Đinh Thanh Huyền
“Thuyền nhân” là một trong những từ khóa nhạy cảm nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại từ sau năm 1975. Đây là từ dùng để chỉ những người rời Việt Nam bằng đường biển trên những con thuyền nhỏ, vượt qua nhiều hiểm nguy để tìm nơi định cư mới tại Hoa Kì, Canada, Australia và nhiều nước khác. Nguyên nhân của làn sóng ra đi này khá phức tạp, bao gồm sự thay đổi thể chế chính trị ở Miền Nam, khó khăn kinh tế sau chiến tranh, tâm lí lo ngại về tương lai và việc một số người dân Miền Nam không thể hòa nhập với chế độ mới. (Giai đoạn 1978 – 1979 khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc căng thẳng, một bộ phận lớn người gốc Hoa tại Việt Nam cũng rời đi, trong đó nhiều người vượt biển và được xếp vào dòng thuyền nhân). Hành trình của họ vô cùng gian nan. Nhiều người phải đối mặt với bão tố, đói khát, cướp biển, tai nạn chìm tàu và mất mát người thân. Hành trình này để lại những vết thương sâu sắc như chia li gia đình, sang chấn tâm lí và những khác biệt trong cách nhìn nhận lịch sử giữa các thế hệ, các cộng đồng trong và ngoài nước kéo dài đến tận ngày nay. Hai chữ “thuyền nhân” đến nay vẫn làm nhói lòng người Việt cả trong và ngoài nước, như một vết đau chưa lành hẳn. Bởi vậy, chạm vào vết đau đó là một việc không thể bất cẩn, kể cả đối với người trong cuộc. Từ góc nhìn này, tôi đã đọc “Thuyền” – tiểu thuyết của Nguyễn Đức Tùng và có những băn khoăn riêng.
Câu chuyện trong “Thuyền” được kể từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” – một thuyền nhân. Cả cuốn tiểu thuyết là dòng hồi cố về hành trình vượt biên của nhân vật “tôi”, từ lúc trốn khỏi Việt Nam, những ngày lênh đênh trên biển, những ngày sống trong trại tị nạn ở Thái Lan, cuối cùng là quãng đời mới ở nước ngoài. Trên mỗi chặng của hành trình vượt biên, nhân vật “tôi” đã chịu đựng quá nhiều, quá đủ cho cuộc đời một con người. Một hành trình địa ngục khiến cho “tôi” sang chấn tâm lí mãi mãi. Và “tôi” kể về điều đó. Dòng hồi cố dẫn người đọc đi sâu vào mạng lưới tâm lí, suy tư của nhân vật chính. Đây chính là điểm mạnh của Nguyễn Đức Tùng, một người viết tiểu thuyết có tư duy thơ. Ông đã diễn tả dòng ý thức, tâm trạng của nhân vật bằng lối văn giàu chất trữ tình, vừa tinh tế vừa lắt léo, bằng cấu trúc tự sự hiện đại, nhiều tầng bậc, nhiều lớp lang đan xen khá nhuần nhuyễn.
Nhưng đọc “Thuyền”, tôi nhận ra ngay lập tức: tiểu thuyết này thiếu một yếu tố rất quan trọng, khiến cho cả tác phẩm chơi vơi như viên đá nhào lộn trong chân không. Cái thiếu đó là: bối cảnh lịch sử.
Vì sao một người trở thành “thuyền nhân”? Có phải ai vượt biển cũng được gọi là “thuyền nhân” không? Chúng ta đều biết, sự thật, hai chữ “thuyền nhân” chỉ được dùng để chỉ những người bỏ trốn khỏi Việt Nam sau năm 1975 bằng đường biển. Vì thế, tư cách “thuyền nhân” buộc phải gắn với nguyên nhân lịch sử. Không có cách nào khác. Lựa chọn của “thuyền nhân” là vấn đề sinh tử. Họ chấp nhận đánh cược mạng sống của mình để tìm đến một miền đất khác. Mục đích ra đi của họ trước hết là từ bỏ, sau mới là tìm kiếm. Vì thế, hành trình của “thuyền nhân” là hành trình rất ít hi vọng, rất nhiều bất trắc, đau đớn, là hành trình của những người không còn điểm tựa tinh thần nơi quê hương. “Thuyền nhân” rời bỏ đất nước với tư thế đầy tuyệt vọng và tâm thế đầy bi kịch. Tất cả những điều ấy đều liên quan trực tiếp đến bối cảnh lịch sử. Một khi tách ra khỏi lịch sử, “thuyền nhân” có thể bị biến thành biểu tượng hiện sinh (con người trên biển, hành trình tìm tự do, đối diện sống chết). Khi ấy, “thuyền nhân” vẫn là một nhân vật văn học, nhưng là loại nhân vật “không căn cước”, chẳng dính dáng gì đến nội hàm của khái niệm “thuyền nhân” vốn đã được xã hội nhận thức khá chính xác, đầy đủ. Vấn đề này có tính hai mặt. Việc bỏ bối cảnh giúp “Thuyền” thoát khỏi sự ràng buộc chính trị và đạt được tính phổ quát, biểu tượng. Nhưng sự bỏ qua này khiến “thuyền nhân” mất tư cách gốc, nó chỉ có thể trở thành một ẩn dụ lơ lửng.
Đọc tiểu thuyết “Thuyền”, tôi nhận thấy không có chỗ nào nhà văn chỉ đích danh lí do ra đi của nhân vật. Nguyên nhân lịch sử chỉ xuất hiện như bóng mờ, không bao giờ được định vị rõ. Những chi tiết gợi đến lịch sử (trại cải tạo, cải tạo công thương nghiệp, người bị truy đuổi…) xuất hiện chớp nhoáng, không hề được giải thích. Tất cả chỉ dừng ở những câu chữ rất mơ hồ như nhưng năm ấy, mọi người hỏi: có đi được không?/ Giấc mơ của tôi, giấc mơ của Liên Hương, ý tưởng của cha tôi, ý tưởng của mẹ nàng. Ánh mắt nghi ngờ của người tổ trưởng dân phố, sự bế tắc của xã hội, giọng nói thuyết phục của người chủ thuyền trong ngõ hẻm (Thầy bói). Ngay cả một câu hiếm hoi bộc lộ nỗi bức bối: Chúng tôi muốn chấm dứt. Không ai muốn sống quá lâu những ngày bị săn đuổi, những đêm nhợt nhạt mất ngủ cũng mơ hồ, có thể đúng với bất cứ lí do gì. Khi chuyến đi đầu tiên thất bại, “tôi” và Liên Hương chạy trốn, những người truy đuổi cũng chỉ được mô tả không kém mơ hồ: những người đuổi theo đã bám sát, tôi dìu Liên Hương chạy. Những người đuổi bắt có sức mạnh, có súng, họ chỉ có khuyết điểm: chúng tôi đông quá, mỗi người lại chạy một hướng. Trước sau không có dòng nào, chữ nào chỉ ra họ đang chạy trốn ai. Những câu văn này đọc rất ức chế vì cái cách mà nhà văn nhất định không gọi đúng ai là người truy đuổi. Chi tiết rõ rệt nhất về người ở phía cách mạng là cô dân quân đeo súng AK, người đã bắt rồi thả “tôi” đi. Chân dung đẹp đẽ, nhân hậu ấy có vẻ làm dịu đi đoạn văn trước đó, khi “tôi” nhắc đến “bạo lực”, “bị bắt”, “tra tấn” nhưng ý nghĩa của những từ ngữ ấy chìm nghỉm trong một đoạn triết lí dài về bạo lực nói chung chứ không phải thứ bạo lực cụ thể, mang tính chính trị khiến người ta chọn làm “thuyền nhân”.
Có thể nói, lối viết trong “Thuyền” là một phương pháp né tránh bối cảnh lịch sử nhưng không xóa sạch mà để lại vết tích mờ, rồi bù đắp bằng biểu tượng hiện sinh (biển, thuyền, bến, lửa, búp bê, ngón tay,…) để lấp đi khoảng trống lịch sử. Tuy nhiên, chính những vết tích mờ đó lại chứng tỏ rằng “Thuyền” dù né tránh nhưng không dứt được khỏi lịch sử, cái im lặng lại trở thành “chứng cứ” của sự cố ý bỏ trống. Tôi giả định rằng đây là chiến lược thẩm mĩ của “Thuyền” nhằm nhấn mạnh tính phổ quát của trải nghiệm vượt biên: nỗi sợ hãi, cái chết, và cảm thức lưu đày. Lối viết vòng qua lịch sử với nhiều biểu tượng hiện sinh cho phép “Thuyền” thoát khỏi khung sử liệu và trở thành một ẩn dụ rộng hơn về thân phận con người. Nhưng ngay cả lập luận này cũng không thể giải thích được một cách thuyết phục sự bất cân xứng giữa biến cố lịch sử cực lớn và mức độ hiện diện mờ nhạt của nó trong diễn ngôn tự sự. Tôi cũng không thể nào liên kết được nỗi ám ảnh của nhân vật chính về cuộc vượt biên thảm khốc với việc làm mờ bối cảnh lịch sử gây ra nỗi ám ảnh ấy: Viết xong cuốn sách, anh chợt thấy một nỗi buồn kỳ lạ, hoang mang, nửa như khi thực hiện xong một lời hứa, nửa như khi sắp chia tay một người, đánh mất một lần nữa tình yêu của mình, và anh nhớ lại trong những năm tháng đầu tiên, dù vô cùng đau xót, anh vẫn không biết cái giá mà anh phải trả cho cuộc ra đi lớn đến thế, và bây giờ tự hỏi nếu anh chọn trở lại anh có chọn nữa không, tự do có phải là giá trị có thể đánh đổi những thứ khác… (Người kể chuyện).
Khi nhân vật “tôi” viết: Câu chuyện kể không làm thay đổi số phận. Tuy vậy, chúng ta vẫn kể mãi. Vì sao? Vì bên dưới một sự thật, có những sự thật khác.Tôi muốn nói với Kyra về sự thật của mình. Phải kể lại tất cả, từng chi tiết, với những lời giải thích (Kyra, Một lần nữa), anh ta sẽ giải thích những gì? Sự thật nào phải được nói ra? Sự thật về thân phận “thuyền nhân” không phải là bí mật. Nỗi kinh hoàng trong hành trình vượt biên của người Việt không phải không ai biết đến. Những chấn thương tâm lí của “thuyền nhân” càng không phải là tối mật. Vậy còn sự thật nào bên dưới? Không còn gì hết, bởi lẽ sự thật vì sao một người trở thành “thuyền nhân” cũng không còn ai thắc mắc. Vậy thì, vì sao một tác phẩm viết về “thuyền nhân” với tất cả những gì khủng khiếp nhất lại né tránh điều đầu tiên: nguyên nhân?
Với những người đọc chỉ quan tâm đến tính chất nội tâm hóa rất cao trong tác phẩm, họ sẽ bỏ qua vấn đề bối cảnh lịch sử. Ngược lại, một số người đọc sẽ không chấp nhận việc “Thuyền” chọn một biến cố vốn đậm đặc tính lịch sử nhưng lại từ chối triển khai lịch sử như nguyên nhân và một phần cấu trúc, chỉ giữ lại những vệt mờ của hoàn cảnh để nhường diễn ngôn cho cảm giác, kí ức và biểu tượng. Họ sẽ nhận thấy chính khoảng trống về bối cảnh lịch sử đã tạo ra những điểm vô lí trong việc diễn tả tâm lí, suy nghĩ của nhân vật. Chẳng hạn chi tiết này: Tôi sắp xếp mọi chuyện, kể những lý do tôi muốn bỏ đi và muốn ở lại, thành hai cột dọc như khi tôi làm bảng kê khai chi tiêu cuối tháng (Thầy bói). Lời kể này nhẹ đến lạ. Cuộc bỏ nước mà đi ấy có dễ dàng như vậy không? Lẽ nào nhân vật chính không biết đến những nguy hiểm nào đang đợi chờ nếu quyết đi? Lẽ nào đó là phản ứng tâm lí của một người sắp rời bỏ quê hương bản quán, dấn thân vào một hành trình khốc liệt để đến một đất nước xa lạ. Hoặc chi tiết: sau khi nghe thầy bói phán: Anh đi được. Chị, không (Thầy bói), nhân vật “tôi” Ra đường, thấy lòng mình thật vui. Tâm trạng lo âu, thất vọng không còn nữa. Nếu yêu Liên Hương đến thế thì vì sao lời tiên đoán về tương lai chia lìa đôi ngả không tác động gì đến anh ta. Niềm vui bất nhẫn như vậy cũng có thể nảy sinh ư?
Một chi tiết khác: Bạn có muốn sống trên quê hương của bạn không?/ Tôi không biết./ Bạn nhớ lại điều gì khi đi xa? (Bến Ninh Kiều). Muốn hay không muốn? Đây có phải là câu hỏi thực sự dấy lên trong tâm trí một người sắp dấn thân vào hành trình mờ mịt của người bỏ trốn khỏi đất nước. Cuộc ra đi ấy có phải chỉ là đi xa, nhẹ thì như một chuyến đi công tác, nặng thì như một lần thay đổi nơi sống nhưng vẫn trong nước mình. Khi nhân vật chờ đợi trong cái nhà kho quân đội, Nền xi măng, ẩm, không giường, mọi người ngồi trên sàn nhà. Trong một góc có giăng lùng nhùng lưới đánh cá. Những thùng khô cá, cá cháy, cá éc, cá chạch lấu, cá sửu, cá lòng tong chất cao. Ruồi bọ bò lúc nhúc, bốc mùi khét, hôi hám. Mọi người tránh nhìn nhau, nghiêng mặt đi, không ai trả lời ai. Tôi nhìn đám dòi bọ lúc nhúc, muốn nôn mửa, một ý nghĩ bâng khuâng man mác như vậy có thể xuất hiện được không? Logic tâm lí không hợp lí, cảm xúc bị làm nhạt đi cho thấy đây là kết quả của việc cách li nhân vật khỏi lịch sử của chính nó.
Chính ở đây, tôi muốn nhắc về một yếu tố rất đậm nét trong “Thuyền”: các câu triết lí. Thống kê định lượng cho thấy Thuyền có mật độ phát ngôn triết lí rất lớn: trung bình khoảng 4 – 5 câu triết lí trên mỗi 1000 chữ. Tổng lượng câu triết lí trong “Thuyền” từ 400 – 450 câu trên khoảng hơn 90.000 chữ. Như vậy, “Thuyền” có mật độ phát ngôn triết lí dày đặc bất thường, dòng tự sự liên tục bị ngắt bởi những mệnh đề khái quát về tự do, hạnh phúc, tình yêu, chia lìa, thời gian, cái chết, lựa chọn, đạo đức,… Lúc này, tiểu thuyết đã chuyển từ tự sự thành luận đề hóa trải nghiệm cá nhân. Nhiều khi, sự việc trở thành cái cớ để nhân vật triết lí, chẳng hạn đoạn văn sau đây: Tôi không dám đứng lâu trước quán, tiếng nhạc xập xình từ băng cát xét nghe vui tai, vòng góc phố đến ngồi bên thành giếng, khuất sau toà nhà cao tầng. Tôi uống ly cà phê đá mát lạnh, thứ cà phê vợt pha nhiều bắp rang, trong nắng chiều Ô Môn. Mùi thơm ngát. Cà phê như thơ hóa lỏng. Chảy trong mạch máu, thức tỉnh trí óc tôi, an ủi tâm hồn tôi. Trong một buổi chiều muộn, buồn, thất lạc, ly cà phê là người bạn tri âm trên con đường đi tìm phẩm giá. Tôi không muốn uống hết, tôi muốn để dành, trò chuyện với nó.
Mi là gì?
Chúng ta có thể thiết lập một mối quan hệ khác không?
Khác như thế nào?
Một quan hệ có tính ý thức.
Nước mắt không có ý thức.
Có.
Tức là chúng ta bình đẳng?
Bình đẳng không phải là một khái niệm của thiên nhiên.
Ý thức có tạo ra hạnh phúc không?
Có.
Có những câu triết lí xuất hiện trong lúc gay cấn, nhân vật đối diện với sự sống/cái chết mà vẫn có thể suy tưởng:
Tôi ngồi phía cuối, cách khá xa bọn chúng. Liên Hương phía sau tôi, người thu nhỏ lại, nhỏ hơn nữa. Nàng lén lút nắm lấy tay tôi. Tay nàng run bần bật, lạnh ngắt. Tôi phải làm gì? Nếu Liên Hương bị chọn, tôi sẽ phản ứng cách nào?
Sẽ phản ứng như người đàn ông kia, lao tới, ôm chầm lấy vợ mình, húc đầu vào ngực tên cướp, bị hắn đẩy ra và bị bắn ngay lập tức vào thái dương?
Hay sẽ ngồi im lặng.
Hay khóc như một đứa trẻ.
Tôi không có câu trả lời. Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần, cũng như những chiến binh hèn nhát phải thua trận nhiều lần, sau khi đã thua một trận.
Đời sống là một trò chơi, đấng tiên tri Zarathustra đã nói như thế.
Tôi phải thuộc các quy luật của nó. Nhưng giờ đây, đối với tôi đời sống không phải là trò chơi. Lòng dũng cảm, sự hèn nhát. Sự ngu ngốc, sự khôn ngoan. Chúng không phải là trò chơi. Tôi sẽ chết trong tuyệt vọng, biết chắc chắn cái chết của mình không thể giúp đỡ gì cho ai cả. Vậy tôi sẽ sống, cúi đầu xuống, để mặc cho người thân bị làm nhục? Thế nào là sự khôn ngoan? Không có câu trả lời.
Tình yêu không chết vì tuổi già. Nó chỉ chết vì tai nạn.
Từ hiện tượng này, tôi cho rằng triết lí trong “Thuyền” là yếu tố tô đậm tính hiện sinh cho tác phẩm. Chúng có vai trò như một “vật liệu” trám vào khoảng trống lịch sử. Cách bù lấp này khá hiệu quả nhưng hiệu quả không thể kéo dài. Một lúc nào đó, người đọc sẽ nhận ra khoảng trống đang tồn tại. Nếu lịch sử đã được tích hợp tự nhiên vào tự sự thì sẽ không cần quá nhiều mệnh đề bù đắp như vậy.
Nói về “Thuyền”, tôi không thể không nghĩ đến làn sóng “đấu tố” “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) từ năm 1994, sục sôi trở lại từ tháng 12/2025 dẫn đến việc nhà văn Bảo Ninh rút tác phẩm khỏi danh sách vinh danh “50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và đỉnh điểm là việc Bộ Giáo dục & Đào tạo thay “Nỗi buồn chiến tranh” (SGK lớp 12) bằng một tiểu thuyết khác. Vì sao cũng là một tiểu thuyết viết kí ức cá nhân mà bị lên án, “đấu tố” dai dẳng suốt mấy chục năm trời? Vì kí ức cá nhân trong “Nỗi buồn chiến tranh” gắn chặt với bối cảnh lịch sử và kí ức cộng đồng, một kí ức bị phân hóa thành hai nhánh. Một bên nhìn nhận chiến tranh là phi nhân đạo dù lí do của nó là gì. Một bên nhìn nhận chiến tranh là cần thiết bởi nó bảo vệ quyền lợi dân tộc. Nếu Bảo Ninh cũng cắt rời kí ức cá nhân khỏi bối cảnh lịch sử thì chấn thương tâm lí của các nhân vật sẽ neo bám vào đâu? Có khủng khiếp đến thế, nhức nhối đến thế, và tác động xã hội của nó có lớn đến thế không? Hãy nhìn lại “Thuyền”, đây là tiểu thuyết đầu tiên viết về thuyền nhân được xuất bản, phát hành trong nước. Nếu “Thuyền” cũng găm thẳng vào bối cảnh lịch sử như “Nỗi buồn chiến tranh”, liệu có được in và phát hành thuận lợi như thế? Tiếp đó, những bài phê bình hồ hởi với “Thuyền” cũng tập trung vào lối viết, vào những gì được xem là độc đáo về thủ pháp. Không một ý kiến nào thắc mắc tại sao bối cảnh đau thương mà từ đó sinh ra “thuyền nhân” lại bị né tránh. Vì sao thế? Vì “Thuyền” không có điều đó, không buộc người đọc phải nhìn thẳng vào kí ức cộng đồng, không mở lại vết thương cộng đồng quá đau đớn. Nó từ chối gắn với kí ức cộng đồng trong một tình huống đặc biệt, nơi mà không có bối cảnh lịch sử, kí ức cá nhân trở thành vô nghĩa. Một kí ức cá nhân với những chấn thương nghiêm trọng theo suốt cuộc đời con người mà bị treo lơ lửng, chân không đến đất, cật không đến trời như vậy, nó có giá trị gì? Trong “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”, Ocean Vương, dù không trực tiếp trải nghiệm chiến tranh nhưng đã đặt chiến tranh vào mọi ngóc ngách thương tổn tinh thần của gia đình mình. Chiến tranh được gọi đích danh mỗi khi cần. Câu chuyện trong “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” tràn ngập kí ức chiến tranh. Điểm thú vị là Ocean Vương và Nguyễn Đức Tùng đều là người gốc Việt sinh sống ở hải ngoại, đều là nhà thơ, tiểu thuyết của họ đều có yếu tố tự truyện, vậy tại sao một người trẻ tuổi lại gọi thẳng tên cuộc chiến tranh như là căn nguyên của bi kịch tinh thần trong khi người kia lớn tuổi hơn, trực tiếp trải nghiệm chiến tranh lại tránh đi bằng những diễn đạt mờ. Một khi đụng đến kí ức chiến tranh, nhà văn phải chấp nhận việc mình được ca ngợi và bị chửi mắng cùng một lúc, nhất là với một cuộc chiến có tính phân cực cao độ trong nội bộ cộng đồng. Nếu nhà văn thoát khỏi chuyện này có nghĩa là hoặc vấn đề chiến tranh đã được cộng đồng thống nhất, hết tranh cãi, hết phân hóa hoặc nhà văn chủ động né tránh cái hố lửa đó.
Với “Thuyền”, khi xóa bỏ gần hết bối cảnh, tác phẩm rơi vào trạng thái phi lịch sử như một câu chuyện rơi lạc khỏi thời đại, thiếu gắn kết với nguyên nhân cụ thể của bi kịch. Nghĩa là nhà văn đã đẩy trách nhiệm sang người đọc. Giả sử người đọc không có sẵn tri thức về “thuyền nhân” họ không thể hiểu được bi kịch của con người trong “Thuyền” đến từ đâu. Thế hệ độc giả hiện nay (nhất là người Việt Nam ở hải ngoại, hoặc những ai từng sống qua thời hậu 1975) vẫn có trải nghiệm trực tiếp hoặc gián tiếp với biến cố thuyền nhân. Do đó, khi đọc “Thuyền”, họ sẽ tự động “lấp đầy” những khoảng trống. Họ biết vì sao có “thuyền nhân”, họ có thể kết nối các mảnh rời với lịch sử. Điều này làm cho tác phẩm có sức cộng hưởng ở thời điểm hiện tại, dù bối cảnh bị làm mờ. Nhưng khi kí ức tập thể phai nhạt, văn bản mất đi “mã khóa” để đọc, độc giả mới không còn dữ kiện lịch sử để bù đắp cho văn bản, chấn thương của “thuyền nhân” chỉ còn là những mảnh đau thương rời rạc. Nếu “Thuyền” không cung cấp bối cảnh, nhân vật “thuyền nhân” sẽ chỉ còn như một hình tượng hiện sinh: người lênh đênh trên biển, không nguồn gốc. Tác phẩm chỉ còn lại như một tiếng nói chung chung về tha hương.
Tất nhiên, điều ấy cũng không sao nếu tôi không từng đọc những lời phê bình nồng nhiệt của một số nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học có uy tín: “Tuy nhiên, xét về cả chủ đề lẫn hình thức thể loại, Thuyền của Nguyễn Đức Tùng là một cách tiếp cận, xử lí và cấu trúc nghệ thuật riêng, đầy ý nghĩa (Lê Hồ Quang, Bí mật của hải trình); Thuyền, sẽ là một cuốn sách đáng kể trong lịch sử văn học Việt (Thái Hạo, Một cuốn sách dị thường); “Thuyền” đã làm được một việc rất nhân văn, đó là trả món nợ của văn chương đối với một hiện tượng lịch sử và nhiều thân phận cá nhân. Có thể xem “Thuyền” như một áng văn chiêu hồn cho những thuyền nhân (Tịnh Thy, Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai (Đọc tiểu thuyết về Thuyền nhân lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam). Theo những nhận định trên, “Thuyền” sẽ là một tác phẩm văn học có vị trí đáng kể trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nhưng nếu nhìn thấu suốt hơn, đâu dễ dàng đạt được điều đó. Nếu xét từ thủ pháp, đóng góp của “Thuyền” so với một “Nỗi buồn chiến tranh” thôi cũng chưa vượt lên được. Nếu xét từ tiếng nói chiêu hồn cho “thuyền nhân”, “Thuyền” đã đẩy “thuyền nhân” vào tình thế những linh hồn ngơ ngác, không còn biết căn nguyên của khổ đau.