường Cột Cờ theo bước chân trâu, cày ruộng, mở đầu một năm người dân cả nước cầy cấy lao động sáng tạo làm ra hạt lúa, hạt ngô, làm ra thái bình, thịnh vượng của đất nước. Thời nhà Nguyễn, kinh đô chuyển vào Phú Xuân, quan Tổng đốc Hà Nội thay vua giữ nếp xưa, tổ chức lễ tịch điền ở mảnh ruộng bên đường Cột Cờ đã từng in dấu chân vua Lý, vua Trần, vua Lê cày ruộng.
Góc đường Cột Cờ – Hoàng Diệu xưa là Võ Miếu. Chiều ngày 25 tháng tư, năm 1882, kho thuốc súng trong thành Hà Nội bị kẻ làm phản đốt. Trong thành lửa ngùn ngụt cháy thiêu rụi kho thuốc súng. Ngoài thành, quân Pháp đã phá sập một mảng tường thành phía tây, tràn vào điện Kính Thiên. Thành cổ Cột Cờ đã lọt vào tay quân xâm lược thì Tổng đốc Hoàng Diệu tìm đến cây đa ở Võ Miếu treo tấm vải điều lên cành cây rổi kết thúc cuộc đời bằng tấm vải điều, tuẫn tiết cùng toà thành Hà Nội vừa bị mất vào tay quân Pháp.
Vườn hoa trước cửa Hướng Minh của Cột Cờ xưa là hồ Voi. Từ thời vua Lê, từ khi chưa có tháp Cột Cờ, chiều chiều lính quản tượng dắt voi từ chuồng ở góc Đông Nam thành cổ ra thả voi xuống hồ, cho voi được đằm mình trong nước, trở về với tự nhiên, đùa rỡn với nước, để dân kinh kì kéo đến xem voi hút nước phun lên tán cây cao bên hồ. Tên hồ Voi có từ đó. Hồ Voi nay đã là vườn cây cổ thụ xum xuê nhưng tên Hồ Voi cùng tên đường Cột Cờ vẫn còn mãi trong dân gian, trong hồn kinh kì Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
Con đường Cột Cờ gắn liền với những sự kiện lịch sử trên đất Cột Cờ. Tên đường Cột Cờ không phải chỉ đi vào lịch sử mà còn đi vào tâm trí con người, đi vào hồn dân gian, đi vào ca dao. Tôi xin kể mẩu chuyện tên đường Cột Cờ trong ca dao dân gian.
Bạn lính của tôi, sau là nhà thơ Phạm Đức có bà cô là Phạm Thị Tuyết vợ hoạ sĩ Lưu Văn Sìn tốt nghiệp cao đẳng Mĩ Thuật Đông Dương cùng khoá với những hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn. Có tranh được lưu giữ trong bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, tên tuổi hoạ sĩ Lưu Văn Sìn còn mãi trong lich sử mỹ thuật Việt Nam. Cô chú Phạm Thị Tuyết – Lưu Văn Sìn chỉ có đứa con duy nhất là Lưu Văn Đạt. Chiến tranh đang đi đến đỉnh điểm ác liệt. Những người phát động cuộc nội chiến nam bắc đã tạo được cho người dân niềm tin rằng cuộc chiến tranh thâu tóm miền nam, mở rộng lãnh thổ cai trị cho đảng cộng sản là cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền nam thoát khỏi ách xâm lược Mỹ, là công cuộc giải phóng dân tộc hào hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cả nước rầm rập ra trận. Năm 1966 tốt nghiệp trung học phổ thông, Lưu Văn Đạt không thi đại học mà viết đơn xin nhập ngũ, trở thành lính pháo phòng không rồi vào thẳng tây Quảng Bình đánh trả máy bay Mỹ bắn phá cung đường Trường Sơn và Đạt hi sinh cuối năm 1966. Hai vợ chồng già hiu quạnh trong căn nhà âm thầm ở ngõ 21 phố Tây Sơn gần gò Đống Đa nên Đức thường rủ tôi đến thăm cô chú Phạm Thị Tuyết – Lưu Văn Sin. Một lần trong câu chuyện Đức nhắc đến đường Cột Cờ nơi chúng tôi hàng ngày đi về, cô Tuyết liền đọc bài ca dao về con đường hình thành từ đất hoàng thành Thăng Long đi vào hồn dân gian. Bài ca dao hay quá, tôi phải lẩm nhẩm đọc lại, ghi vào trí nhớ rồi về ghi vào quyển sổ trong đáy ba lô lính:
Húng Láng thơm đất sông Tô
Thanh lịch thơm tự đầu Ô thơm về
Ba mươi sáu phố phường nghề
Tài hoa khắp chốn tìm về đất thơm
Dập dìu xe ngựa sớm hôm
Cột Cờ thơm những mảnh hồn ngàn năm.
Tên Cột Cờ không phải chỉ để gọi tên ngọn tháp tám cạnh đưa lá cờ nước phấp phới lên cao chót vót trên trời xanh Hà Nội, tên Cột Cờ còn đương nhiên chỉ con đường thênh thang ngang qua tháp Cột Cờ. Nhà thơ Xuân Diệu làm thơ khoe ngôi nhà bên đường Cột Cờ, khoe niềm vui có nhà ở đường Cột Cờ. Thơ Xuân Diệu còn mãi với thời gian thì tên đường Cột Cờ trong thơ Xuân Diệu cũng còn mãi với thời gian.
Nhà tôi hăm bốn Cột Cờ
Ai thân thì đến, hững hờ thì đi.
Tháp Cột Cờ xây dựng đầu thế kỉ mười chín. Con đường ngang qua trước cửa Hướng Minh tháp Cột Cờ có từ đó liền được người dân gọi là đường Cột Cờ. Đến cuối thế kỉ mười chín, chiếm xong ba nước Đông Dương, Pháp xây dựng Hà Nội thành thủ đô Đông Dương, mở đường Cột Cờ thênh thang, hiện đại dẫn đến phủ Toàn quyền Đông Dương được Pháp đặt tên đường là Boulevard Puginier. Paul Francois Puginier (1835 – 1892) là giám mục cai quản giáo dân cả xứ đàng ngoài, người đã cho xây dựng Vương Cung Thánh Đường Sở Kiện ở Hà Nam nơi giáo dân đông nhất xứ đàng ngoài. Tên đường Puginier nhưng trong ngôn ngữ hàng ngày, cả trong chữ viết trên sách báo, con đường vẫn được người dân gọi bằng tên Cột Cờ. Đến hôm nay thế kỉ hai mươi mốt đường Cột Cờ vẫn là đường phố đẹp, phong quang, hiện đại, lung linh nhất Hà Nội.
Nẻo đường đi qua tháp Cột Cờ mang tên Cột Cờ là lẽ đương nhiên. Có thể thay đổi dòng chảy của suối, thay đổi dòng chảy của sông. Có thể thay đổi thói quen của con người. Có thể thay đổi cả số phận. Nhưng không thể thay đổi cái đương nhiên. Không thể đánh đổi làm mất tên đường Cột Cờ của lịch sử Hà Nội, của lòng dân Hà Nội,của đương nhiên bằng bất kì tên nào khác.
Vừa trở thành người đứng đầu chính quyền thủ đô, đổi ngay tên đường Pierre Pasquier thành đường Hoàng Diệu là việc làm rất văn hoá, rất lịch sử, việc làm của niềm tự hào dân tộc có tầm chính trị rất cao, rất đẹp của thị trưởng Trần Duy Hưng, một trí thức Hà Nội. Nhưng mười năm sau, năm 1955, con đường ở cạnh Đông Nam thành cổ Hà Nội có tên Hàm Nghi bị thị trưởng Trần Duy Hưng đổi tên thành đường Trần Phú thì không còn thấy con người trí thức, con người dân tộc ở vị bác sĩ con đẻ của mảnh đất văn hiến Hà Nội mà chỉ thấy con người cán bộ của nhà nước công nông. Mười chín năm sau, năm 1964, vẫn vị thị trưởng Hà Nội có bằng bác sĩ Tây học lại đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ! Dù là trí thức, dù là thị trưởng thủ đô nhưng là quan chức chính quyền cộng sản, hồn dân tộc cũng không còn nữa!
Với việc đổi tên phố, tên đường, Hàng Bột thành Tôn Đức Thắng, Hàng Lọng thành Nam Bộ, rồi Lê Duẩn, Cột Cờ thành Điện Biên Phủ . . . là bằng chứng về tầm vóc chính trị, văn hoá nhỏ bé, thấp kém, hồn Việt Nam trống rỗng của những người quản lí hành chính, tổ chức đời sống, điều hành hoạt động xã hội Hà Nội hôm nay, không đủ tầm, không xứng đáng là những người chủ kinh kì lịch sử Thăng Ling – Đông Đô – Hà Nội.
ĐẤT THẤM MÁU LÍNH VÀ ĐẤT XÂY HẦM NGẦM TRÁNH BOM HẠT NHÂN
Ngày 29 tháng sáu, năm 1963 tôi vào lính, môt bước ngoặt của cuộc đời tôi. Ngày 29 tháng sáu, năm 1966, tôi tròn ba tuổi quân lại là ngày không thể quên với tôi và với cả Hà Nội.
Hôm đó tôi vừa làm ca đêm mà bọn lính chúng tôi vẫn gọi theo cách gọi của lớp báo vụ đi trước được đào tạo từ thời thuộc Pháp, quen xài tiếng Pháp là ca zéro – six, ca làm việc từ không giờ đến sáu giờ ngày mới. Một ca mệt mỏi, bải hoải làm cho con người như trống rỗng. Sau ca làm đêm, cả ngày được ngủ bù nhưng vừa chợp mắt, tiếng còi báo động rền rĩ của thành phố rú liên hồi đánh thức tôi dậy. Tiếng máy bay gầm rú và tiếng súng cao xạ rền trời. Đến xế trưa, một cuộn khói đen đùn lên ở phía Bắc Hà Nội. Máy bay Mỹ đã đánh trúng kho xăng lớn Đức Giang ở Gia Lâm. Cuộn khói đen che kín cả khoảng trời phía Bắc Hà Nội suốt buổi chiều đến tận đêm thì cả kho xăng đã thành lửa khói rồi. Lửa chiến tranh đã thực sự lan đến Hà Nội vào đúng ngày tôi tròn ba tuổi quân, 29.6.1966.
Máy bay Mỹ bắn phá Hà Nội từ mùa hè năm 1966 và mùa đông năm 1972 Hà Nội phải trải qua 12 đêm chết chóc kinh hoàng dưới thảm bom B 52. Ban ngày từng đàn, từng lũ máy bay cường kích F-105, máy bay tiêm kích F-4 quần đảo huỷ diệt các trận địa pháo phòng không, trận địa tên lửa, trận địa ra đa và các sân bay, nơi những chiếc MIG cất cánh. Ban đêm, máy bay B52 bay cao trên mười cây số rải thảm bom xuống Hà Nội. Thảm bom rải xuống dãy nhà số lẻ giữa phố Khâm Thiên. Thảm bom rải xuống bệnh viện Bạch Mai. Thảm bom rải xuống trạm phát sóng của đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam ở Mễ Trì và xóm dân làng Mễ Trì chỉ cách bức tường trạm phát sóng đài phát thanh con đường làng.
Dù Hà Nội đã ráo riết thực hiện sơ tán nhưng vẫn còn người ở lại bám Hà Nội. Dân phố Khâm Thiên, thầy thuốc và người bệnh ở bệnh viện Bạch Mai, nhân viên trạm phát sóng đài phát thanh bị vùi dưới khối bê tông, dưới bức tường đổ. Bom B 52 rơi trúng căn hầm chữ A trong làng Mễ Trì xoá sạch không còn dấu vết một gia đình ba người trú trong hầm mà người chồng, người cha của gia đình đó là người lính thông tin Đỗ Quang Chử đồng đội của tôi, báo vụ đại đội 3 tiểu đoàn 77 bảo đảm mạng thông tin vô tuyến điện trong thành cổ Cột Cờ. Năm 1972 tôi đã đi xa Hà Nội cả ngàn cây số. Sau 1975 tôi mới biết câu chuyện đau thương của người bạn lính Đỗ Quang Chử.
Năm 1972 đau thương nhưng năm 1967 mới là năm chiến tranh ác liệt và năm hào hùng Hà Nội. Năm 1972, máy bay Mỹ rải thảm cái chết xuống vài nơi trong 12 đêm. Suốt cả năm 1967 máy bay Mỹ phóng tên lửa, cắt bom xuống những mục tiêu trải rộng khắp Hà Nội. Năm 1967 mới là năm ngọn lửa chiến tranh bùng cháy ác liệt nhất, lâu dài nhất, rộng khắp nhất và cũng khắc vào lịch sử, khắc vào thời gian tư thế hiên ngang của Hà Nội trong bom đạn chiến tranh. Để thấy được ngọn lửa chiến tranh ngút trời Hà Nội năm 1967, tôi xin trích lại vài dòng ghi chép mà tôi ghi lại từ truyền thông và từ người trong cuộc kể lại.
Ngày 5.5.1967. Đất Hà Nội rung chuyển bởi bom Mỹ và trời Hà Nội đan dày lưới lửa bắn máy bay Mỹ. Các trận địa phòng không bảo vệ Hà Nội bắn rơi sáu máy bay Mỹ, bắt sống năm phi công Mỹ.
Ngày 12.5.1967. Không chiến trong mây. Máy bay MIG17, MIG21 không quân Việt Nam bảo vệ Hà Nội liên tục cất cánh quần nhau từ 11 giờ 32 phút trưa đến hơn 15 giờ 11 phút chiều với máy bay Mỹ F4C, F105 vào bắn phá Hà Nội. Báo chí Hà Nội đưa tin năm máy bay F4C, F105 Mỹ bị MIG17, MIG21 Việt Nam bắn rơi. Hãng thông tấn Mỹ UPI đưa tin Mỹ chỉ mất ba máy bay.
Ngày 19.5.1967. Sứ giả chiến tranh Mỹ đến và ở lại Hà Nội. Một phần thân máy bay A3J Mỹ rơi xuống sát bức tường nhà máy in Tiến Bộ phố Kim Mã. Một đoạn cánh A3J rơi xuống góc phố Lê Trực, Nguyễn Thái Học, gần Văn Miếu. Hai phi công Mỹ nhảy dù xuống bị bắt ở phố Thuỵ Khuê. Một rơi xuống mái nhà số 71. Một rơi xuống ngõ 124.
Ngày 26.10.1967. Phi công Mỹ tắm hồ Trúc Bạch. Giữa trưa, máy bay Mỹ lao vào bắn phá nhà máy điện Yên Phụ. Chiếc Skyhawk A4E trong tốp đầu tiên bị tên lửa SAM đốt cháy. Lái chiếc Skyhawk A4E bùng cháy, viên phi công bị nhiều mảnh tên lửa găm vào người mà không biết vì thấy không đau, chỉ thấy lửa bao trùm nóng bỏng vội bật dù thoát ra khỏi quầng lửa. Hồ Trúc Bạch cách thành cổ Cột Cờ chỉ vài trăm mét đã cứu viên phi công Mỹ khỏi bị nướng chín bởi sức nóng của tên lửa SAM bùng nổ. Viên phi công Mỹ nhảy xuống tắm hồ Trúc Bạch là thiếu tá John McCain. Dòng dõi con nhà lính biển, John McCain có bố và ông nội đều là đô đốc hải quân Mỹ. Vì vậy John McCain theo nghiệp lính biển của cha, ông, từ tàu sân bay USS Oriskany ngoài biển Đông, McCain lái Skyhawk A4E bay đến Hà Nội liền nhảy ngay xuống hồ nước trong thành phố có ba mươi sáu phố cổ trăm tuổi và ba mươi sáu hồ nước ngàn tuổi. Sau này John McCain là Thượng nghị sĩ đảng Cộng Hoà, là nhân vật nổi tiếng của chính trường nước Mỹ và là nhân vật có vai trò rất lớn trong việc nối lại quan hệ bình thường và làm tốt đẹp, đằm thắm mối quan hệ Việt – Mỹ.
Ngày 17.11.1967. Máu lính thông tin thấm đất thành cổ Cột Cờ. Mùa đông. Ngày hiếm hoi trời nắng nhưng nhiều mây. Mắt thường không thấy máy bay Mỹ lẩn trong mây nhưng đinh tai chói óc là tiếng máy bay gầm rú rền khắp bầu trời và kéo dài suốt cả ngày thứ sáu. Mưa bom và sấm sét tên lửa phóng xuống nhà máy điện Yên Phụ, cầu Long Biên, cầu phao Khuyến Lương, trút xuống ga Yên Viên, ga Đông Anh. Đang trong đợt gió mùa đông bắc. Gió lùa cột khói đen bốc lên từ nhà máy điện Yên Phụ trùm xuống thành cổ Cột Cờ. Trong khói mù, một vệt tên lửa tiện đứt tán xà cừ trong thành cổ Cột Cờ bên đường dẫn ra cổng Cửa Đông. Mảnh tên lửa rũ xuống giết chết ba người lính thông tin đi nối dây điện thoại bị đứt. Máu ba người lính thông tin hạ sĩ Trần Văn Bằng, hạ sĩ Phan Di, hạ sĩ Hoàng Văn Lường tràn trên mặt đường nhựa, theo chiều dốc mặt đường, thấm vào đất gốc cây xà cừ bên đường thành cổ ngay trước toà nhà hai tầng cơ quan Tổng Cục Chính Trị.
Sau hai đợt vào núi Ba Vì xây dựng cơ ngơi dã chiến, tôi lại về Hà Nội và tôi đã có mặt ở Hà Nội gần trọn năm 1967 bom đạn ác liệt nhất, rộng khắp nhất. Cả năm 1967 Hà Nội rung chuyển tiếng bom Mỹ và bầu trời bị xé nát bởi tiếng máy bay gầm rít, bởi những vệt khói trắng máy bay phản lực và vệt khói tên lửa xẻ ngang xé dọc vòm trời, bởi những chớp lửa đạn, bởi rền vang tiếng nổ pháo cao xạ, tiếng nổ tên lửa SAM.
Tháng 8 năm 1967, máy bay Mỹ phóng tên lửa trúng ba nhịp cầu Long Biên, nhịp 14, 15, 16. Nhịp 15 bị tên lửa cắt đứt đôi.
Tháng 10 năm 1967 nhà máy điện Yên Phụ bị máy bay Mỹ đánh bom định hướng theo hình ảnh mục tiêu. Bom phá sạt một góc nhà máy nhưng nhà máy phát điện bằng đốt than, công nghệ cổ lỗ, máy móc già nua, lò vẫn đỏ lửa than, máy vẫn ì ạch phát điện. Đêm đêm bóng đèn điện Hà Nội vàng khè như đốm lửa hạt đỗ trong bóng đèn dầu dưới mái nhà tranh.
Từ năm 1965, dân Hà Nội đã rục rịch đi sơ tán nhưng nhiều gia đình, nhiều cơ quan còn bịn rịn, nấn ná không muốn rời bỏ cuộc sống đã ổn định. Đến năm 1967 Hà Nội mới thực sự sớ tán triệt để, Hà Nội như rỗng ra. Tuy vậy trong các khu dân cư vẫn còn người ở lại bám trụ cùng công việc. Bệnh viện vẫn còn bộ phận không thể rời đi. Nhưng không còn cơ quan hành chính, trường học, cơ sở sản xuất nào ở lại Hà Nội nữa. Dân đưa người già, trẻ thơ về làng quê. Những cơ quan lớn đông người, những trường đại học hàng ngàn sinh viên phải đi xa mới đủ chỗ nương náu và những cánh rừng mênh mông Thái Nguyên, Lạng Sơn đã đón họ. Thành phố không còn sinh hoạt dân sự nhưng không phải là thành phố chết.
Toà ngang dãy dọc của các trường học, cơ quan dân sự khắp Hà Nội bỏ trống thì các cơ quan quân sự trong Bộ Tổng Tư Lệnh liền chuyển đến lấp vào. Thành cổ vắng lặng chỉ còn số lính thông tin hữu tuyến làm việc trong hai tổng đài và lính vô tuyến điện làm việc trong hầm trên tầng một tháp Cột Cờ và trong lô cốt bê tông bên cổng Cửa Đông.
Một đêm khuya đầu năm 1967, hết ca làm việc, trở về nhà ngủ bên con đường đi ra cổng Cửa Đông, tôi thấy đoàn ô tô nối nhau qua cổng Cửa Đông vào thành cổ. Trên thùng những ô tô tải lô nhô đầy lính. Xe máy xúc, xe máy ủi khét lẹt mùi dầu rì rầm chậm chạp lăn bánh trong đêm khuya vắng lặng. Khu đất phía Tây toà nhà Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cạnh điện Kính Thiên khu A và bãi cỏ sân đá bóng phía sau toà nhà hai tầng của Tổng Cục Chính Trị khu C được quây kín. Những bóng điện giăng trong khoảnh đất quây kín sáng thâu đêm. Tiếng máy phát điện, máy đào đất, múc đất ì ầm suốt đêm ngày. Hai căn hầm bê tông chìm sâu dưới lòng đất ở khu A và khu C được một trung đoàn công binh xây dòng dã từ đầu năm 1967 đến cuối năm 1968 mới xong, đủ biết hai căn hầm kiên cố như thế nào. Hầm khởi công năm 1967 nên được gọi tên là hầm D67. Tên lửa và bom Mỹ trút xuống Hà Nội, các cục trong Bộ Tổng Tư Lệnh phải rời khỏi tổng hành dinh thành cổ thì những tướng tá là bộ não chiến tranh của Ba Đình rút xuống hầm ngầm ngay trong thành cổ.
Tình cờ làm sao mấy năm sau trong rừng già Kông Tum tôi lại được gặp một người lính công binh đã tham gia làm hầm D67 trong thành cổ Hà Nội. Vào Tây Nguyên cuối năm 1971 thì cuối năm 1972, tôi bị trận sốt rét ác tính hạ gục phải nằm trên cáng vào bệnh viện quân y 211. Sau mấy ngày ở phòng cấp cứu, tôi được đưa ra phòng hồi sức. Đảo mắt nhìn quanh nhận biết vị trí mới trong căn nhà chìm, tôi thấy người lính kế bên nằm ngửa trên sạp nứa, trên khuôn ngực vồng cao vì quấn băng dày là chiếc máy thu thanh đang phát bản tin thời sự đài Tiếng Nói Việt Nam. Tắt đài, người lính quấn băng kín ngực bảo tôi: Rồi. Ra được hồi sức là ngon rồi! Sống rồi! Chào ông bạn từ cõi chết trở về cõi sống. Từ ăn chuối cả nải trở về ăn sắn cả củ. Được ăn sắn luộc chín, không phải ăn chuối xanh là phúc lớn rồi. Nói rồi ông bạn thương binh đưa bàn tay lên, xoè ra chào tôi. Tôi chào lại bằng nụ cười gượng.
Khi tôi đã ổn định chỗ nằm, người lính bị thương như lâu ngày không có người chuyện trò lại nhìn tôi với ánh mắt vui vẻ và nói với tôi như chia sẻ với tôi sự trải nghiệm: Chỉ trừ những ông cốp có chế độ bồi dưỡng cao, mỗi cốp đều có một trung đội lính hầu và lính bảo vệ kè kè vây quanh. Lính bảo vệ thay nhau cáng cốp khi di chuyển. Lính hầu gùi ba lô, gùi đường sữa, gùi cả lồng gà đi theo. Dù cả đời ở rừng già Tây Nguyên chỉ có sắn và sốt rét thì sức khoẻ của các cốp cũng chẳng suy suyển, sốt rét cũng chịu thua. Còn lính trẻ, sức đề kháng chưa cao và người có tuổi, sức đang đi xuống bị sốt rét ác tính hỏi thăm, thường từ phòng cấp cứu đi cửa sau ra rừng luôn. Nằm đây mấy hôm, hôm nào tôi cũng thấy phòng cấp cứu mở cửa sau đưa người ra nhà xác trong rừng. Ông bạn đi cửa trước ra phòng hồi sức là đi ngược chiều cái chết rồi, là ngon rồi.
Sức khoẻ hồi phục dần thì câu chuyện giữa tôi và người lính “ngon rồi” càng có nhiều chuyện để nói với nhau. Anh cùng tuổi với tôi, tên Kích, trung uý, đại đội trưởng công binh. Năm 1967 tôi còn ở trong thành cổ Hà Nội, theo ca kíp bảo đảm những phiên liên lạc vô tuyến điện trong lô cốt bê tông nổi trên mặt đất bên cổng Cửa Đông thì anh cũng có mặt trong thành cổ, cũng theo ca kíp khoét đất làm thêm cái lô cốt bê tông mới chìm sâu dưới mặt đất phía cổng thành Cửa Tây. Từ thành cổ Hà Nội anh đi học trường sĩ quan Công binh rồi vào Trường Sơn chỉ huy một đại đội lính công binh mở những nhánh đường ô tô toả về phia Nam. Bị mảnh bom xé rách mảng sườn trái, may là chưa thấu tim, anh vào bệnh viện trước tôi hơn một tuần.
Sáng nào đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam ở Hà Nội bắt đầu phát sóng chương trình ngày mới thì nhạc hiệu cùng lời xướng Đây Là Tiếng Nói Việt Nam Phát Thanh Từ Hà Nội cũng vang lên ở chiếc máy thu thanh trên ngực anh trung uý công binh. Sáng sớm ngày 20 tháng 12 năm 1972, mở máy thu thanh vẫn lặng ngắt, Kích phải dò một lúc mới thấy nhạc hiệu quen thuộc của đài Tiếng Nói Việt Nam. Nhưng nhạc hiệu vừa thoi thóp cất lên trong lạo xạo âm thanh nhiễu bỗng câm bặt. Loay hoay lọc sóng, chỉnh tần số lúc lâu vẫn chỉ có tiếng rọt rẹt, lào xào, người lính công binh lại bật ra tiếng “rồi”: Rồi! Đêm qua Đài Tiếng Nói Việt Nam bị đánh bom B 52 rồi!
Hơn mười phút sau mới thu được tiếng nói từ Hà Nội, nhận ra được cả giọng phát thanh viên Việt Khoa nhưng âm thanh lúc được, lúc mất, không thể nghe nổi một bản tin. Sáng hôm trước, 19 tháng 12, từ chiếc máy thu thanh của Kích tôi đã lo lắng nghe các đài phát thanh đồng loạt đưa tin đêm 18 rạng sáng ngày 19, máy bay B52 rải thảm bom xuống Hà Nội, Hải Phòng khởi đầu bước leo thang chiến tranh tới nấc thang cao nhất của Mỹ. Đêm qua là đêm thứ hai trên nấc thang chiến tranh tột cùng đó. Huỷ diệt một thực thể thì trước hết phải huỷ diệt tiếng nói của thực thể đó. Đúng là đài Tiếng Nói Việt Nam bị bom B52 rồi. Không biết bom trút xuống con người hay trút xuống trang thiết bị vật chất? Bom trút xuống 58 phố Quán Sứ là trút xuống con người. Bom rải xuống trạm phát sóng Mễ Trì là diệt máy phát sóng. Đài phát thanh còn bị đánh bom thì thành cổ Cột Cờ, bộ não chiến tranh của Hà Nội làm sao thoát! Nghĩ đến Tháp Cột Cờ đổ gục, toà lầu cổ trong Hoàng Thành chỉ còn là đống gạch nát, ngói tan và hai cặp rồng đá ở điện Kính Thiên vỡ vụn, tôi lặng đi.
Trung uý công binh và tôi đều cho rằng thành cổ Cột Cờ, sở chỉ huy tối cao của quân đội Nhân Dân Việt Nam là mục tiêu hàng đầu của thảm bom B52. Tôi bồn chồn lo những giá trị lịch sử, văn hoá của kinh thành ngàn tuổi thành tro bụi thì ông bạn lính công binh chỉ quan tâm đến công trình hầm ngầm ông đã tham gia xây dựng. Trung uý công binh bình thản bảo rằng dù bom B52 có rải trên nóc hầm D67 cũng chẳng hề hấn gì. Suốt hai năm dòng dã đứng máy trộn bê tông xây căn hầm bằng hàng trăm, hàng ngàn tấn xi măng và sắt thép chở từ Liên Xô sang, người lính công bính chỉ cho tôi thấy sự kiên cố, an toàn của căn hầm có hai lớp bê tông nguyên khối như hai cái li bê tông khổng lồ úp lồng lên nhau. Giữa hai lớp vỏ bê tông là lớp cát dày khử rung chấn. Hai cửa ở hai cạnh đối nhau có hai lớp cánh cửa thép dày 12 cm, có gioăng cao su bịt kín, ngăn hơi phóng xạ lọt vào và có máy cung cấp ô xy cho hầm. Hầm chịu đựng được bom hạt nhân thì bom B52 xá gì.
Nghe người lính công binh nói về hầm ngầm tránh được cả bom hạt nhân dưới nền đất Điện Kính Thiên trong khu A thành cổ Cột Cờ Hà Nội tôi lại nhớ đến ba người lính thông tin cùng trang lứa với tôi bị mảnh tên lửa Mỹ giết chết bên gốc cây xà cừ khu C, máu thấm vào đất thành cổ Cột Cờ. Với người cầm quân, hoạch định cuộc chiến thì dù bom hạt nhân có trút xuống đỉnh đầu cũng chẳng hề hấn gì. Còn với người lích thực hiện cuộc chiến thì chẳng có chỗ nào an toàn. Dù ở ngay đại bản doanh cũng vẫn đổ máu hi sinh.
NHỮNG NGƯỜI RA ĐI
Lính công binh vào thành cổ khoét đất, đổ bê tông xây hầm bê tông chìm sâu trong lòng đất cho các ông tướng bám thành cổ thì chúng tôi lại thay nhau từng đợt tạm rời thành cổ đến miền đồi hoang chân núi Ba Vì tránh xa Hà Nội, tránh xa mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ. Xa thành cổ hơn bảy mươi cây số về phía Tây, tự tay tạo ra nơi ăn chốn ở dã chiến dưới chân dãy đồi lúp xúp mà đỉnh đồi là boong ke thế hệ sau cùng quân Pháp để lại ở Việt Nam khá hiện đại, vách và trần bê tông dày hơn mét chìm trong đất đồi đá ong, bền chắc và thoáng rộng là nơi chúng tôi sẽ đến đặt máy làm việc.
Vào rừng khai thác gỗ, chặt tre nứa đưa xuống núi dựng khung nhà. Trải giấy dầu lợp mái. Đan phên nứa bưng quanh nhà. Từ ngàn xưa làm nhà phải đắp nền cao. Giờ chúng tôi làm những căn nhà dã chiến phải đào đất hạ nền chìm dưới mặt đất hơn một mét, dựng những căn nhà nửa nổi nửa chìm chân đồi hoang. Những đêm khuya trên độ cao bốn trăm mét, lưng chừng vách núi Ba Vì một ngàn hai trăm mét, lính mê mệt sau một ngày vào rừng khai thác vật liệu làm nhà dã chiến thì tôi chong chong thức, bật đèn pin soi vào trang giấy viết những điều tôi đã nghiền ngẫm, sắp xếp trong đầu, truyện ngắn đầu tiên Những Người Ra Đi.
Mùa hè năm 1967 Hà Nội nóng bỏng lửa đạn trên trời, rừng rực lửa bom trên mặt đất. Bất ngờ một cơn gió mát chợt đến với tôi. Cuối tháng tư tôi nhận được lá thư gửi qua đường bưu điện. Ngoài bì thư in chữ Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tờ giấy nhỏ trong thư dưới tiêu đề tạp chí Văn Nghệ Quân Đội là chữ viết tay, nét chữ vờn lượn, uyển chuyển rất đẹp của nhà văn Hải Hồ, biên tập tạp chí: Ngày 25 tháng 4 năm 1967. Kính gửi đồng chí Phạm Đình Trọng. Những Người Ra Đi của bạn có không khí. Truyện chưa sâu nhưng dùng được. Chúng tôi sẽ đăng số 6/67. Vậy báo để bạn rõ. Chờ ở bạn bài mới tiếp tục gửi tới cho chúng tôi. Nhất là những bài phản ánh con người và cuộc sống nơi môi trường bạn đang sống.
Dưới hai hàng chữ in, hàng trên Chào thân ái, hàng dưới: T.M. Toà soạn là chữ kí và tên Hải Hồ viết tay.
Nhà văn Hải Hồ sinh năm 1928, là bộ đội kháng chiến chống Pháp thuộc lứa nhà văn đầu tiên của quân đội cách mạng. Lá thư của nhà văn Hải Hồ mang đến cho tôi nỗi khắc khoải chờ mong tháng sáu đến. Tháng sáu qua đi. Tháng bảy qua đi cũng chẳng thấy tăm hơi tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng sáu đâu. Dường như sức sống của cả miền Bắc dồn vào bộ máy chiến tranh và chỉ có bộ máy chiến tranh ầm ầm chuyển động còn các hoạt động khác thoi thóp, tê liệt, được chăng hay chớ. Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội in ở nhà máy in Quân Đội mà nhà máy in Quân Đội ở cầu Diễn, Từ Liêm, ngoại thành phía tây Hà Nội cũng phải đưa người, đưa máy in chuyển đi xa sơ tán. Lại phải ưu tiên in ấn sách chính trị, sách quân sự, sách của những ông to. Nhiều ông to, chữ nghĩa chẳng có, kiến thức văn hoá phổ thông còn thiếu hụt, tâm hồn xơ cứng nhưng ông nào cũng có khá nhiều sách xuất bản và đều là những tập sách dày lí luận, nhận định, phán xét những việc đại sự của thế giới, của thời đại, của dân tộc, phải ưu tiên in ngay trên giấy tốt. Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đâu phải là thứ cấp bách. Mãi tháng mười tôi mới nhận được tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng sáu, năm 1967. Truyện của tôi có mặt trong tạp chí văn nghệ của lính từ trang 83 đến trang 89 trên giấy rất xấu, thô ráp, xám xịt. Mặt giấy không phẳng mịn, sờ cộm tay nên chữ in nét được, nét mất.
Thiếu tá phi công Mỹ John McCain tắm hồ Trúc Bạch ngày 26 tháng mười một, năm 1967 thì mười ngày sau, thứ hai ngày 6 tháng mười một, năm 1967, chúng tôi rời thành cổ Hà Nội, chuyển mạng vô tuyến điện bảo đảm thông tin chỉ huy cho Bộ Tổng Tư Lệnh đến miền đồi chân núi Ba Vì. Ngày chúng tôi rời Hà Nội theo lịch ta là ngày 5 tháng mười, năm Đinh Mùi. Lại là tháng mười. Chuyển mạng thông tin chỉ huy toàn quân của tổng hành dinh quân đội rời khỏi Hà Nội chỉ là một chi tiết nhỏ trong hoạt động quân sự, một thao tác bình thường vận hành bộ máy chiến tranh nhưng là hoạt động quân sự liên quan đến Hà Nội, vẫn là một sự kiện của lịch sử Hà Nội. Tháng mười luôn luôn là thời khắc lịch sử đáng nhớ của Hà Nội.
Bốn chiếc ô tô tải trên thùng xe đầy lính và vật dụng hậu cần, từ tấm ván làm giường ngủ của lính đến soong nồi nhà bếp. Xe lại qua cổng Cửa Nam thân thuộc ra phố Nguyễn Thái Học, qua Kim Mã, qua Thủ Lệ. Rời Hà Nội vào chiều tháng mười, cuối thu, trên chiếc xe đầy lính, bồn chồn nhìn đường phố trống rỗng, nhìn hàng cây trầm tư hiu hắt gió heo may tôi lại nhớ câu thơ lay động của một tài hoa Hà Nội, nhà văn hoá lịch lãm Nguyễn Đình Thi viết về những người lính rời Hà Nội mùa đông năm 1946 đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp:
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy!
Qua Cầu Giấy. Qua Cầu Diễn. Qua thị trấn Phùng. Qua đê Hát Môn nhắc đến sự tuẫn tiết của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị trung trinh với nước Việt, đến đoạn đường chạy giữa cánh đồng huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, gần thị xã Sơn Tây, chúng tôi gặp đoàn ô tô lừng lững màu lá khô cỏ úa đều mang biển đăng kí xe quân sự gồm hai chữ đầu LA và ba chữ số tiếp theo. Những chiếc xe đầu cõng tên lửa. Những chiếc xe tải bám theo chở lính Việt và lính Nga trên thùng xe chạy ngược về Hà Nội. Nhận ra những người lính Nga trẻ măng đều mặc dân sự đi ngược về nơi đang là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ, chúng tôi hét to hu ra. Lính Nga và lính Việt trên hai đoàn xe ngược chiều nhau cùng đứng cả lên trên thùng xe hét to và đưa tay vẫy nhau, rộn rã cả khúc đường chiến tranh.
Qua ngã ba, hướng đi thẳng vào chân núi Ba Vì, nơi có căn hầm làm việc và những căn nhà tranh tre, nền nhà chìm dưới mặt đất của đại đội 5 vô tuyến điện, ô tô rẽ phải hướng đi Suối Hai, Đá Chông và dừng lại trên ngọn đồi hoang lúp xúp sim mua khi những tia nắng cuối ngày còn phập phồng thoi thóp trên đỉnh đồi và tiếng chim của miền đồi hoang “khó khăn khắc phục” cứ khắc khoải trong lau lách. Những xóm dân xanh rì bóng tre rải rác thưa thớt dưới thung lũng chân đồi. Nhà ở làm chưa xong, chúng tôi vào ở nhà dân xóm Việt kiều từ Thái lan về nước từ năm 1960, xã Tản Lĩnh, huyện Tùng Thiện, nay là huyện Ba Vì. Ăn ở bếp đại đội, một căn nhà nửa nổi nửa chìm, cột bương, mái giấy dầu đen xỉn dựng dưới thung lũng cạnh dải ruộng hẹp. Làm việc trong lô cốt bê tông chìm trong đất sỏi trên đồi cao.
Hóa ra miền đồi sim mua và lau lách chúng tôi đến cũng đã trở thành một trận địa phòng không rộng lớn tua tủa nòng pháo quấn lá nguỵ trang như những cây rừng. Cách chúng tôi chỉ một, hai triền đồi và khe ruộng hẹp là những trận địa pháo cao xạ cỡ lớn bắn máy bay tầm cao và những trận địa dân quân căng lên trời những quả bóng bay khổng lồ đủ màu sắc như những khinh khí cầu chặn máy bay tầm thấp. Ngày nào cũng có nhiều đợt từng đàn máy bay Mỹ từ hướng Tây, từ các sân bay quân sự Mỹ Ubon, ở Udon. Corat, Utapao trên đất Thái Lan, vượt qua dãy núi Ba Vì, gầm rú lao về phía Hà Nội nhưng những nòng pháo cao xạ xanh lá ngụy trang vẫn im phắc. Lính kháo nhau rằng những trận địa pháo cao xạ 57 ly, 100 ly ở đây là để bảo vệ căn cứ sơ tán của cơ quan trung ương khoét sâu trong lòng dải núi trập trùng ở Miếu Môn, Hòa Bình, ở Đá Chông, Suối Hai.
Ngửa mặt lên trời đếm những tốp máy bay Mỹ bay theo đội hình như trong lễ duyệt binh đang lao về hướng Hà Nội tôi lại chạnh lòng lo cho những tập sách quí Chiến Tranh Và Hòa Bình, Con Đường Đau Khổ, Bỉ Vỏ, Sống Mòn… trên giá sách ở thư viện quân đội trên gác hai câu lạc bộ Quân Nhân. Chị Diệp, chị Hoa những người giữ sách chắc chắn đã đi sơ tán nhưng những tập sách đó đâu có được đi sơ tán. Tôi lại nhớ đến cuộn khái bốc lên từ kho xăng Đức Giang. Những trang giấy mỏng cũng dễ bén lửa gần như xăng dầu. Làm sao những giá sách quí của thư viện quân đội thoát khỏi số phận kho xăng Đức Giang!
Tết Mậu Thân 1968 đến với tôi ở căn cứ dã chiến, trong hầm lô cốt trên đồi sim chân núi Ba Vì. Đám lính thông tin chúng tôi không hề biết có chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Chỉ có hai điều tôi ghi nhớ. Mọi cái tết ở Hà Nội đều có vài người lính được nghỉ phép vài ngày về nhà ăn tết và các phiên liên lạc dịp tết đều nhẹ nhàng, nhàn nhã, thong thả, rất ít điện chuyển và nhận. Bắt liên lạc rồi ZNN VA. Znn là tín hiệu báo không có việc. Va là tín hiệu kết thúc liên lạc. Nhưng tết Mậu Thăn 1968 không ai được rời đơn vị. Ca làm việc đêm 31.1.1968, đêm giao thừa tết Mậu Thân mỗi người ôm một máy từ lúc nhận ca đến lúc giao ca, liên tục chuyển điện, nhận điện tối khẩn. Chữ TK, tối khẩn màu đỏ trên những bức điện dồn dập chuyển đi làm cho chúng tôi như nín thở làm việc. Rời máy, giao ca, bải hoải chui ra khỏi hầm, bước ra đồi sim. Cơn gió lạnh mang khí trời tự nhiên, mang hơi thở của cỏ cây thoảng đến. Hít hơi khí lạnh mà tỉnh cả người. Hôm sau qua đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam lính mới biết chiến dịch tổng tiến công, tổng khởi nghĩa toàn miền nam bùng nổ khi chúng tôi đang trong lô cốt trên đồi hoang Ba Vì, đang ôm máy thu nhận những tín hiệu vô tuyến điện phát đi từ sở chỉ huy những cánh quân tiến vào các đô thị ở miền nam.
Chiến tranh lan rộng. Các đơn vị quân đội đều phình ra. Từ 1968, C53 nâng cấp lên thành binh chủng. Cục Thông Tin Liên Lạc thành bộ Tư lệnh Thông Tin Liên Lạc. Tháng tám, 1968 tôi được gọi về Hà Nội, được điều động về ban Tuyên huấn, phòng Chính trị, bộ Tư lệnh Thông Tin Liên Lạc, làm công việc chuẩn bị cho đại hội thi đua quyết thắng toàn binh chủng. Đại hội tổ chức ở trường cấp ba Chu Văn An cạnh hồ Tây, nơi tiểu đoàn quân bưu 78 đã sơ tán từ đường Lý Nam Đế đến sau khi thày trò trường Chu Văn An sơ tán về học dưới bóng tre làng quê. Gặp gỡ. Lấy tư liệu. Viết bài. Xuất bản sách về những người lính thông tin xuất sắc trong chiến đấu. Sau đại hội thi đua quyết thắng, đầu năm 1969 tôi được giao tổ chức, dựng lên báo Thông Tin, tờ báo in ti pô của binh chủng Thông Tin.
Hà Nội năm 1967, năm 1968 là năm bom đạn, năm của máu thì năm 1969 lại là năm của nước mắt với cái chết và đám tang khai thác triệt để quĩ nước mắt của người dân cả miền bắc. Ngày ấy tôi cũng góp nước mắt cùng người dân miền Bắc khóc người khai sinh ra đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Khóc con người từ tên tuổi đến cuộc đời, từ đời sống tình cảm riêng tư đến sự nghiệp chính trị luôn mờ, ảo, thật, giả lẫn lộn mà tự xưng là Cha Già Dân Tộc. Ngày ấy tôi thấy Cha Già Dân Tộc Hồ Chí Minh như Đức Phật, như Đức Chúa Trời, tên Hồ Chí Minh như một nguồn sáng lấp lánh và tôi đã viết: Vầng trán Lénin là mặt trời, vầng trán Bác Hồ vằng vặc trăng soi!
Năm 1969, phòng chính trị, bộ tư lệnh Thông tin Liên lạc chuyển nơi sơ tán từ trường cấp ba Việt Đức phố Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, một toà nhà kiến trúc cổ điển Pháp giữa phố đông, trong không gian chật chội về trường cấp ba Nguyễn Trãi, Ba Đình ở Kim Mã, ba toà nhà ba tầng mới xây có không gian thoáng rộng. Ban tuyên huấn ở gác hai toà nhà song song với phố Kim Mã. Tôi ngủ cùng phòng với trung uý Trần Nhưng, trợ lí tuyên huấn. Trung uý Trần Nhưng, gốc nông dân Thái Bình là một trong hai người kí giấy giới thiệu tôi vào đảng. Mờ sáng ngày 3 tháng chín, 1969 chưa có kẻng báo thức. Tôi còn đang ngủ thì trưởng ban tuyên huấn, thiếu tá Trần Việt Thắng đánh thức tôi và trung uý Nhưng dậy rồi nghiêm giọng báo tin: Các đồng chí ơi, Bác Hồ của chúng ta mất rồi! Rời phòng tôi, thiếu tá Thắng sang phòng bên, tôi vẫn ngồi lặng trên giường cá nhân.
Buổi sáng ảm đạm, dù đang mưa sập sùi, tôi cũng đạp xe đến quảng trường Ba Đình trong bầu trời xám xịt, mưa lúc mau, lúc thưa. Ngày 2 tháng chín không có mít tinh như mọi năm nhưng trên lễ đài Ba Đình vẫn đỏ rực màu cờ, đỏ rực khẩu hiệu chào mừng ngày quốc khánh và ảnh Hồ Chí Minh cỡ lớn choán kín vòm cửa rộng trên cao giữa lễ đài. Vài nhóm người đứng túm tụm giữa quảng trường mênh mông, trong mưa lúc như sương mù, lúc nặng hạt, vẻ mặt thảng thốt và lặng lẽ nhìn lên ảnh Hồ Chí Minh. Trời Ba Đình ảm đạm, đám mây mọng nước xà xuống thấp và lá xà cừ trên đường Hoàng Văn Thụ cạnh quảng trường ngấn nước mưa nhỏ giọt xuống đường như những con mắt tràn lệ. Trở về căn phòng trên gác hai trường cấp ba Nguyễn Trãi, tôi viết bài thơ dài mở đầu bằng hai khổ thơ viết về nỗi mất mát lớn lao đến đất trời, cỏ cây cũng đầm đìa nước mắt:
Sáng Ba Đình con chạy về tìm bác
Lại gặp những đứa con ngơ ngác tìm cha
Bác Hồ ơi! Con gọi bác nghẹn trong tiếng khóc oà
Vẫn chẳng tin bác đã đi xa
Mặt trời sớm nay phủ kín khăn tang
Mây vô tư cũng chẳng đi lang thang
Chỉ tụ lại trước Ba Đình nức nở
Những hàng cây nước ngấn đầy trên lá mắt mở
Đến ngày 9 tháng 9 năm 1969, Hà Nội mới thực sự đẫm nước mắt trong đám tang của biển người ở quảng trường Ba Đình. Sau này tôi mới nhận ra những gương mặt đau đớn, thất thần, đầm đìa nước mắt trong đám tang tháng chín năm 1969 cho thấy tuyên truyền cộng sản đã thành công vĩ đại như thế nào khi biến thời nội chiến đau thương, ai oán nhất trong lịch sử Việt Nam thành thời “rất kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ” – thơ Tố Hữu, biến những người phát động nội chiến, bàn tay ròng ròng máu cả chục triệu người Việt thành những người anh hùng huyền thoại như thần thánh. Để có thủ lĩnh là anh hùng cao cả như thần thánh thì người dân phải mê muội, tối tăm và sung sướng, thoả mãn, tự hào được là thần dân, là con nhang đệ tử của thần thánh. Từ đám tang đẫm nước mắt tôi nhận ra tuyên truyền cộng sản đã lan rộng, thấm sâu, mê hoặc người dân đậm đặc, bền bỉ như thế nào. Đến chính tôi cũng đã từng là con nhang đệ tử của vị thánh Hồ Chí Minh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên khi tôi viết:
Bụt hiền xưa thương cô bé nghèo
Cũng chỉ cho được ba điều ước
Vạn điều ước của người dân Việt Nam mất nước
Bác đã cho thành sự thật hôm nay.
Dù cho rằng vạn điều ước của người dân nô lệ Việt Nam được ông Bụt Hồ Chí Minh biến thành sự thật thì cái chết đẫm nước mắt của con người đó cũng làm cho tôi chạnh nhớ đến cái chết không một giọt nước mắt của ba người lính trong thành cổ Hà Nội ngày 17 11.1967. Ba con người tuy có tên cha mẹ đặt cho nhưng cũng thành vô danh trong hàng triệu, triệu người chết trẻ trong cuộc nội chiến còn để lại vết thương, để lại nỗi đau đến ngàn năm sau.
Cùng là con người. Cùng trong một tổ chức. Cùng một sự nghiệp. Do số phận định đoạt mà khác nhau vị trí xã hội, khác nhau việc làm. Khác vị trí, khác công việc nhưng không khác tư thế, không khác giá trị làm người. Cùng giá trị làm người, cùng thân phận con người, một người chết già, cả hệ thống truyền thông rền rĩ đưa tin, cả triệu người nức nở thương tiếc. Ba người lính trẻ chết tức tưởi trong chiến đấu bảo vệ sự sống, bảo vệ những giá trị thiêng liêng của thủ đô đất nước, chết ngay trên mảnh đất kinh kì, chết ngay trong cơ quan bộ Tổng Tư Lệnh thì không ai biết đến, không được bất kì tờ báo, trang sách nào nhắc đến dù chỉ một dòng chữ!
Dường như bất công cũng là lẽ thường tình trong cuộc đời. Trong nỗi buồn nhân thế, một lần nữa tôi thành kính ghi tên ba người lính cùng thế hệ với tôi đã lặng lẽ hiến dâng tuổi trẻ rực rỡ, hiến dâng cuộc đời quí giá của mình cho cuộc chiến chống trả máy bay Mỹ, góp công bảo vệ bức tường rêu phong hoàng thành Thăng Long, bảo vệ sự nguyên vẹn những mái nhà cổ của ba mươi sáu phố phường, góp sức bảo vệ màu xanh trên hàng cây toả bóng mát xuống đường phố Hà Nội.
Ngày 17.11.1967 máu các anh thấm vào nền đất bên con đường kinh thành Thăng Long đi ra cổng Cửa Đông khi tôi đã xa Hà Nội, xa ngôi nhà ngay bên con đường các anh ngã xuống, ngôi nhà cuối cùng tôi đã ở trong thành cổ Cột Cờ. Năm sau về lại Hà Nội làm sách tuyên truyền cho đại hội thi đua quyết thắng của binh chủng Thông tin tôi mới biết sự hi sinh của các anh ngay sát nơi tôi đã ở, tôi mới biết máu Trần Văn Bằng, bạn học cùng trường cấp ba Thái Phiên, Hải Phòng, máu Hoàng Văn Lường, máu Phan Di cùng thế hệ với tôi đã thấm vào đất thành cổ.
Trang sách viết về thành cổ Hà Nội của tôi xin trân trọng lưu lại đôi dòng để ghi nhớ các anh đã từng có mặt trong cuộc đời, đã từng sống và lặng lẽ làm việc trong thành cổ Cột Cờ Hà Nội, lặng lẽ góp dòng máu vào trang sử Hà Nội:
Hạ sĩ Hoàng Văn Lường. Sinh năm 1943. Quê Thượng Quan, Ngân Sơn, Bắc Cạn.
Hạ sĩ Phan Di. Sinh năm 1942. Quê Nam Vân, Nam Trực, Nam Định.
Hạ sĩ Trần Văn Bằng. Sinh năm 1945. Quê Đằng Hải, An Hải, thành phố Hải Phòng.