Bến lở (kỳ 5)

Tiểu thuyết

Nxb Lao Động, 2008

Tác giả Đặng Văn Sinh

 

CHƯƠNG 11

Tháng 9, Đội khảo sát vượt sông qua miền Tây Quảng Trị sang Bắc Thừa Thiên tìm một con đường an toàn sang biên giới Việt Lào. Điểm bắt đầu của con đường bí mật này là Trạm 4B nằm trong lãnh thổ bạn. Nơi đây sẽ là vị trí trung chuyển lương thực, thực phẩm và khí tài quân sự từ miền Bắc đưa vào. Khi giao nhiệm vụ này cho nhóm của Phan, cục trưởng Cục tham mưu Binh đoàn chỉ lên tấm bản đồ Bình – Trị – Thiên nhấn mạnh:

– Tốt nhất nên chọn con đường men theo sườn trái của dãy Phu Keo. Khu vực này địa hình hiểm trở, đặc biệt trong các khu rừng nguyên sinh còn có một số hang động rất thuận lợi cho việc giữ bí mật lực lượng của ta.

– Tôi đồng ý với đại tá về tổng thể nhưng về chi tiết xin nói để mọi người rõ là địa hình vùng ta sắp đi qua hết sức phức tạp. – Kỹ sư Thụ, đội trưởng khảo sát lấy bút chì vạch nhẹ một đường cong lên dãy Phu Keo tỏ ý nghi ngại. – Đó là hệ thống sông suối miền Trung từ dãy Trường Sơn đổ xuống, vừa ngắn vừa dốc tạo nên những điểm lõm rất khó khắc phục. Cho nên đề nghị Bộ Tư lệnh để chúng tôi thăm dò phương án 2 sườn phải .

– Ý kiến kỹ sư Thụ rất đúng về mặt chuyên môn. – Cục trưởng chỉ vào một điểm đánh dấu hoa thị trên bản đồ hướng về phía anh em khảo sát, giọng có phần gay gắt. – Độ dốc sườn bên phải nhẹ, ít khe suối cắt ngang và chỉ có một nhánh sông nhỏ nên giá thành công trình sẽ rẻ hơn, nhưng các đồng chí biết không, con đường bắt buộc phải qua đèo 607, mà từ 607 đến căn cứ Phượng Hoàng 2 của địch chưa đầy mười lăm ki lô mét. Ngoài ra chúng còn một sân bay dã chiến gần thung lũng Kà Tay, thử hỏi, với hàng ngàn con người và các phương tiện thi công dài ngày làm sao ta giữ được an toàn tuyệt đối? Vì vậy Bộ Tư lệnh đã quyết định con đường sẽ qua sườn phía trái. Bây giờ các đồng chí về chuẩn bị, ngày mai lên đường.

Trưa hôm sau, lực lượng chủ chốt của đội chia làm hai tổ. Tổ một do kỹ sư Quỳnh chỉ huy bắt đầu từ điểm cao 582 cách vị trí đóng quân khoảng ba cây số. Tổ hai do kỹ sư Thụ, đội trưởng dẫn đầu gồm bảy người trong đó có Phan, cũng ba lô, súng trên vai đến đèo Phay Khôn phía bên kia sông Tà Leng.

Rừng Trường Sơn mùa này đang thay lá. Gió foehn khô nồng làm táp cả những cánh lộc vừng non vừa nhú ra khỏi cành. Ban đêm, nằm trong lán lắng nghe tiếng xào xạc của ngàn cây mới cảm thấy hết nỗi cô đơn của con người. Đêm càng khuya gió càng mạnh. Có những lúc cả rừng núi bỗng rồ lên từng đợt ào ào bẻ cành cây răng rắc giống như một trận cuồng phong. Dọc theo các lèn đá, trên những dải đường mòn hẹp, thỉnh thoảng thấy vết chân thú đi tìm nước. Trong rừng săng lẻ những con gà trống sặc sỡ mệt mỏi đậu trên chạc cây kim tước chằng chịt dây leo, mào rũ xuống vì nóng thỉnh thoảng lại uể oải gáy gọi bạn. Một đàn khỉ bé loắt chắt trông như những chú vượn bạc má, lông vàng óng đang nô giỡn trên cành chút chít. Chúng vừa tranh nhau vặt quả vừa trêu nhau chí choé có vẻ như không hề biết đến cái nóng hầm hập của thứ gió cao nguyên khô nồng.

Tổ hai dựng lều dưới tán lùm cây sam. Bên trên cây sam là một cây gọ cổ thụ cành lá rậm rạp xoè ra thành một cái vòm lớn. Cách đấy một đoạn là khe suối nhỏ, nước trong lòng đá rỉ ra trong vắt. Từ đây lên đến cao độ 613, theo đường chim bay là ba trăm mét. Mọi người chuẩn bị địa bàn, cặp ba dây, thước, clisimetres[1] cùng sổ sách mở đầu buổi thăm tuyến. Đúng là địa hình sườn trái phức tạp, rất khó lập được bình đồ tuyến chính xác. Do hiện tượng đứt gãy địa tầng theo hướng bắc nam, nên sườn núi bị chia cắt như răng cưa, tạo thành nhiều khe suối từ đỉnh Trường Sơn chảy xuống làm cho cơ tuyến hơi nhích lên để tránh phải làm nhiều cầu, cống.

Hết tuần thứ nhất, tổ hai đi được chừng năm cây số. Tốc độ thăm dò như thế là quá chậm vì địa hình phức tạp và nhất là thảm thực vật nhiệt đới rậm rạp, anh em vừa đi vừa phát cây ngắm tuyến lại phải cảnh giới và ngụy trang.  Sợ nhất là những khoảng rừng thưa. Những chiếc máy bay trinh sát OV10 gần như lúc nào cũng vè vè trên cao, có lúc chúng đứng yên tại chỗ săm soi từng mét vuông một trên những khoảng trống ấy, nếu phát hiện thấy những gì khả nghi liền gọi ngay phi pháo từ Khe Sanh dội về.

Sang tuần thứ hai, tiến độ được đẩy lên nhanh hơn nhưng lương thực đã cạn mà hai cậu Ngoạn và San cử đến trạm 5B chưa về. Anh Thụ sốt ruột lắm. Kiểu này chỉ còn cách tìm môn thục và rau dớn luộc ăn trừ bữa. Đêm trong rừng thật dài, mọi người bụng đói cồn cào, ngủ không được, chờ mãi chẳng thấy sáng. Cậu Đổng trước đây vốn dân phụ xe, mồm mép lem lém đề nghị:

– Chả lẽ cứ ngồi nhìn nhau mà thở dài. Tốt nhất, mỗi người tự kể một câu chuyện về mình. Bắt đầu từ anh Thụ, xong đến Thiết rồi Phan và cuối cùng là thằng em đây.

– Cậu chỉ bẻm mép. – Thiết cận ngáp dài tỏ ra chẳng mấy hào hứng với cái sáng kiến xem ra khá tốn năng lượng của anh chàng cựu lơ xe.

– Cậu Đổng nói có lý. – Anh Thụ bỗng vui vẻ hẳn lên ngồi phắt dậy bàn thêm. – Nhưng phải kể chuyện thật không được bịa. Anh nào bịa sẽ bị phạt một mình gác cả đêm cho chúng ta ngủ.

– Hay đấy! – Đổng vỗ tay hoan hô. Ngẫm nghĩ một lúc, anh chàng bỗng đưa ra một ý kiến bổ sung chết người. – Có điều chỉ được nói về quá trình yêu đương của mình, anh Thụ thấy thế nào?

– Thế thì gay đấy. Mình…

Thiết cận đang mặt ủ mày chau vì đói chợt chen vào bằng thứ giọng ồm ồm như ễnh ương rên đêm mưa rào:

– Vậy những người chưa yêu bao giờ thì sao?

– Thôi đi ông bạn, một trung cấp kỹ thuật như ông đã lăn đến nửa vòng quả đất , làm gì chẳng có vài mảnh tình vắt vai. – Đổng lên giọng răn đe. – Cậu phải chọn mảnh nào độc đáo nhất để trình làng. Nói “cuội” là xử theo luật .

Anh Biên vốn nhát, hay sợ ma rừng, nghe đến đây hoảng quá tìm cách lảng:

– Có thể miễn cho tớ không? Tớ về nghỉ phép được bố mẹ cưới vợ cho, xong rồi vào chiến trường, chả biết yêu là gì, nói ra sợ các cậu cười.

Phan nhịn cười mãi không được, liếc mắt nhìn anh Thụ rồi bảo:

– Trường hợp của anh không có gì là khó. Cứ thực sự mà kể. Anh em nghe thấy hợp lý là không phải phạt. Nào, xin mời thủ trưởng Thụ.

Anh Thụ ngẫm nghĩ một lúc rồi khẽ nói:

– Hồi còn ở Trường Đại học mình biết một cô. Cô này học khoá dưới, phải nói là xinh nhưng trông có vẻ nghịch ngợm. Thời chúng mình mà con gái cắt tóc ngắn, mặc quần ống bó, áo sơ mi rộng thùng thình, mắt mang kính râm thì không những các cụ nhà ta mà ngay cả những người cùng trang lứa cũng thấy chướng mắt. Nhưng chẳng hiểu vì sao cô ta lại để ý đến mình mới chết chứ. Như các cậu biết đấy, mình là dân nhà quê ra thành phố, chỉ biết lao vào học, nghĩ gì đến chuyện yêu đương. Vả lại, lúc ấy ở nhà mình đã có… vợ.

– Thế ra “ông bác” tảo hôn à? – Thiết cận đang lơ mơ ngủ bỗng chen ngang vào.

– Chuyện ấy để nói sau. Chỉ biết rằng cô sinh viên kia có vẻ như đang “chiếu tướng” mình.

– Phải nói rõ điểm khởi đầu như thế nào mà chị ấy “chiếu” anh chứ?

– Tình cờ một hôm chúng mình cùng đi chuyến xe điện Bờ Hồ – Hà Đông. Các cậu nên nhớ mình chưa hề biết cô ấy là sinh viên. Có một bọn thanh niên du côn bám tàu nhảy lên luồn từ toa nọ sang toa kia, chắc là nhìn thấy cô gái ăn mặc ngổ ngáo liền nháy nhau xúm vào trêu. Một thằng choai choai cỡ mười bảy mười tám, đầu hoa gáo, quần ống loe, áo chim cò len đến vuốt má cô gái buông giọng cợt nhả:

– Chà, xinh quá, ở đâu cho anh theo về với cô em…

– Thôi đi, mở to mắt ra mà nhìn xem đây là em hay là chị cậu. – Cô gái bị trêu đỏ mặt lườm gã thanh niên.

– Làm gì mà người đẹp đanh đá thế? – Một gã khác, tóc gọng kính giọng ỏn ẻn như thằng đồng cô giả vờ bị ngã quờ tay vào eo lưng cô gái.

– Đồ đểu! – Cô né người tránh sang một bên và cho hắn một cái tát cảnh cáo.

– A, mày… dám… Đồ nặc nô!

Gã vừa hét lên thì thằng bạn đầu hoa gáo xô vào kéo tay cô gái. Trong toa lúc ấy vắng người. Mấy bà buôn chuyến ngồi mãi hàng ghế bên kia biết rõ bọn lưu manh chuyên móc túi khách không muốn dây vào. Theo dõi hành vi của chúng từ đầu, tưởng chỉ đùa cợt tí chút, nào ngờ mấy thằng mất dạy  chẳng coi ai ra gì, ngang nhiên trêu chọc phụ nữ giữa ban ngày, mình mới xô đến bảo:

– Bỏ tay cô ấy ra!

– Mày là cái thá gì mà chõ mõm vào? – Gã đầu hoa gáo hếch mắt hỏi với thái độ xấc xược.

– Tao bảo một lần nữa. Bỏ tay cô ấy ra!

– Á à! Galan gớm nhỉ. Hãy thử xem anh hùng định cứu mỹ nhân ra sao…

Nói thật với các cậu, lúc ấy mình không thể bình tĩnh được nữa khi nghe thằng kia thách đố. Thế là mình mới cầm khuỷu tay hắn xoay nhẹ một cái theo đúng miếng võ mà ông nội đã dạy hồi còn sống. Hắn đau quá, người tái mét, lăn ra sàn tàu nhăn nhó. Thằng tóc gọng kính biết là gặp phải đối thủ không vừa liền luống cuống đỡ thằng bạn dậy rồi lủi thủi chuồn sang toa bên.

 Đổng nghe vậy rất khoái liền hỏi xoắn xuýt:

– Anh có mấy miếng như thế, lúc nào dạy chúng em với.

Anh Thụ cười bảo:

– Ông cụ dạy có dăm miếng để tự vệ thôi. Hôm ấy nhìn bộ dạng hai thằng xem ra chẳng võ vẽ gì nên mới dám điểm huyệt, nếu chẳng may gặp bọn cao thủ có khi phải dùng cú “Song phi liên hoàn cước”.

– Rồi sau thế nào?

– Hoá ra mình và cô ta cùng học Bách Khoa. Mình ở khoa Cầu đường còn cô ấy ở khoa Hoá thực phẩm. Hôm sau, lúc đi ăn cơm về, Yến (tên cô ấy) gặp mình trước cửa ký túc xá, tay xách một xâu bánh mỳ giơ lên trước mặt mình cười hóm hỉnh:

– Hôm nay em xin đáp nghĩa chàng Lục Vân Tiên bằng chuỗi bánh Tây…

– Yến có khiếu hài hước đấy nhỉ?

– Nói đùa vậy thôi. – Cô gái nhìn mình vui vẻ bảo. – Hôm qua Yến vô cùng biết ơn. Bây giờ mời anh lên tầng 2 vào phòng 16 để Yến giới thiệu với các bạn cùng lớp…

Sau đó chừng vài tuần thì nàng chủ động đến tấn công mình mà mình lại cũng yêu nàng thế mới gay các cậu ạ.

– Quả đúng là bi kịch rồi. – Đổng lắc đầu thở dài thườn thượt. – Đúng là cuộc tình tay ba mà em dám chắc người chịu phần thiệt sẽ là bà chị ở quê.

– Chuyện cưới vợ của mình đúng là một thiên bi hài kịch. – Anh Thụ chép miệng bảo. – Nhà mình mấy đời độc đinh, vì vậy bố mẹ mình quyết định cưới con dâu khi mình mới mười bốn tuổi, đang học lớp sáu. Các cậu bảo, một thằng nhóc còn thò lò mũi xanh, đi học mặc quần dải rút, chân đất biết đếch gì về chuyện vợ chồng. Nghe bà mẹ dỗ ngon dỗ ngọt mình cũng bùi tai gật đầu. Mãi đến hôm tổ chức đám cưới mình mới nhìn rõ mặt “vợ”. Thì ra cô ta là con ông Phó Giàng, người bên làng Nành thỉnh thoảng vẫn gánh mía lên chợ Đột bán. Đó là người phụ nữ cao lừng lững có làn tóc mây khá dài, tuổi chừng mười chín, đôi mươi, nếu đứng bên nhau có khi mình chỉ đến ngực là cùng.

– Anh chỉ nói quá. – Thiết cận sờ soạng tìm cặp kính bị rơi xuống đất, nhận xét.

– Hãi nhất là ngay tối hôm ấy, khi khách khứa ra về, mọi công việc dọn dẹp đã xong, mẹ mình ấn mình vào buồng với cô ta rồi khoá trái cửa lại. Mình vừa khóc, vừa đấm cửa ầm ầm đòi ra nhưng không ăn thua, mệt quá đành ngồi bệt xuống đất rồi ngủ lúc nào không biết. Sáng ra, khi thức dậy mình thấy đang nằm trên giường, còn “vợ” ngồi bên cạnh đang nhìn lơ đãng vào một điểm nào đó trên mái nhà có vẻ suy nghĩ lắm. Đợi cho mình tỉnh hẳn, cô ta bảo:

– Tối qua “nhà” khóc nhiều quá, ngủ thiếp đi, tôi phải bế lên giường. Thôi ra rửa mặt, ăn cơm rồi đi học.

Mình lắc đầu:

– Ứ ừ! chẳng đi học nữa đâu.

– Kìa, sao lại thế. Không đi học thầy sẽ đánh đòn.

– Đi học chúng nó ê, xấu hổ lắm.

– Hay để tôi đưa đi.

– Không được! – Mình quắc mắt. – Chị về nhà chị đi.

Cô ta không một chút bối rối, lấy tay vuốt tóc mình như là vuốt tóc một đứa trẻ con thực sự rồi nhẹ nhàng nói:

– Từ nay nhà thầu u là nhà tôi rồi. Tôi sẽ phải ở đây cho đến khi nào “nhà” lớn lên, lúc ấy, nếu không thích, “nhà” đuổi tôi sẽ đi…

– Vì sao chị lại ở nhà tôi lâu thế? – Mình ngớ ngẩn hỏi lại. – Những bốn năm nữa cơ mà?

– Đúng đấy “nhà” ạ. – Cô ta dịu dàng nhìn mình bằng giọng nói trầm trầm thoáng buồn. – Những năm trước, bố mẹ tôi có nợ gia đình ông bà nội bên này một món tiền lớn. Nhà nghèo, các cụ không trả được đành hứa là sẽ cho tôi về làm dâu. Thầy mẹ tôi nghĩ đến món nợ ngày xưa thành ra không nỡ chối từ…

– Vậy là chị sang ở nhà tôi để trừ nợ phải không?

– Không được nói như thế. Thầy mẹ mà nghe thấy là rất phiền. “Nhà” còn bé cứ cố gắng học hành để mai đây thành người hữu ích. Sau này khi đã lớn, học hành thành tài, hiểu biết lẽ đời, lúc ấy tôi sẽ xin về bên kia…

– Tôi nghe bọn chúng nó bảo anh Thuấn phải lòng chị cơ mà, sao chị không lấy anh ấy?

– Chuyện nhân duyên không đơn giản thế đâu … Người ta vẫn chờ đấy nhưng mà ván đã đóng thuyền chỉ còn biết thở dài ngậm ngùi nhớ nhau trong tâm tưởng thôi.

Các cậu nên nhớ rằng vào những năm năm mươi ấy, rất nhiều nơi ở nông thôn miền Bắc còn chịu ảnh hưởng nhiều tàn dư của chế độ thực dân phong kiến. Chuyện tảo hôn chỉ là một trong những hủ tục ấy mà thôi. Ở làng mình, cứ mười thằng thì có đến bốn năm thằng lấy vợ trước tuổi thành niên. Đến lớp, bạn bè tìm đủ mọi cách chọc ghẹo, may mà mình học trội hơn hẳn nên chúng còn nể đôi chút. Một lần bọn làng Thị xúm nhau vào đồng thanh trêu:

Bồng bồng cõng chồng đi chơi

Đi đến chỗ lội thì rơi mất chồng

Ai ơi cho Thơi mượn chiếc gầu sòng

Thơi tát Thơi té cho chồng là… thằng Thụ ngoi lên…

Thơi là tên “vợ” mình. Nghe lần đầu còn chịu nhịn, lần thứ hai đã ngứa ngáy, đến lần thứ ba thì không thể chịu được nữa, mình bèn húc đầu vào bụng thằng Xước rỗ ngã ngửa người ra. Thế là bọn chúng túm lấy mình đấm túi bụi vào đầu, vào mặt, vào ngực rồi ù té chạy. Mình ức quá vừa thất thểu về nhà vừa khóc,đến sân, vừa nhìn thấy bố, liền quẳng cặp sách đến bịch một cái rồi càu nhàu:

– Từ mai tôi đếch thèm đi học nữa.

Ông bố trợn mắt quát:

– Lại đánh nhau với đứa nào hả?

– Nhưng mà chúng nó cứ trêu.

– A, thằng này láo! Mày định cãi lại người lớn đấy hả?

– Người lớn gì mà xui trẻ con lấy vợ để cả làng chửi…

Bố mình tức lắm, những thớ thịt trên khoé miệng giật giật, đôi môi run run không nói được thành lời. Ông ấy đảo mắt nhìn lên mái nhà có lẽ là tìm cây roi mây để trị thằng con về tội hỗn láo. Chỉ có chị Thơi là bình tĩnh hơn cả. Trước tiên chị ấy nhặt cặp sách, sau đó kéo mình ra giếng múc nước rửa chân tay, xong việc mới hỏi:

– Hôm nay những đứa nào trêu “nhà”?

– Bọn thằng Xước, thằng Quai làng Thị.

– Được rồi để mai tôi sẽ đến gặp ông đốc trường. – Chị Thơi bảo. – Chúng nó nói kệ nó, nói mãi mỏi mồm rồi cũng chán. “Nhà” còn bé không đánh lại được bọn làng Thị đâu. Chúng toàn con nhà giàu, mình dây vào chỉ thiệt thân.

– Thế chị bảo phải làm thế nào? – Mình vẫn còn ấm ức vì trận đòn, chỉ muốn ông nội dạy cho vài miếng võ để trị bọn kia.

– Nếu thế phải nghe tôi.

– Được, chị nói đi, miễn là trả thù được bọn chúng.

– Không phải việc trả thù. – Chị Thơi lắc đầu khẽ bảo – mà là nên xin với thầy chuyển về trường tỉnh. Học ở đấy tốt hơn mà lại cách biệt hẳn với bọn học trò cùng huyện. Hàng tháng tôi sẽ mang gạo và tiền sang.

– Chị nói phải đấy nhưng sợ rằng người ta không nhận.

Chị Thơi bảo:

– Tôi học vấn kém, mới chỉ biết đọc biết viết nhưng lại có ông anh họ có bằng thành chung đang giảng dạy ở trường tỉnh, tôi sẽ nhờ anh ấy xin cho. Với lại cả tỉnh chỉ có mấy trường công lập, học được như “nhà” bây giờ là hiếm lắm.

Nghe chị Thơi, mấy hôm sau mình đòi đi học trường tỉnh. Ban đầu ông bố không chịu, vì có mỗi mình là con trai, sợ thời buổi loạn lạc mất người nối dõi tông đường. Thế là mình phá ngang bảo rằng nếu không cho học trường tỉnh thì sẽ bỏ luôn, mặc kệ thầy đánh đòn, chết thì thôi. Cuối cùng cả nhà phải nhượng bộ. Vậy là mình được rời làng Thượng, yên tâm học tập vì ở đấy chẳng một ai biết được hoàn cảnh tức cười kia.

Trước khi đi mình bảo chị Thơi:

– Lên tỉnh tôi sẽ viết thư về cho anh Thuấn bảo anh ấy chờ chị mấy năm…

– “Nhà” đừng viết thư. – Chị Thơi xua tay nhếch môi nở nụ cười buồn. – Anh ấy là dân lực điền, có học bao giờ đâu mà đọc được thư.

– Ừ nhỉ. – Mình ngớ người ra một lúc rồi lẳng lặng gật đầu.

Từ đấy cứ đều đặn tháng một đôi lần chị Thơi mang tiền, gạo lên cho mình. Chị ấy đi bộ, cho mọi thứ vào quang thúng, mùa đông chẳng giày dép gì, gót chân bị nứt ra, rỉ máu trông tội lắm. Lần nào lên chị ấy cũng mua quà. Bà chủ nhà thấy chị chăm sóc mình chu đáo như thế cứ nghĩ là chị ruột. Dịp nghỉ hè năm ấy, việc đầu tiên là mình tìm gặp anh Thuấn kể rõ ngọn ngành. Nghe xong anh có vẻ bối rối. Thấy vậy mình bảo:

– Chị Thơi là người tốt đáng tuổi chị tôi, chỉ tại thầy mẹ tôi mà chị ấy phải khổ.

Anh Thuấn mặt lầm lầm  đầy vẻ nghi ngờ:

– Vậy khi nào thì cậu… giải phóng cho cô ấy?

Các cậu ạ, đây quả là câu hỏi rất khó trả lời đối với một thằng bé như mình, mà mình lại không muốn anh Thuấn hiểu sai, cuối cùng đành chọn được một giải pháp mà cho đến bây giờ mỗi khi nghĩ lại vẫn thấy tức cười:

– Việc này để em về hỏi… chị Thơi đã.

Tối đầu tiên khi ở trường tỉnh về,  lấy cớ là thời tiết nóng nực, nằm ở tấm phản gian ngoài, bà mẹ vốn sốt ruột vì chưa có cháu bồng, lôi phắt mình dậy, dắt tay ấn vào buồng nghiêm giọng ra lệnh:

– Này, đừng có giở chứng, bố mày mà nóng lên thì đừng trách.

Khi cửa buồng đã khép lại, tiếng chân mẹ mình xa dần chị Thơi mới thì thầm:

– “Nhà” lên giường nằm đi, để tôi trải chiếu dưới này.

– Không, chị ở trên ấy, tôi nằm dưới đất cho mát.

Nhưng chị không chịu. Thế là đành phải nhượng bộ. Và, các cậu biết không, suốt mấy năm, hè nào cũng như hè nào, mình và chị Thơi đều thực hiện cái chiến thuật xem ra có vẻ hạ sách ấy mà cả ông lẫn bố mẹ đều không phát hiện ra.

Anh chàng Đổng có vẻ rất khoái các tình tiết ly kì của câu chuyện, nghe đến đoạn này bỗng tỉnh như sáo hỏi chêm vào:

– Còn mùa đông, chẳng hạn những ngày nghỉ tết ấy anh chị dàn xếp thế nào? Hay là lúc ấy… nằm chung?

– Bậy nào! – Anh Thụ vừa cười vừa mắng  Đổng. – Khổ nỗi chỉ có một cái chăn mà trời rét như cắt da cắt thịt. Hai “vợ chồng” ngồi thu lu mỗi người một góc giường. Thấy mình buồn ngủ díp mắt chị ấy bảo:

– “Nhà” nằm xuống đắp chăn vào, tôi quấn mấy cái chiếu ngủ tạm. Hôm nào “nhà” đi tôi lại đắp chăn.

Mình thương chị ấy lắm, nhất định không chịu:

– Ngủ dưới đất mà không có chăn ngày mai sẽ ốm, chị cứ để tôi đắp chiếu, vẫn còn chiếc áo khoác ấm lắm.

– Không thể được, tôi bảo phải nghe vì “nhà” còn phải đi học.

Có lẽ bọn mình nói hơi to nên bà mẹ nằm gian ngoài nghe được liền nhắc nhẹ, giọng ngái ngủ:

– Khuya rồi, vợ chồng ngủ đi, có chuyện gì để mai.

Đêm ấy rét lắm. Nằm chăn bông mà còn run cầm cập huống hồ chỉ có hai tấm chiếu. Đợi một lúc, mình bật lửa châm vào ngọn đèn nhỏ dưới gầm hòm rồi lấy chiếc áo khoác rón rén lại gần đắp cho chị ấy.

– Em dám chắc lúc ấy chị Thơi chưa ngủ.

– Mình cũng có cảm giác như thế. – Anh Thụ thở dài. – Thật tội cho những người phụ nữ bị gả bán như chị Thơi. Mùa đông năm sau, mình đã có kinh nghiệm, mỗi lần về đều mang chiếc padesuy[2] bằng dạ đen dày, nặng đến bốn năm cân cho chị Thơi đắp. Chiếc áo này là của một ông ký nhà bank biếu vì mình đã kèm cặp thằng con ông ta đỗ vào trường Pháp Việt. Phải nói chiếc áo rất tiện lợi. Từ khi có nó, hai chúng mình đều không bị lạnh, ngủ được mà vẫn không phải nằm chung.

– Thế hệ các anh rắc rối quá. – Thiết cận buông lời phán. – Tại sao người ta cứ phải làm khổ nhau thế nhỉ? Bây giờ ấy à, không thương yêu nhau thì chia tay mỗi người một nơi, chẳng việc gì phải bày ra những chuyện nhiêu khê như vậy.

– Nếu thế thì còn nói làm gì. – Anh Thụ chép miệng bảo. – Sự đời có phải lúc nào cũng thẳng băng như các cậu nghĩ đâu.

– Rồi sau thế nào? – Phan hỏi. – Ý em muốn nói là lúc anh tốt nghiệp trung học ấy.

– Chẳng phải đợi đến khi học xong mà ngay sau khi Hiệp định đình chiến được ký kết, hoà bình lập lại mình đã về nhà tuyên bố trước toàn thể gia đình:

– Từ mai bố mẹ để cho chị Thơi về bên nhà.

Ông bố mình tức điên lên, quen thói gia trưởng rút ngay chiếc roi mây trên mái nhà xuống, trợn mắt quát:

– Mày có câm đi không! Tao cưới vợ cho mày có cưới cheo hẳn hoi thế mà mày lại…

– Thầy đánh thì con chịu nhưng cũng xin nói thật, nhà ta cưới chị Thơi về là để trừ nợ chứ đâu phải làm con dâu.

Bố mình chắc là uất lắm, mặt hầm hầm quát đến lạc cả giọng:

– Cho mày ăn học tốn bao nhiêu tiền của, giờ mày về cãi tao phải không?

– Đất nước độc lập rồi, mọi việc không còn như thời phong kiến đế quốc nữa. Giữa con và chị Thơi từ mấy năm nay chưa bao giờ là vợ chồng. Thầy cứ cố tình ngăn cản con sẽ đề nghị với chính quyền địa phương…

– Mày! Mày… láo!

Ông bố nghiến răng trèo trẹo, vung roi quất túi bụi vào vai, vào lưng, đau lắm nhưng mình không thèm tránh đòn. Giữa lúc ấy chị Thơi đi làm về, vội chạy đến chắp tay:

– Con xin thầy…

– Cút mẹ chúng mày đi! Đừng bao giờ bén mảng đến nhà tao nữa.

– Vậy là các cụ chịu chứ? – Phan hỏi.

– Chưa đâu. Phải lằng nhằng đến mấy tháng trời chị Thơi mới chính thức được về nhà. Ông bố mình ỷ thế họ lớn, nhiều người là chức sắc có thế lực trong tổng trong làng gây khó dễ, nhưng sau cũng xuôi. Cuối năm ấy chị Thơi lấy anh Thuấn. Hai người cưới nhau có đăng kí đàng hoàng, lúc mình học lớp chín thì họ đã có với nhau một thằng cu.

– Chừng ấy năm ở với chị Thơi anh không có cảm xúc gì à? – Anh chàng Thiết cận vốn giàu trí tưởng tượng tò mò hỏi.

Anh Thụ ngồi lặng đi một lúc rồi mới chép miệng bảo:

– Phải nói là đến lúc chia tay mình càng hiểu rõ chị ấy là một phụ nữ vừa đẹp vừa có lòng nhân hậu và sự chịu đựng, đức hy sinh đáng khâm phục. Mình không quá lời đâu. Chị ấy thánh thiện và bao dung đến mức nhiều khi mình xem như mẹ…

– Anh xử lý thế là phải lắm. – Thiết cận tán thưởng. – Chúng em phục sát đất đấy. Bây giờ, xin mời “bố già” kể cho đàn em nghe tiếp hồi hai, nghĩa là với… chị Yến ấy.

– Hồi hai thì đơn giản thôi không ly kỳ như hồi một. – Anh Thụ hóm hỉnh bảo. – Chúng mình yêu nhau thật sự. Khi ra trường, mình được phân công về Bộ Giao thông . Năm sau Yến học xong cũng ở lại Hà Nội. Cô ấy làm ở Nhà máy Xà phòng. Thế là hai đứa về quê xin phép gia đình tổ chức đám cưới. Giữa năm 1966 thì mình được điều động vào trong này.

– Anh chị đã có con chưa?

– Một thằng cu mới được tám tháng nhưng nghịch lắm. Mà thôi, chuyện mình nên dừng ở đây. Bây giờ đến lượt cậu Phan, lâu nay có tin tức gì về cô ấy không? Kể đi.

– Đã bốn tháng nay em không nhận được thư.

– Có thể công trường đã chuyển đi nơi khác. Các đơn vị làm đường bộ thường nay đây mai đó nên địa chỉ không cố định. – Anh Thụ bảo. – Nên viết thư hỏi thêm một vài người có địa chỉ chắc chắn xem sao.

– Em cũng nghĩ thế.

– Nào, Phan, bắt đầu đi. – Đổng giục.

– Được rồi, – Phan chần chừ một lúc rồi ngập ngừng. – Cô ấy hơn mình hai tuổi…

Cuộc kể chuyện tình yêu của mấy anh em gần hết cả ngày hôm sau vẫn không thấy Ngoạn và San mang lương thực về. Lần đầu tiên cánh khảo sát bị đói dài ngày trong rừng. Anh em chia nhau đi bắt cua đá và hái rau. Rau mùa này rất hiếm nhưng cua đá lại nhiều. Chỉ cần tìm vào các khe ẩm ướt dọc bờ suối, lật đá lên là có thể tóm được hàng chục con cỡ lòng bàn tay đem về nấu với lá chua ăn cũng khá ngon. Nhưng lần này thì khác, vì hết gạo nên Đổng đề xuất ý kiến cua nướng chấm bột canh. Kiểu ăn này lúc đầu ai cũng khoái, tuy nhiên, sau một vài bữa không có hơi cơm, anh nào anh ấy xót ruột, người rạc đi, trông toàn thấy mắt là mắt. Phải đến ngày thứ năm kể từ lúc được cử về Trạm 5B, các ông bạn Ngoạn, San mới trở lại với hai ba lô gạo. Thì ra mấy hôm vừa rồi trên thượng nguồn mưa lớn, nước lũ dồn về, hai người phải ăn chực nằm chờ mấy ngày, đợi nước rút mới qua được. Đến ki lô mét 15+452, anh Thụ bảo cả nhóm:

– Tạm thời hạ trại tại đây. Cậu Ngoạn nấu cơm. Cậu San kiếm cua đá, còn chúng ta đi xác định cao điểm 684 trên thực địa. Hôm nay coi như anh em mình hoàn thành giai đoạn một. Ngày mai ta sẽ phát triển tuyến về hướng Kà Tun.

– Khoảng cách từ đỉnh đèo Măng đến Kà Tun chỉ có mười bảy ki lô mét thôi. – Phan chỉ vào một vệt xanh mờ trên bản đồ, nhìn anh Thụ dò hỏi. – Anh nhìn địa hình ở đây xem, em ngờ chúng ta đi sai đường rồi nên độ cao càng ngày càng giảm dần.

Anh Thụ chột dạ, cầm tờ bản đồ xem đi xem lại mãi rồi trèo lên một cây cao quan sát, một lúc sau  tụt xuống buông sõng một câu làm cả bọn choáng váng:

– Cơ tuyến đã bị chệch  khoảng 13 độ.

– Chết cha! – Đổng quay lại phía Thiết cận. – Cậu là cán bộ kỹ thuật, mắt mũi để đâu mà không biết dùng địa bàn định hướng? Kiểu này thì toi rồi.

– Thôi đừng trách cậu ấy nữa. – Anh Thụ bảo. – Cũng là tại mình chủ quan, đáng lẽ hàng ngày kiểm tra lại toạ độ thì không đến nỗi. Bây giờ ta phải bình tĩnh, thận trọng rút thật nhanh, tránh gây tiếng động.

Nhưng sự việc lại diễn ra ngoài dự định của đội trưởng. Vì không biết nơi đây kề ngay căn cứ dã chiến của một tiểu đoàn biệt kích, Ngoạn và San nổi lửa nấu cơm để khói bay lên. Đối phương phát hiện được, bí mật cho lính bao vây. Hai ông nhà bếp chủ quan, chưa kịp sờ đến súng đã bị tóm. Khi sắp đến lán. Phan là người đầu tiên linh cảm thấy điều chẳng lành, rỉ tai Thụ:

– Hình như ở trại có chuyện gì…

Anh Thụ gật đầu nhắc khẽ:

– Các cậu phải bình tĩnh, có lệnh của mình mới được hành động.

Đi được chừng hơn trăm bước, cả bọn định rẽ xuống đoạn suối cạn trước khi leo lên vạt rừng săng lẻ chợt có tiếng quát:

– Việt Cộng!  giơ tay lên! Chạy là bắn bỏ.

– Nằm xuống, bắn! – Thụ vừa hô khẽ vừa xiết cò khẩu AK báng gấp lia một đường vòng cung hất ngửa mấy lính rằn ri đứng gần nhất. Tiếng súng của anh Biên, cậu Đổng nổ rất đanh. Họ vừa bắn kiềm chế, vừa yểm hộ cho Thụ và Phan chạy sang sườn núi bên kia. Riêng Thiết, để rơi mất kính thành ra lúng túng chưa bắn được phát nào đã xách súng chạy. Bọn biệt kích biết lực lượng của ta ít, chúng lại đông nên kiên quyết bắt sống. Viên sĩ quan rằn ri mồm đầy răng vàng, ghếch một chân lên chạc cây chĩa chiếc loa điện về phía trước nói bằng giọng Bắc vùng Nghệ Tĩnh:

– Hỡi anh em cán binh Cộng sản! Tôi biết anh em chỉ có vài người, không chống lại được sức mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đâu. Tôi khuyên anh em hãy buông vũ khí, về với chính nghĩa quốc gia sẽ được hưởng lượng khoan hồng.

– Khoan hồng này! – Anh Biên đang nấp ở cạnh lèn đá cách đấy chưa đầy một tầm súng liền nhắm hắn kéo cò. Viên đạn căng đập vào miệng loa đến chát một cái làm viên sỹ quan hoảng hồn, chửi tục:

– Đù mẹ! Tiến lên anh em, quyết bắt sống Việt Cộng về lãnh thưởng.

Cuộc quần nhau kéo dài khá lâu. Bọn biệt kích bắn như vãi đạn. Không ít những thằng sợ bóng sợ vía cứ choãi nòng khẩu AR15 ra đằng trước mà xiết cò, chẳng biết địch thủ có ở hướng ấy hay không. Bên ta đạn ít, chỉ bắn cầm chừng rồi tìm cách rút khỏi vòng vây. Giữa lúc nguy khốn thì Thiết cận lại trúng đạn. Phan bò lại, nhấc khẩu AK khoác lên vai, xốc nách kéo Thiết đi. Được một lúc, anh Biên lại, đặt tay lên ngực cậu ta, lắc đầu:

– Cậu ấy chết rồi.

– Làm thế nào đây anh?

– Phải giấu tạm vào bụi cây kia rồi báo cho anh Thụ.

– Ta nên đưa cậu ấy ra, để đây tội lắm anh Biên ạ.

– Trước mắt, lúc này phải thoát khỏi vòng vây bảo vệ an toàn lực lượng. Các cậu cứ nấn ná là chết cả lũ. Nghe thấy chưa? Tiếng AK của anh Thụ.

– Chết thật, trong ấy còn thằng San, thằng Ngoạn.

– Làm sao bọn nó không nổ súng báo cho anh em mình nhỉ?

– Có thể hai thằng bị “vồ” bất ngờ không xoay sở kịp.

– Em sắp hết đạn rồi. – Phan thì thầm. – May mà còn khẩu súng của Thiết.

– Hình như… anh Thụ…

– Vừa nãy vẫn còn nghe tiếng súng kia mà.

Có tiếng máy bay rất gần. Hai anh em vừa kịp tản ra để tìm đội trưởng thì ba chiếc HUIA đã phành phạch trên đầu. Cánh quạt chém gió làm cây cối ở đoạn rừng thưa dạt hẳn ra. Từ trên chiếc máy bay sơn cờ hiệu Mỹ và ngôi sao trắng, một giọng nữ uốn éo phát ra qua chiếc loa điện công suất lớn:

– Các anh cán binh Cộng sản thân mến! Các anh đừng tự huỷ hoại đời mình cho mục đích đen tối của các nhà lãnh đạo Bắc Việt. Hãy quay súng về với chánh nghĩa quốc gia, các anh sẽ được hưởng nhiều quyền lợi.

Từ sườn núi bên kia lại có tiếng AK điểm xạ. “Anh Thụ vẫn còn sống”, Phan nghĩ vậy và rê nòng súng lùi dần về phía sau để tránh luồng đạn bắn chính diện từ đám rằn ri rất đông trên sườn đèo Yên Ngựa. Lùi được một đoạn, Phan chợt lặng người. Anh Biên nằm phủ phục cạnh một đống mối, hai ống quần rách tướp, ở lưng áo bê bết máu. Khẩu AK hết đạn vứt sõng sượt một bên. Phan khẽ nâng anh Biên lên nhưng anh đã yếu lắm, chỉ phều phào được mấy tiếng:

– Anh Thụ…

– Anh Biên! – Phan vừa lay vừa gọi nhưng anh đã tắt thở, đầu ngật sang một bên.

Chiếc trực thăng sơn cờ Mỹ bay vù vù trên đầu. Giọng con bé tâm lý chiến vẫn nheo nhéo:

– Đồng đội của anh tử nạn hết rồi. Anh nên hạ súng quy hàng để tránh cái chết thảm khốc.

– Hàng này! – Phan vừa nói vừa nâng mũi súng nhằm bụng chiếc máy bay bóp cò. Nhưng chỉ nghe đến cạch một cái. Khẩu AK đã hết đạn. Bọn biệt kích biết anh không còn thứ vũ khí nào khác, chúng hò nhau xông vào dùng báng súng nện  túi bụi . Đến lúc ấy Phan mới biết mình bị thương vào khuỷu tay.

Về đến căn cứ “Rắn Lục” của địch Phan được biết thêm, Thụ trúng đạn gãy xương đùi bị hốt lên trực thăng. Ngoạn và San lần đầu tiên gặp địch, tuy bị bắt nhưng đã mưu trí lừa lúc chúng sơ hở, cướp súng bắn chết mấy tên rằn ri, sau đó luồn rừng chạy thoát. Riêng cậu Đổng chẳng biết sống chết ra sao, không có tin tức gì. Ngay chiều hôm ấy, viên trung tá nói giọng Quảng Trị dáng dấp có vẻ trí thức vào trạm quân y. Chúng giam riêng mỗi người một nơi để anh em không liên lạc được với nhau đồng thời dễ phát hiện mâu thuẫn khi khai thác thông tin. Cũng may, cục trưởng đã dự kiến trường hợp bất trắc, trước khi lên đường mọi người đã được học tập phương án bảo mật. Tay trung tá xem xét vết thương của Phan rồi nhẹ nhàng bảo:

– Vết thương của anh chỉ vào phần mềm, độ một tuần là khỏi. Bây giờ tôi muốn hỏi mấy điều. Thứ nhất, các anh ở đơn vị nào? Thứ hai, các anh đến khu vực này với mục đích gì? Tôi có lời khuyên, anh nên khai thật. Chánh phủ quốc gia sẽ căn cứ vào mức độ thành khẩn để mở lượng khoan hồng.

Phan bình tĩnh nhìn viên trung tá mục đích kéo dài thời gian để tìm câu trả lời. Hắn khoảng trên dưới bốn mươi, mang kính gọng vàng, khá điển trai, giọng nói ấm, có sức truyền cảm. “Tay này chắc thuộc loại tâm lý chiến có học hành hẳn hoi đây”. Nghĩ vậy anh thản nhiên trả lời:

– Chúng tôi là lính công binh thuộc E276 được cử đi lấy gạo cho đơn vị nhưng không thuộc đường nên bị lạc vào căn cứ các ông.

– Binh trạm 276 hiện giờ ở đâu?

Phan xoay người dựa cánh tay quấn băng lên chồng gối nhìn viên trung tá làm bộ ngạc nhiên:

– Ông bảo là chỉ hỏi hai câu. Tôi đã trả lời rồi…

– Này anh bạn. – Viên sĩ quan hất hàm bảo. – Ở đây chỉ có tôi mới là người đặt câu hỏi. Anh coi chúng tôi là thứ gì mà lại phịa ra cái phiên hiệu 276 trong thực tế nó không hề tồn tại?

– Chúng tôi là lính mới vào chẳng biết mô tê gì. Phiên hiệu ấy là do cấp trên đặt ra. Ông không tin hãy cho thám báo đi mà điều tra, việc gì phải vặn vẹo.

– Anh cũng có vẻ lắm lý sự đấy. – Gã trung tá cười nhạt. – Nhưng tôi không thích đùa. Nói đi. Các anh thuộc binh đoàn 559 đang chuẩn bị kế hoạch mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh phải không?

– Ông nhầm đấy. – Phan bỗng chột dạ thầm nghĩ: “Thì ra hắn biết nhiều hơn mình tưởng”. – Đã bảo chúng tôi là lính làm đường của E276 được cử đi lấy lương thực cho anh em.

Viên sĩ quan tâm lý thuộc loại có bản lĩnh. Nghe chàng “Việt cộng” trẻ măng trả lời đầy vẻ khiêu khích như thế mà hắn vẫn bình tĩnh, thậm chí còn nhoẻn miệng cười phô ra hàm răng trắng bóng:

– Đi lấy gạo mà cần đến những thứ này kể cũng lạ.

Hắn vừa nói vừa rút từ trong cặp ra tấm bản đồ quân sự, chiếc địa bàn và một cuộn giấy ghi các số liệu thăm dò của tổ khảo sát.

– Thế nào? Nhận ra rồi chứ?

– Ông nói gì tôi không hiểu.

– Rồi sẽ hiểu ngay thôi anh bạn ạ, khi người ta cho anh vào xà lim nếm thử những kỹ thuật tân tiến của nền văn minh Hoa Kỳ. Tôi sẽ chờ mấy hôm nữa, đợi cho tay anh khỏi rồi ta lại gặp nhau.

Hắn nhét những thứ đã lôi ra vào cặp đứng dậy, đến cửa như chợt nhớ ra điều gì lại quay vào bảo:

– Tôi quên chưa nói với anh. Ông bạn của anh đã viết bản tường trình toàn bộ sự việc. Anh nên thành thật thì hơn.

“Như thế tức là anh Thụ cũng không khai. – Phan thầm nghĩ. – Thằng này giấu đầu hở đuôi. Nếu anh ấy đã nói ra thì việc gì hắn còn phải chơi trò mèo vờn chuột với mình”. Nói vậy nhưng ngay chiều hôm ấy, viên trung tá đã cho lính đến trạm quân y điệu Phan xuống nhà giam. Lần này gã sĩ quan tâm lí chiến vẫn tỏ ra rất lịch sự. Hắn làm ra vẻ chán đời không hào hứng lắm với chuyện bắn giết lẫn nhau giữa giữa những người anh em cùng máu dỏ da vàng.

– Nói thật, tôi cũng có vợ con, gia đình, tôi ngán cuộc chiến nồi da xáo thịt này lắm rồi. Nhưng ngặt nỗi mình là thằng lính, ăn lương Chánh phủ Quốc gia nên không thể trái lệnh. Trước đây tôi vốn là sinh viên Luật khoa chứ có ưa gì nghề bóp cò súng. Vậy mà, đùng một cái, thời thế thay đổi phải vô quân trường Đà Lạt. Tôi phục các anh chiến đấu ngoan cường nhưng hình như có sự lầm lẫn nào đó trong lý tưởng phụng sự.

– Ông nói những thứ đó với tôi để làm gì?

– Để anh hiểu cho và giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ một vài điều nho nhỏ như là anh ở trung đoàn nào, sư đoàn nào, hiện nay họ đóng ở đâu và nhiệm vụ chính là gì? Thế thôi. Tất nhiên những thông tin ấy chúng tôi đã có, nhưng muốn anh tự nói ra để giảm nhẹ hình phạt.

– Nếu tôi không nói những “điều nho nhỏ” mà các ông đã biết ấy thì sao?

– Không nên cố chấp. Đời người ngắn lắm anh bạn trẻ ạ. Hơn nữa, ông bạn của anh đã khai hết nội vụ với tôi. Theo tôi được biết thì anh ta là chỉ huy của các anh?

– Không. – Phan chối phắt. – Chỉ huy là anh Biên đã bị lính của ông bắn chết.

– Cấp bậc anh ta là gì?

– Hạ sỹ, tiểu đội trưởng.

– Anh nói lạ. Làm gì có chuyện chỉ huy một nhóm trinh sát đã từng hạ gục của Quân lực Việt Nam Cộng hoà tám mạng người mà chỉ là anh hạ sỹ quèn. Hơn nữa, nhiệm vụ chủ yếu của các anh là tìm đường.

– Không cứ là sỹ quan hay hạ sỹ quan mà ngay cả người lính bình thường của chúng tôi, khi cần vẫn sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch. Cái khác nhau giữa người lính chính nghĩa với quân đội đánh thuê của các ông là ở chỗ đó.

– Được lắm. – Viên trung tá gật gù. – Có nghĩa là anh vẫn cố tình không nói sự thật?

– Không có gì để nói thì đúng hơn. – Phan nhếch mép liếc gã sỹ quan, thong thả nhắc lại. – Tất cả những gì biết được tôi đã khai báo. Còn sau đó, các ông có đem xử bắn cũng vậy thôi.

Lần này xem ra tên sỹ quan tâm lý chiến đã hết kiên nhẫn. Hắn mím môi trầm ngâm cố gắng để khỏi lộ ra sự mất bình tĩnh:

– Vậy thì ngày mai ta sẽ nói chuyện với nhau theo kiểu khác.

Hắn vừa bước ra, tên lính gác đóng sập cánh cửa bọc thép sơn xanh nặng trịch. Chiếc chốt sắt lùa vào vòng khuy rít lên nghe đến rợn người.

Đêm ấy, nằm trong phòng giam, Phan mới có đủ thời gian bình tĩnh nghĩ về hoàn cảnh của mình. Anh không ngờ, chỉ một thời gian ngắn chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, ba người bạn đã hi sinh. Đây là trận chạm địch thứ hai của anh. Lần trước, hồi giữa năm tuy chỉ là mấy tên thám báo nhưng lúc ấy Phan hoảng sợ thực sự. Lần đầu nhìn thấy bọn lính rằn ri bằng xương bằng thịt, anh run bắn, trong lòng thoáng nghĩ đến cái chết. Trong khoảnh khắc anh cảm thấy sự vô nghĩa của kiếp người trong cõi nhân gian… Nhưng bây giờ thì khác hẳn. Anh không phải là lính chiến đấu vậy mà đã cùng đồng đội chiến đấu một trận ra trò. Tám tên địch bị tử thương, trong số ấy có một viên trung uý. Đó là chiến công không nhỏ và tuy bị rơi vào nanh vuốt của chúng, anh vẫn thấy trong lòng đầy phấn chấn. Nghĩ lan man mãi, lúc Phan vừa chợp mắt một lúc, hình ảnh Sa với đôi tay búp măng và bàn chân tật nguyền bất giác hiện ra rõ mồn một như là cô đang ở bên anh trong rừng doi đêm cuối cùng lúc hai người giã biệt. Một câu hỏi cứ canh cánh bên lòng, đeo đuổi suốt chặng đường hành quân từ Bắc vào Nam, là vì sao Sa không tiếc thân mình, lao vào cứu anh lúc khối đất đổ sập xuống? Vì sao trước đây Sa chủ động đến với anh rồi lại từ chối anh lời hẹn ước? Phải chăng đó là tình yêu đau đớn của một người phụ nữ giàu lòng nhân ái, vị tha như một nữ thánh? Bây giờ Sa ở đâu? Còn ở đất Cao Bằng hay đã phiêu dạt tận chân trời góc bể nào? Có một điều lạ là, ngay lúc này, những nỗi nhọc nhằn của tuổi thơ cũng như bóng dáng người thân trong gia đình có vẻ mờ nhạt, tựa như chúng chỉ là những mảnh vụn thời gian, bám hờ vào ký ức, chỉ cần lắc nhẹ là rơi rụng hết. Cái còn lại vĩnh viễn vẫn là hình ảnh người con gái đã hơn một lần trao cuộc đời cho anh với tất cả niềm đam mê thánh thiện và nỗi đau khổ đến tột cùng của số phận.

Suốt cả ngày hôm sau, Phan luôn ở trong trạng thái chờ đợi căng thẳng xem viên sỹ quan tâm lý chiến tiếp tục giở những trò gì. Rõ ràng hắn là một tên cáo già có thừa kinh nghiệm trong nghệ thuật thẩm vấn tù binh. Sở dĩ hắn chưa dùng đến những biện pháp cứng rắn là vì thấy Phan còn quá trẻ, mà tuổi trẻ thường ham sống sợ chết, dễ lung lạc tinh thần hơn những người từng trải. Nghĩ đến cái chết, Phan thoáng rùng mình. Phải thú nhận rằng anh không muốn chết, dù cuộc sống có khốn khổ đến bao nhiêu đi nữa. Gã trung tá nói đúng, mới ngoài hai mươi tuổi, chưa làm được gì cho gia đình và bản thân mà đã vội ra đi thì tiếc quá.

Mãi đến nửa đêm Phan mới nghe tiếng mở cửa. Một đại uý cùng ba lính rằn ri ào vào như một cơn lốc vồ lấy anh như cọp vồ mồi. Chúng không hề mở miệng mà im lặng như những thằng câm liên tiếp ra đòn. Lúc đầu Phan còn đứng vững được sau mỗi cú đấm, nhưng đến khi tên đại uý dùng thứ dụng cụ tra tấn giống như dùi cui cảnh sát quật mạnh vào ngực, vào lưng và hai bả vai thì anh hoàn toàn bị choáng, không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy anh thấy toàn thân ướt sũng. Chắc là chúng dội nước. Đợi cho anh mở mắt, gã đại uý bấy giờ mới hất hàm hỏi bằng thứ giọng khê nồng:

– Nào, ta bắt đầu chứ? Họ tên?

– Nguyễn Văn Chiến. – Phan nói một cái tên giả giống như mấy hôm trước đã khai với với viên trung tá.

– Ở đơn vị nào?

– E276.

– Nói láo! – Hắn vừa quát vừa đạp mũi giày vào bụng làm Phan oằn người như con giun bị xéo. – Cho nói lại.

– Chúng tôi ở E276 thật mà, không tin ông cứ hỏi anh Thúc (bí danh của anh Thụ) là người cùng bị bắt với tôi.

– Biết thế. – Gã đại uý sốt ruột bảo. – Vậy E276 của mày đóng ở đâu?

– Ở ngã ba Chư Răng.

– Mày định lừa chúng tao đấy hả? Chỗ ấy là một bản của người Vân Kiều gần với đường 12D thuộc chi khu 7, Việt cộng làm sao đột nhập được vào mà đóng quân?

– Có thể là khi biết chúng tôi bị bắt họ đã chuyển đi nơi khác.

– Mày thuộc loại có bản lĩnh đấy nhưng không lỳ lợm được mãi đâu. – Tên sỹ quan biệt kích cười gằn. – Chắc chúng mày đã bàn nhau từ trước nên cả hai thằng mới phịa ra cái phiên hiệu E276 để lừa chúng tao phải không?

– Từ khi rơi vào tay các ông, mỗi người chúng tôi bị giam một nơi, làm sao mà bàn với nhau được để thống nhất lời khai?

– Nói thật đi nếu mày không muốn chết. – Gã đại uý gầm gừ gí khẩu súng ngắn vào dưới cằm Phan. – Tao đếm đến ba mày phải khai thật phiên hiệu đơn vị, nơi trú quân và nhiệm vụ cụ thể trong thời gian tới. Mày mà cứ bướng là toi đời đấy con ạ. Nào, một…

Tiếng đếm của viên sĩ quan nghe lạnh tanh, rùng rợn như lời phán quyết của thần chết. Tên đại uý vừa buông sõng tiếng “ba” thì Phan ngẩng đầu nhìn thẳng vào cặp mắt đỏ nọc của hắn thách thức:

– Ông chưa dám bắn tôi đâu vì phía sau ông còn ngài trung tá tâm lý chiến.

– Thằng cuồng tín! – Gã hậm hực chửi rồi bất ngờ co chân tống mạnh vào ngực Phan làm anh hộc lên bật ngửa ra phía sau.

Sau cú đòn hiểm ấy Phan ngất đi rất lâu. Gần sáng, khi tỉnh lại anh thấy một tù nhân với thân hình dúm dó nằm co quắp bên cạnh, phải một lúc sau mới nhận ra anh Thụ. Chắc là trong quá trình thẩm vấn, chúng đã dùng cực hình nhưng không khai thác được gì nên cuối cùng đã tống anh vào phòng giam chung với Phan. Trong vòng một tuần tiếp theo, cứ mỗi ngày một lần, hai anh em lại bị tên đại uý lôi ra tra tấn. Anh Thụ sức yếu, lại bị gãy xương đùi, có những lúc bị đánh đau quá tưởng chết. Phan không thể tính được từ lúc bị bắt đến giờ đã bao nhiêu ngày. Anh đã mất hết khái niệm về thời gian. Mọi thứ chung quanh lúc nào cũng là một khối hỗn độn. Ngay cả dòng suy nghĩ của anh giờ đây cũng thiếu mạch lạc. Đầu óc luôn trong trạng thái bùng nhùng thậm chí có lúc còn như mất cả ý thức, không biết mình còn sống hay đã chết. Cuối cùng, viên sĩ quan tâm lý chiến lại xuất hiện. Vẫn với thái độ lịch sự quá đáng, hắn thông báo một tin làm Phan lạnh gáy:

– Tuần sau các anh sẽ ra Toà án binh…

Gã trung tá nói nửa chừng rồi bất chợt ngừng lại đưa cặp mắt sắc lạnh soi mói thăm dò phản ứng. Phan cố nén sự hồi hộp, làm ra vẻ lời tuyên bố của hắn chẳng mấy ảnh hưởng đến thái độ của mình:

– Chắc là xử bắn.

Hắn nheo mắt cười:

– Biết làm thế nào được, chúng ta mỗi người một chiến tuyến mà. Luật pháp thời chiến cần phải nghiêm minh. Tiếc là các anh còn trẻ mà lại cố chấp. Cho đến lúc này tôi cũng chẳng giấu nữa. Toàn bộ khẩu cung của các anh đều láo toét chẳng có giá trị gì. Tuy nhiên anh bạn Đổng tỏ ra biết điều hơn, đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin cần thiết. Anh ta bị thương vào ngực cạnh cây săng lẻ cụt, đại uý Luật đã đưa lên trực thăng về bệnh viện thành phố chữa chạy, chỉ vài hôm nữa sẽ  ra viện.

– Tôi phải hiểu lời ông thế nào đây? Chuyện này cũng giống như việc anh Thúc “đã khai toàn bộ sự thực” như ngón đòn tâm lý cách đây một tuần phải không?

– Anh Đổng thông minh hơn các anh nhiều. – Gã sĩ quan kéo dài giọng châm chọc. – Qua anh ta, cái người mà anh gọi là Thúc ấy thật ra là trung uý kỹ sư Thụ đội trưởng khảo sát. Còn anh là Trần Phan chứ đâu phải Nguyễn Văn Chiến như đã khai với đại uý Tòng. Cuối cùng cái phiên hiệu 276 cũng chỉ là một binh trạm ma. Các anh thuộc lực lượng kỹ thuật của Cục tham mưu, binh đoàn 559 đang có nhiệm vụ thăm dò mở thêm các tuyến vận tải trong hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh có đúng không?

– Như vậy là các ông tin lời một kẻ phản bội?

– Chúng tôi có cả một bộ máy khổng lồ phân tích các thông tin hàng ngày thu lượm được để phục vụ cho kế hoạch tác chiến. – Hắn nhìn lướt về phía anh Thụ đang sốt mê man trên nền xi măng góc nhà nói tiếp. – Với tư cách người lính, tôi khâm phục cái gọi là “phẩm chất cách mạng” của các anh, nhưng với tư cách công dân của Việt Nam Cộng hoà, tôi coi các anh là những kẻ cuồng tín giống như những con chiên đạo Cơ đốc thời Neron của đế chế Roma đầu Công nguyên.

                                                            *

Không phải một tuần mà mãi nửa tháng, sau khi sức khoẻ của anh Thụ và Phan tạm ổn chúng mới cho lên xe bịt bùng chở đi đâu không rõ. Cuối cùng, sau gần trọn một ngày, vào lúc sẩm tối, xe đến một trại giam chung quanh tường xây cao như một pháo đài giữa cánh rừng già toàn những cây sao trắng mọc chen lẫn săng lẻ cổ thụ. Bọn lính áp giải hai anh em vào một ngôi nhà lợp tôn được ngăn thành từng gian tối om. Đến lúc này thì Phan hiểu, có thể chúng không đưa anh ra Toà án binh mà tống ngay vào nhà tù, nơi giam giữ các chiến sĩ của ta bị bắt trong các trận đánh.

[1]  Clisimetres là loại thước đo có ống ngắm dùng trong giai đoạn thăm dò khảo sát đường bộ.

[2] Áo khoác bằng dạ của Pháp.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.