Đoàn Huyền

Bởi vì trong thế giới hữu cơ bất túc và rời rạc này, cá nhân được định sẵn để sống trọn vẹn, mong muốn biến sự tồn tại của mình thành tuyệt đối.
(On the Heights of Despair, E. M. Cioran)
Tác phẩm này, Thư chết, được viết, như bức thư, cho người cha đã qua đời. Cảnh huống ấy đẩy cả sự đọc lẫn sự viết vào trạng thái sa mạc. Bởi, cái chết đã tước đoạt mọi khả tính. Bị bức tử, ngay từ đầu, nơi bức thư không được gửi, không được nhận, không được đọc, sự viết, tự nó, phải khoét lấy một khoảng không cho chính mình khi mọi khoảng cách bị thu lại, hẹp trong lòng bàn tay cái chết, phải mở lấy lối ra khi chính nó, tự thân, là một hành vi quan bế. Chính cơn khủng hoảng và năng lượng đen tối đã cứu sự viết, xé toạc bức thư bị chôn sống để mở ra một vùng thăm thẳm và sâu kín mà mỗi dòng mỗi chữ viết ra dần hiện thân thành hồi ký vỡ mộng của kẻ ôm trong lòng khao khát cái tuyệt đối. Bức thư chết, rốt cuộc, vì thế, không nhả ra một thi hài của một mộ huyệt nứt vỡ mà chỉ là phông màn làm nổi khối một hình hài “trồi”[1] lên từ vực thẳm, “vực thẳm của sự ra đời”[2].
Bức thư chết là bản ghi chép thời gian sống trong tăm tối địa ngục của nhân vật xưng tôi sau cái chết của người cha. Trải nghiệm ấy đúc lại thành nhục hình Mézence: kẻ sống, “tay áp tay, miệng kề miệng”, với xác chết, trong một “nụ hôn buồn”. Trong cuộc trầm luân cảm xúc nơi người viết bức thư độc thoại, tuy nhiên, yêu thương không thể biến thành đọa đày, gắn kết không thể biến thành xiềng xích, mối tình cảm cha con không thể biến thành một thiêng liêng bệnh trạng, nếu chúng không thoát thai từ một hậu cảnh u ám: “Tôi như người con trai cõng bà mẹ ốm yếu lên đỉnh núi để bà chết ở đó, rồi một mình trở về, nhưng cho dù đi đâu thì rồi anh ta cũng cảm thấy như đang cõng thi hài trên lưng, đang có hơi thở của bà phả vào cổ, đôi bàn tay của bà trên vai.” Lời thú tội “tôi đã để người chết một mình cô độc” thoát ra từ nỗi ân hận không thể cứu chuộc, gánh theo với nó giọt nước mắt cạn, hạt máu đông đặc, không cất nổi thành lời, không sóng ra tia an ủi nào. Cảnh huống ấy bày ra một trạng thái nơi mọi cảm xúc nổ tung khi bị đẩy đến cực hạn. Tình thế tồn tại, “một nửa con người tôi đã chết”, những ảo ảnh hoang tưởng, “người ám tôi, hút máu tôi, gặm xương tôi, ngốn suy nghĩ tôi”, đau đớn cùng cực, phi lý cùng cực đến mức mà chỉ chúng mới có thể hóa giải lẫn nhau. Nhưng, cuối cùng thì điều gì giải thích cho thứ vận động cuồng nộ thất điên bát đảo: ra sức buông bỏ chỉ để lại hết lòng níu kéo, nghiệt ngã quay lưng để chỉ lại mê muội đắm chìm? Không giải thích nào khả dĩ, nếu không thấy ở cách ứng xử “nghịch đạo” đó, hành động của kẻ “không một thời khắc nào”[3] “không ý thức rằng mình đang ở bên ngoài thiên đường[4].”
Thiên đường cô từng biết đến là tuổi thơ, cái “thời sung sướng của đời ta” mà người cha đã dựng xây. Nhưng thời tươi đẹp ấy, như mọi hoa trái nhân tạo đầu đời, không có phẩm chất của một “thế giới chưa có gì hạ mình xuống để xảy ra[5]” – thế giới của cái không bao giờ sinh ra, nơi khả tính vẫn còn phôi thai, nơi không gian chưa hề hé nở, nơi tự do còn ươm mầm. Như bất cứ thứ gì trở thành hiện thể, nó tạm bợ, bất toàn, không trông mong được. Nó là “cái vòng tròn huyền diệu” phải “ra khỏi”, “cái bụng cá voi” không thể “nương náu”. Sự tồn tại chớp nhoáng của thiên đường ấy chẳng mảy may tác động đến sự thật không xoay chuyển được: người ta tất phải lớn lên và phải lớn lên trong một thế giới “sa mạc”, nơi “cái chết sẽ không còn vương quốc nữa”.
Với sự lớn lên, mỗi sinh thể người đều gánh vác trên mình trách nhiệm của tồn tại: vũ trụ cô đơn của riêng nó, mà nó phải đào xới đến tận cùng, một thân xác, mà nó phải tắm đến đáy trong những “tầm thường vĩnh cửu”[6]. Con người, như thế, chạy quanh chính mình, dưới mãnh lực hướng tâm, hồi quy. Nên trong lòng sự lớn lên, mỗi hành động hướng về phía tha nhân, không thể tránh, là đứa con chung đẻ ra từ cuộc ăn nằm giữa sự quyết tuyệt và thói tráo trở: lựa chọn là bội phản; ra đi là cắt đứt. Trong tình thế ấy, hành động, mà người viết bức thư gọi là phản bội, một phản bội không ngừng suốt hai mươi năm, một phản bội cho đến phút chót, không những là điều có thể lý giải, nếu nhìn cận cảnh, còn là chung cục tất yếu. Bởi, người đàn ông hai mươi năm viết thư cho đứa con gái hai mươi năm nuốt lời trở về, chẳng phải là: người sinh thành, hơn hết, tượng đài trong lòng kẻ “đào tẩu” sao? Sự phản bội của đứa con chỉ là một trong nhiều phiên bản của định mệnh “con cái quay lưng … chống lại cha mẹ[7]”, thứ bội phản, xét cho cùng, “tuân theo một quy luật, quy định mối quan hệ của tất cả những kẻ sống trên đời, nghĩa là: mỗi người tự sinh ra kẻ thù của chính mình[8]”? Với tư cách một thần tượng, ông hẳn nhiên buộc phải thấy mặt trái của tấm huân chương: kẻ ngưỡng mộ “không thể tha thứ cho người[9]” mà mình “đã ca ngợi hết lời[10]”, “nóng lòng muốn phá vỡ mối quan hệ với họ[11]”, “không phải vì xấc xược mà vì khát vọng tìm thấy khuynh hướng của chính mình, được tự do, được là chính mình[12]”. Và, kẻ đó chỉ có thể bứng đi thế tồn tại như “một chồi ghép, một cành giâm”, như lời Sirius, trong chính bức thư, “bằng một hành động bất công[13]”. Thực tế, khẳng định từ nhà nhân học, mà sự giàu có kinh nghiệm thực địa ở các xã hội man dã đã cung cấp nhiều cơ hội tiếp cận tâm hồn con người trong cái nhìn cận cảnh bản năng và tình cảm nguyên thủy, càng củng cố niềm tin rằng mối tơ vò của tình cảm cha-con không phải là thí dụ tiêu cực của một trường hợp ngoại lệ, hay, đơn thuần, thứ lý thuyết chỉ sinh ra trong phòng thí nghiệm của phân tâm học: “trong nghiên cứu của mình, chúng ta đã phát hiện ra rất nhiều cảm xúc cấu thành nên thái độ hướng tới một người, được gắn kết và lồng ghép với nhau chặt chẽ đến nỗi nó hình thành một cơ chế sinh học bền chặt không thể phân rã. Do đó, trong mối quan hệ với người cha, những cảm xúc tạo nên sự kính trọng và lý tưởng hóa về bản chất gắn với sự căm hờn, thù ghét hoặc khinh bỉ vốn là những phản chiếu của chúng[14].” Trở lại vấn đề, hành động nghịch đạo, bản thân nó, rốt cuộc, chỉ là ánh xạ của chân lý phi lý đến tận cùng mà thuận lý từ ngọn nguồn: người ta chỉ bỏ công phản bội một người hết sức quan thiết với cuộc đời mình, thậm chí với tồn tại của mình.
Mối thâm tình nào, có lẽ thế, trong sâu thẳm, cũng bị giày vò bởi nỗi “khao khát chia xa”, nỗi khao khát mà Marina Tsvetaeva đã không biết gọi tên ra làm sao. Nhưng, tình cảm bất trắc trong bức thư chết có thể tìm thấy ở dòng thơ của thi sĩ Nga lời tri ngộ cho chính mình: “… không một ai đang lật giở những lá thư của chúng mình/hiểu chúng ta là nỗi bất trung trọn vẹn và/thăm thẳm ra sao,/nghĩa là: chúng ta trung thành với chính mình nhường nào.[15]” Chính vì thế, nỗi ân hận rạch ngang lằn ranh sống chết, ném người sống vào ngọn lửa dằn vặt đốt lên bằng nỗi cô đơn, đợi chờ, thất vọng của người chết, chôn theo với người chết một phần đời của người đang sống, cũng không ngăn nổi bức thư chết chảy ngược về cuộc đày đọa cô đã lâm vào suốt hai mươi năm, cuộc đọa đày hủy diệt và cứu rỗi cái thân phận bị ruồng bỏ, định mệnh của mọi sự sinh ra trên đời.
Bị ruồng bỏ là mang thân thế của kẻ tội lỗi ngập ngụa, sa đọa đắm chìm, chịu đày ải muôn kiếp, tức là một tồn tại hư hỏng, bị vứt bỏ, không hy vọng được cứu rỗi. Nỗi ám ảnh bị ruồng bỏ chập chờn ngay trong nỗi sợ tuổi thơ, nỗi sợ bị “bắt cóc” bởi những người “dị dạng”, “què cụt”, “cùi hủi”, hiện thân trần thế của Cronos và Médée, thế lực hung ác của thế giới thần linh. Nỗi sợ ấy vồ lấy tuổi thơ trong khả tính bị tước đoạt, bị làm cho hư phế: bị “ăn cắp”, bị “khoét mắt”, “làm cho què cụt”, và cuối cùng bị vứt bỏ trong tột cùng hủy diệt và đày đọa: bị “dìm chết ở cửa ngõ thành phố, trong dòng sông đen bùn”. Nhưng, ở cô, bị ruồng bỏ không chỉ như một nỗi sợ đứng ngoài trông vào thành quách uy nghiêm của thế giới bên trong an ổn mà nó là một trạng thái đầy biến hóa, ở đó nỗi sợ hãi bị ruồng bỏ run rẩy trong vòng ôm của nỗi ám ảnh bị ruồng bỏ rồi mê man trong những dụ hoặc của ham muốn bị ruồng bỏ, thứ ham muốn âm thầm sinh sôi và ngày một bành trướng, ngay trong những thâm u của ấu thơ trắng trong. Phức cảm bị ruồng bỏ, hiển hiện trong phản ứng của cô bé váy hồng nơ đỏ, hai mươi năm trước, khi bị xê đến trước mặt nguy cơ sa vào hố thắm: “một lần, tôi bị lạc giữa đám đông, một gã chột tiến lại gần tôi, nắm lấy tay tôi và nói dẫn đến chỗ cha. Tôi im lặng đi theo …”.
Chính bằng một thụ động đồng lõa như thế, cô bước vào thế giới người lớn như một đứa trẻ bước vào nỗi sợ hãi bị ruồng bỏ, ở đó trong biển chết của mặc cảm bị ruồng bỏ cô tự đánh đắm mình và tự cứu thoát mình bằng xác tín ngây thơ mà kiên ngạnh của một bản năng nguyên thủy về một tình yêu tìm thấy, một tình yêu cứu rỗi. Tình yêu cứu rỗi ấy cô không tìm thấy dù chỉ mảnh vỡ dập nát và méo mó trong thế giới sa mạc của người lớn. Cô chỉ nếm vị của thứ tình yêu như “một bồn tắm axít” ở đó những vết thương “khai hoa nở nhụy”. Cách cô mệnh danh người đàn ông mà cô tìm kiếm tình yêu, Nhà Xác, “bởi vì ở hắn, mọi mộng tưởng của tôi đều chết. Bởi vì với hắn, tôi gặp toàn sự hủy hoại”, và vài nét phác sơ giản về mối tình đã quật ngã mình: “tôi đã mất sức mạnh khi ấp chặt trong đôi mắt của Nhà Xác sự trống rỗng, tình yêu bản thân; tình yêu bản thân chỉ cho đi để nhận về nhiều hơn và giết người bằng những cú tránh né”, đã vượt xa một mô tả về mối tình bất thành và những khổ đau của một tình yêu tan vỡ, hơn hết, đã thâu tóm cả khung cảnh cuộc đại vỡ mộng cùng sự sụp đổ hoàn toàn của đời sống cá nhân. Nhà Xác, cái tên ấy nói lên điều gì? Ở đó, tất nhiên, không có tình yêu, chỉ có sự chết. Nhưng sự chết ở dạng tầm thường, trơ trọi, nông cạn, đã mất hết những linh tính, đã bong tróc mọi bí ẩn mê hoặc và khiếp sợ của một trong hai sự biến ghê gớm nhất đời người: sinh, tử. Sự chết ấy là một dạng sự thật lắng cặn, không chiết ra chút tinh chất. Nên, trong mối tình ấy, mọi đường nét tình yêu bị xóa sạch, ngang dọc chỉ còn vết cắt thô bạo, khinh mạn của dồn ép, bức hại: “Nhà Xác đã trói buộc tôi. Tôi giãy giụa trong một tấm lưới vô hình.” Cái chết thít cổ tình yêu, đóng lại mọi con đường, trừ con đường dẫn đến hủy hoại: “tình yêu, cái chết, cái chết của tình yêu và tình yêu cái chết ám ảnh tôi, mong muốn lao qua cửa sổ, nhảy tàu, cắt động mạch, in lên thân xác tôi những vết ô nhục của mối tình bất thành.”
Người ta sao có thể đi tìm tình yêu ở nơi mà hàm nghĩa chết chóc lộ diện trắng trợn, nơi không có gì hứa hẹn, chào mời, trừ miệng vực nham nhở của một hố đen hủy diệt? Câu trả lời như thứ nước rửa ảnh khiến thảm trạng ở đây không thể còn đơn giản đóng bộ trong thứ bi kịch một chiều: “Nhà Xác có sự quyến rũ độc hại của những gã Sở khanh coi thường mọi xao động lôi cuốn những ả lạc lối nôn nóng bị đập cho tan nát”. Sự thật bật ra từ lời thú nhận đó. Không có lý do gì hơn cho thứ tình yêu mang gương mặt nhà xác là sự khích động và lôi kéo của mặc cảm bị ruồng bỏ: “Mỗi lời Nhà Xác tuôn ra có xu hướng trả tôi về cõi hư vô của tôi, khỏa lấp trong tôi ham muốn bị biến thành một thứ không đâu, là một phụ nữ thừa, một ả lén lút chẳng có gì kết nối ả với cuộc sống, một kẻ thứ ba mà bản kiểm kê hạnh phúc xếp vào cột những cái thứ yếu.”
Cô bước đến tình yêu trong tâm thế liều lĩnh và hỗn loạn của kẻ bị ruồng bỏ trong cuộc chung thân lưu đày cả gan mơ đến hạnh phúc, “trót muốn đánh cắp chút tình âu yếm”. Nên trong lựa chọn của mình mỗi bước cô đi chới với giữa niềm tưởng nhớ thiên đường và mặc cảm tội lỗi của kẻ đào tẩu, giữa ham muốn sa đọa và niềm khao khát ánh sáng. Kết quả, bày ra là một hoạt cảnh của kẻ vụng trộm đi bớt xén chút hồi quang của ảo ảnh tình yêu, trong cuộc tình bóng tối với “người đàn ông đã có vợ”, nơi chỉ có lãnh cảm, phòng thủ, tránh né, trong nỗi đam mê với kẻ không có tình yêu, nhưng thừa rẻ rúng, khinh miệt, lăng nhục. Rốt cục, cái gọi là một mối tình chỉ là nơi để thỏa mãn sức chịu đựng ô nhục của “bản sao ham khổ”: “muốn xem mình sẽ xuống tới mức độ ô nhục nào”, để phô diễn “khả năng chịu đau” của bản sao điên loạn trong bản thể đa phức, bệnh trạng, để chứng thực định mệnh “sinh ra từ nỗi im lặng có thừa”. Cơn vỡ mộng được xúc tác bởi Nhà Xác chỉ tô đậm thêm xác tín về định mệnh bị ruồng bỏ: “Nhà Xác chỉ cho tôi một điều chắc chắn: sự xa lạ tuyệt đối của tôi ở cõi đời, sự không thể nảy nở của tôi ở bất cứ đâu ngoài nhà kính của nỗi bất hạnh … Tôi đã chờ đợi Nhà Xác khẳng định lại với tôi sự vô dụng của tôi trong tình cảm, sự đứng ngoài cuộc của tôi trong cuộc đua tìm hạnh phúc, sự loại trừ tôi khỏi phạm vi lạc thú. Trong nỗi cô đơn của mình, tôi chỉ đòi hỏi điều có thể bồi đắp thêm nỗi cô đơn này, góp phần cho tôi ra rìa.”
Những ham muốn bức thở và nỗi đọa đày nặng nhọc, đơn giản, được hoài thai bởi một não trạng bệnh tật, của kẻ dị hợm lạc loài từ chối mọi khung cảnh mọi không gian ngoài sự giam hãm của những tưởng tượng ngột ngạt, loạn thần của mình? Hay, trong vùng đất hoang tàn bị hủy hoại bởi “cái chết và sự vỡ mộng, đại dịch của thời đại chúng ta[16]”, nơi mỗi thân phận sống trong nỗi cô đơn của sự thật: “sinh ra chính là sắp sẵn một sự ruồng bỏ”, thì cái cách phóng thích nỗi sợ hãi, niềm ám ảnh, lòng ham muốn, thậm chí “một phần thách thức bước vào” những ám ảnh, sợ hãi đó, để ô nhục của thân phận hằn dấu lên con người, để sống đời mình trong chúng, để tự sát qua chúng, và tái sinh trên chính đống đổ nát của bản thể, linh hồn, thân phận, là cú quật mình cảm tử của một bản lĩnh sống u uẩn mà cương ngạnh. Cách nhân vật quy phục mặc cảm bị ruồng bỏ trong sự “thuận tình”, trong một can dự “tòng phạm”, dưới góc nhìn này, chính là cách xoay xở để sống sót, để cứu lấy mình trong sự vây hãm, truy bức của nỗi âu lo của bản thể người, của ràng rịt riêng tư nơi bản mệnh mình. Bởi khi cô phóng chiếu nỗi ám ảnh bị ruồng bỏ ra lên con người mình, lên số phận mình, lên cuộc đời mình cô đã tháo xích cho nó thoát khỏi tù ngục nội tâm, để “săn lùng[17]” nó, “trừ tà[18]” cho nó, biến quyền năng quỷ dữ trong nó thành mãnh lực của một con thú dữ có cơ thuần hóa.
Với sức ảnh hưởng nguy kịch, một phóng chiếu như thế có thể vét cạn sức sống, hút hết tinh lực, để trơ lại “một thân xác gần như trong suốt, đôi mắt trống rỗng, đôi môi không ngớt mấp máy những câu mà nó đã không biết nói thành lời”, có thể bật cả gốc rễ một tồn tại, biến người ta thành một thực thể treo, một sinh vật lơ lửng: “cuộc sống đẩy chị ra, cái chết lảng vảng chẳng chìa tay cho chị”. Sự tang thương của hình ảnh thảm bại ấy tô đậm thêm sự bất lực trong một thế giới là “chốn cư ngụ của một nhân quần giằng xé và hủy diệt con người vô phương kháng cự[19]”. Nhưng nó, hình ảnh ấy gẩy một nét móc “trái cựa” chìa ra một sự thật gai chướng: cách mà kẻ thua cuộc đó thất bại, trên mọi phương diện thê thảm của nó, đủ “khiến kẻ chiến thắng phải hổ thẹn[20]”. Bởi, họ, đã bước khỏi đường ray, khỏi lan can phòng hiểm họa để sa xuống cống rãnh, hố thẳm, xô mình vào vị trí của kẻ thất thế, ô nhục, thảm bại để “không phải nhượng bộ, phải trốn chạy vào các kiểu lầm lạc dù sang trọng đến đâu của lý trí và tiềm thức.[21]”
Cung cách của Nhà Xác, kẻ ra dáng một “tiểu vương” có riêng cho mình một lãnh địa, chính là một kiểu trốn chạy. Đó là cuộc trốn chạy của kẻ “tỉnh ngộ” trước sa mạc của cô đơn, cái chết, hư vô, thấy trước những tan vỡ, khổ đau của vỡ mộng, đã xây thành quách cho trái tim, thân xác để vỗ béo cảm giác an toàn, “thanh thản” trong cơn vỡ mộng ăn mòn từng giây phút sống, đã nuôi dưỡng sự ngu dốt và đớn hèn bằng miệt thị và khinh rẻ những gì mang trong mình sự cao cả: thơ ca, nghệ thuật, tình yêu, sách vở, bằng nhục mạ và gằn hắt “tất cả những người gợi cho hắn sự tồn tại của một thiên đường đã mất mà tất cả chúng ta đều hướng tới”, bằng tận độ “lạm dụng liều thuốc vô sỉ” trong cư xử đạo đức và tình yêu, bằng nỗi bận tâm duy nhất đến “nơi đây-và-hiện tại của lạc thú”, tiêu khiển bằng mọi giá để chống chọi với sự trống rỗng trong tâm hồn. Chung cục của cuộc trốn chạy là biết bao phung phí những đẹp đẽ, “quyến rũ”, giá trị của “những tình thế trái cựa”, ngặt nghèo mà cuộc sống dâng tặng trong những dồn ép, trong tính bất trắc hai mặt của nó, trong đòi hỏi lột bỏ những phòng ngự cho sự đa cảm, yếu đuối, ủy mị của con tim, trong yêu cầu giẫm lên mảnh thủy tinh của tan vỡ để nếm trải sức mạnh thiêu hủy và thanh tẩy của khổ đau. Nhà Xác, bằng cách cạp đời mình trên bề nông của thế giới vật chất, bằng cách ký “một hiệp ước chung phần” với một đời sống đã bại liệt mọi giá trị tinh thần, trừ cơ chế bảo tồn xác ướp, đã “làm câm nín nơi mình những tiếng gầm của cái vô tận”, làm thinh lặng những “giai điệu du dương” của sự vĩnh cửu vang vọng trong tiếng gọi của tình yêu.
Hiện thực sống nơi cái vô tận bặt tiếng hay ngân vang, đã tuốt một khoảng cách vời vợi giữa Nhà Xác và cô, người con gái viết bức thư chết cho cha mình. Cô, trong muôn trùng vây khốn của mặc cảm bị ruồng bỏ, vẫn kiếm tìm sự vĩnh cửu. Cô, trong cuộc tình với Nhà Xác, một “cuộc chơi đơn lẻ” với một người chết chẳng thể “run rẩy đi theo tiếng gọi của tình yêu”, vẫn không mất dấu “cái vô tận” nơi cô “khắc ghi tình yêu”. Cô, trong thế kẻ thua đau với “một lô những hoảng sợ và vỡ mộng”, vẫn không buông bỏ “đứa trẻ chết, thứ tình yêu” cô “đã để nó lớn lên trong mình và yêu thương nó, tựa cái tuyệt đối, một lý tưởng không tì vết.” Trong sự vỡ mộng của cô, điều tuyệt đối, đã không phải liều thuốc giảm đau, bởi nó không giải thích cho sự ra đời và sự chết, không vỗ về “những phiền não của sự ra đời” [“the trouble with being born”, tên tác phẩm của E.M.Cioran], không xoa dịu nỗi lo sợ trước những đe dọa của sự chết. Nó, ngược lại, thậm chí, còn bảo chứng cho những thất bại của cuộc chiến mà chúng ta biết trước mình bất lực. Điều duy nhất chắc chắn: cái tuyệt đối luôn có ở đó, sự có ở đó của một trong trẻo mãi mãi ban mai, mãi mãi ấu thơ, mãi mãi trinh nguyên. Nó ở đó trong cuộc sống, trong sự chết, trong mỗi sinh thể, trong bất kể trạng thái nào của cuộc làm người: bất diệt và không hề sứt mẻ. Nên, dù ta có bị bỏ mặc “chết trên chiến trường” trong cuộc chiến mình gây ra để “giành giật những mảnh tình âu yếm”, dù người mà duy với họ ta được nghe thấy “giai điệu du dương của cái vô tận” trong thứ “tình yêu thơ trẻ mà mỗi lời mỗi cử chỉ đều nói lên nỗi thất vọng không được là người duy nhất, trong một kết giao mà thiên hạ vắng bóng”, biến mất, dù chính họ cũng “ruồng bỏ” ta cho “mặc cảm phản bội” nơi mình, dù ta có “để tang chính mình”, dù một mình ta “trong nỗi cô đơn của người chết” đối mặt với sự ra đời như một ruồng bỏ sắp sẵn, thì đứa trẻ trong ta, cái tình yêu tuyệt đối, mà bao năm tháng ta ôm ấp như một nỗi đau, như một đứa bé côi cút đi tìm mộ phần, không khi nào bị giết. Đó là lý do vì sao, đứa trẻ “giương mắt và đòi nghe chuyện kỳ diệu”, “ngây ngất” với những giấc mơ, những gợi nhớ một thiên đường đã mất, vẫn ở đó, trong cô, người con gái bên mộ cha, trong thế đứng trọn vẹn đơn côi, trong trạng thái hoàn toàn bị ruồng bỏ. Và thế, ngay trong cái chết của người cha, không có sự kết thúc nào: “cái chết của cha có nghĩa là cái chết của tôi hay lần sinh ra thứ hai?”, mà chỉ có sự khai sinh của những lần đầu tiên: sự rung động run rẩy của con tim sau những tháng ngày ngỡ đã hóa đá, “giai điệu êm dịu” của những “nốt nhạc tuyệt vời” bay lên từ những lời trong bức thư cha, những bước thanh tân bước ra khỏi quá khứ toàn những “bóng ma”, những “vong linh” của “phá hủy”, “cay đắng”, và “tuyệt vọng”, để lách vào ngã rẽ bứt khỏi con đường cụt, để chạm đến lối ra thoát khỏi một không gian hắc ín, đông đặc, để biết đến vòng xoay hốt nhiên và thần diệu của mở ra và bước tới: “Ngày mới đến rồi … Hãy mở cửa sổ này ra đi. Hãy để cho sự tươi mát của rạng đông vào nhà.” Thế giới vừa mới bắt đầu, vừa mới sinh ra ấy chẳng phải một tươi mới “trong sạch như một lần sự thật[22]”, vĩnh viễn chảy trong lòng cái vô tận, cái tuyệt đối và sự vĩnh hằng?
Những trải nghiệm dường như riêng biệt, sai khác của nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê, chứng minh cho một sự thật mọc lên từ chùm rễ nghịch chướng: “chân lý nằm trong bi kịch cá nhân[23]”. Nếu chúng ta không đầu hàng trước bi quan và mất mát, nếu chúng ta lật giở chính tồn tại của mình, của sự làm người, chúng ta có cơ sẽ thấy dòng chảy xanh thẳm của điều tuyệt đối ngay trong những phi lý, phù du, bất trắc, chúng ta có thể vin vào sự vĩnh cửu như một vô tận luôn mất hút nhưng cũng như một chắc chắn luôn hoàn nguyên. Thư chết như thể một hiển hiện của một mất hút nhưng luôn hoàn nguyên ấy. Cho nên, bức thư chết bị cắn xé bởi tử khí của âm phần và mộ huyệt, sau rốt, chính là, bức thông điệp xanh lá của một khai sinh, một phục sinh mà nơi ấy người ta không còn là cành nhánh, chồi non hay bản sao chép của một tồn tại phủ bóng và vây khốn mà là sự lớn dậy từ đống đổ nát của chính mình trong sự bám rễ vào sâu thẳm nguồn cội của tồn tại và trong sự vươn tới khoáng đạt của tự do.
* Những trích dẫn không có chú thích trong tiểu luận đều là trích dẫn từ Thư chết, Linda Lê, Bùi Thu Thủy chuyển dịch, Nhã Nam và Nxb Văn học, 2013. Ngoài phần in nghiêng có sẵn, trong hai trích dẫn “Và cái chết sẽ không còn vương quốc nữa” và “một hiệp ước chung phần”, những phần in nghiêng còn lại trong các trích dẫn khác, đều do người viết tiểu luận nhấn mạnh.
[1] Chữ của E. M. Cioran trong The Trouble with Being Born: “Trong kinh sách Phật giáo, người ta thường nhắc đến “vực thẳm của sự ra đời”. Một vực thẳm, quả là vậy, một hố sâu, chúng ta không rơi vào, thay vào đó, chúng ta trồi lên, khiến tất cả mọi người trong chúng ta đều tột cùng đau khổ.” [In Buddhist writings, mention is often made of “the abyss of birth.” An abyss indeed, a gulf into which we do not fall but from which, instead, we emerge, to our universal chagrin], E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, translated from the French by Richard Howard, Seaver Books, New York, 2011.
[2] n.t.
[3] “Không một thời khắc nào tôi không ý thức rằng mình đang ở ngoài thiên đường.” [Not one moment when I have not been conscious of being outside Paradise], E. M. Cioran, the Trouble with Being Born, translated from the French by Richard Howard, Seaver Books, New York, 2011.
[4] n.t.
[5] “a world where nothing yet stooped to occurrence”, E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, translated from the French by Richard Howard, Seaver Books, New York, 2011.
[6] “eternal trifling”, cách hành văn của Cioran, trong The Trouble with Being Born: “Never quit the possible, wallow in eternal trifling, forget to be born.” [Đừng bao giờ từ bỏ khả tính, đắm chìm trong sự tầm thường vĩnh cửu, quên mất đã ra đời.]
[7] “Children turn, … , against their parents, … , for they are subject to a law which decrees the relations among all the living: i.e., that each engenders his own enemy”, E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, translated from the French by Richard Howard, Seaver Books, New York, 2011.
[8] n.t.
[9] “We cannot forgive those we have praised to the skies, we are impatient to break with them, to snap the most delicate chain of all: the chain of admiration …, not out of insolence, but out of an aspiration to find our bearings, to be free, to be … ourselves. Which we manage only by an act of injustice.” [Chúng ta không thể tha thứ cho người chúng ta ca ngợi hết lời, chúng ta nóng lòng muốn phá vỡ mối quan hệ với họ, muốn cắn phựt sợi dây xích mong manh nhất: dây xích của lòng ngưỡng mộ …, không phải vì xấc xược, mà vì khát vọng tìm được khung hướng của chính mình, được tự do, được là … chính mình. Điều chúng ta chỉ có thể đạt được bằng một hành động bất công], E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, n.t.
[10] n.t.
[11] n.t.
[12] n.t.
[13] n.t.
[14] Bronislaw Malinowski, Tình dục và ức chế ở xã hội man dã, Phạm Minh Quân dịch, NXB Thế giới, 2021, tr. 213.
[15] “that no one turning over our letters has/yet understood how completely and/how deeply faithless we are, which is/to say: how true we are to ourselves” (What is this gypsy passion for separation – Khát khao chia xa này là gì), Marina Tsvetaeva, Selected Poems, translated and introduced by Elaine Feinstein, Penguin Books, 1994, tr. 4.
[16] “death and disillusionment, which is the plague of our epoch”, Leslie Barnes, Literature and the Outsider: An Interview with Linda Lê, nguồn: www.academia.edu.
[17] “Diễn tả một nỗi ám ảnh là phóng chiếu nó ra bên ngoài bản thân, săn lùng nó, trừ tà cho nó” [To express an obsession is to project it outside yourself, to hunt it down, to exorcise it], E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, n.t.
[18] n.t.
[19] Cáo phó Milena Jesenská viết, đăng trên nhật báo Národní Listy tại Praha, sau khi Kafka qua đời, xem Khi em là lưỡi dao, Phạm Thị Hoài, nguồn: www.procontra.asia
[20] n.t.
[21] n.t.
[22] Phục sinh, Thanh Tâm Tuyền, Tôi không còn cô độc, Hợp Lực, Sài Gòn, 1956, nguồn: www.vietmessenger.com.
[23] “Truth abides in the individual drama”, E. M. Cioran, The Trouble with Being Born, n.t.