Damien Cave
Hình ảnh: Linh Phạm
Tường thuật từ Hà Nội, Việt Nam
The New York Times ngày 12 tháng 4, 2026
ChatGPT dịch
Văn Việt hiệu đính
Nguyễn Văn Lộc [Lộc Vàng – Văn Việt] bị đàn áp vì trình diễn dòng nhạc lãng mạn xưa của Hà Nội trong (và sau) chiến tranh Việt Nam. Ông không thể dừng lại. Và cũng sẽ không dừng.

Nguyễn Văn Lộc biểu diễn vào tháng 3 tại câu lạc bộ âm nhạc của một người bạn ở Hà Nội, Việt Nam.
Năm mươi tám năm trước, ông đã vào tù chỉ vì hát về tình yêu giữa thời chiến.
Một tối thứ Tư gần đây, trong căn phòng phía sau một ngôi nhà giản dị ở Hà Nội được biến thành câu lạc bộ âm nhạc, Nguyễn Văn Lộc lại trở về với những bài hát cũ. Ông mỉm cười, mặc áo trắng, gõ nhẹ micro để thu hút sự chú ý của khoảng chục người bạn đang uống trà gừng.
“Xin chào,” ông nói bằng tiếng Việt.
Được đệm bằng tiếng guitar, bản tình ca mở đầu vang lên qua hệ thống loa vốn dành cho không gian lớn hơn. Những bức ảnh đen trắng của các nhạc sĩ ông yêu thích phủ kín những bức tường ốp gỗ. Những chiếc đèn kính màu treo ngược như hoa đang phơi khô làm sáng sân khấu, nơi được trang trí bằng những dòng chữ dát vàng:
“Đi tìm ký ức đã qua.”
“Nhớ về những ngày xưa cũ.”
Ông Lộc, 81 tuổi, là người hát cuối cùng và bền bỉ nhất của dòng nhạc đầy cảm xúc từng định hình Hà Nội trước và ngay sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954. Với nỗi buồn mong manh mà ông ví như làn gió nhẹ trên cánh đồng lúa, những ca khúc ấy – do các nghệ sĩ Việt Nam sáng tác (trong đó có nhiều người bạn đã mất của ông) – kết hợp di sản âm nhạc Đông và Tây. Và cũng như chính cuộc đời ông, chúng mang theo những làn sóng hoài niệm, đau đớn, khắc khoải và những bài học về sự đứt gãy của các mối liên hệ khi xã hội chia cắt và khi nhà cầm quyền đòi hỏi sự phục tùng văn hóa.

Ông Lộc tại nhà trước khi rời đi đến buổi biểu diễn hằng tuần.

Những bài hát của ông Lộc mang theo những làn sóng hoài niệm, đau đớn, khắc khoải và những bài học về sự đứt gãy của các mối liên hệ khi xã hội chia cắt và khi nhà cầm quyền đòi hỏi sự phục tùng văn hóa.
Các nhà nghiên cứu âm nhạc mô tả dòng nhạc này như những bài thơ Việt Nam tiết tấu chậm, được phổ nhạc với giai điệu vay mượn từ Paris, Detroit, Honolulu hay Havana. Theo ông Lộc, dòng nhạc ấy đáng được trân trọng vì tính sáng tạo phi chính trị và chiều sâu cảm xúc.
“Nó hát về con người và tình yêu, tình yêu giữa nam và nữ, tình yêu dành cho quê hương, cho vùng quê,” ông Lộc, một người đàn ông nhỏ nhắn với đôi mắt sắc sảo nhưng dịu lại khi hát, nói. “Tôi chỉ đơn giản là yêu thích thứ âm nhạc lãng mạn với sức mạnh của tình yêu, nó mượt mà như lụa.
Trong chiến tranh Việt Nam, chính quyền cộng sản miền Bắc lo sợ rằng thứ nhạc này sẽ làm con người trở nên mềm yếu, xa rời chiến đấu. Họ gọi tất cả những gì không phải nhạc cách mạng là “nhạc vàng”, mượn từ một thuật ngữ Trung Quốc chỉ các bản tình ca Thượng Hải thập niên 1930. Khi chiến tranh leo thang, lãnh đạo Hà Nội tìm cách xóa sổ dòng nhạc này.
“Tin đồn lan ra ngoài phố,” Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu lâu năm về nhạc đại chúng Việt Nam, nói. “Nếu anh cứ tiếp tục, anh sẽ gặp rắc rối.”
Ông Lộc chỉ lặng lẽ đi sâu hơn vào bóng tối.
“Mỗi tối, chúng tôi tụ tập quanh ấm trà, hút vài điếu thuốc và hát cho nhau nghe trong nhóm nhỏ,” ông kể.
Rồi công an đến.
Sinh năm 1945 trong một gia đình trung lưu ở Hà Nội, có cha từng làm việc cho chính quyền Pháp, Nguyễn Văn Lộc yêu nhạc tiền chiến từ nhỏ.
Gia đình ông mất thế khi chính quyền cộng sản lên nắm quyền. Học xong lớp Bảy, ông bỏ học để đi làm.
Âm nhạc từng gắn kết vòng bạn bè Hà Nội của ông – nhưng chỉ trong một thời gian. Đến giữa thập niên 1960, chính quyền bắt đầu siết chặt ngay cả những buổi hát tại nhà.
Tháng 3 năm 1968, ông bị bắt. Khi đó mới hai tháng sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân không đạt được chiến thắng quyết định như miền Bắc mong muốn bất chấp các cuộc tấn công bất ngờ phối hợp vào các thành phố lớn và căn cứ quân sự của Mỹ.. Ông và hai thành viên ban nhạc của mình (gồm cả một ca sĩ hát đám cưới), cùng một số người khác, bị thẩm vấn rồi giam giữ.
Các tài liệu báo chí thời đó cho thấy họ bị xử theo một luật mới – được công bố sau khi họ bị bắt – quy định án tù dài hạn cho các tội như “truyền bá tâm lý chiến của địch” và “khuyến khích văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc”.
Ông Lộc, trong lúc trò chuyện bên tách trà xanh tại căn nhà nhỏ nằm trong con hẻm của mình vào giữa tháng Ba, đã mô tả vụ án này như một trò hề.
“Họ không có bằng chứng. Chỉ toàn tin đồn,” ông nói.
Họ bị đưa vào nhà tù Hỏa Lò, một trại giam khét tiếng mà lính Mỹ đặt biệt danh là “Khách sạn Hilton Hà Nội”. Sáu tháng sau, chính quyền yêu cầu họ biểu diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội để các nhạc sĩ nhạc “đỏ”, hay nhạc cách mạng, tìm hiểu vì sao nhạc vàng lại phổ biến. Nhóm đã hát khoảng 10 bài, và chính quyền ghi âm cẩn thận.

Ông Lộc trước Nhà hát Lớn Hà Nội. Năm 1968, ông cùng các bạn nhạc đã biểu diễn 10 ca khúc tại đây; những bản trình diễn ấy được nhà chức trách ghi âm cẩn thận – rồi sau đó dùng làm chứng cứ buộc tội họ.

Một bức ảnh chụp ông Lộc châm thuốc cho người bạn nhạc Phan Thắng Toán sau khi cả hai được thả khỏi nhà tù.
“Chúng tôi nghĩ mình đúng, vì giờ họ muốn nghe,” ông nói. “Chúng tôi vui lắm.”
Họ tưởng sắp được thả.
Nhưng ba năm sau, tại phiên tòa năm 1971, chính những bản ghi âm ấy trở thành chứng cứ.
Ông Lộc cho biết, công tố viên đã bật nhạc của họ ở âm lượng nhỏ và tốc độ bị bóp méo, sau đó lại bật nhạc tuyên truyền thật to qua hệ thống âm thanh chất lượng cao, để chứng minh tại sao nhạc vàng yếu đuối, còn nhạc xã hội chủ nghĩa thì mạnh mẽ.
“Tôi thấy nóng bừng cả tai và mặt vì sự gian trá đó,” ông nói. “Họ gài bẫy chúng tôi.”
Ông rót thêm trà. Trên tường treo một bức chân dung khắc gỗ Văn Cao — nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, tác giả quốc ca Việt Nam năm 1944, và từng bị đưa vào “danh sách đen” sau khi đòi hỏi tự do biểu đạt vào những năm 1950.
“Tôi nhận bản án nhiều năm tù nhất,” ông Lộc kể với chúng tôi. “Mười năm vì tòa án nói rằng các nhạc công chỉ chơi nốt nhạc, còn tôi mới là người hát các bài hát.”
Trong trại lao động, lính canh gọi ông là kẻ ngoan cố. Họ đề nghị tù nhân hát nhạc cách mạng để được làm việc nhẹ hơn. Một số đồng ý. Ông thì không.
“Tôi không thể hát những bài khuyến khích giết chóc. Tôi không thể nhớ nổi chúng.”
Khi không ai nhìn thấy, ông hát một mình để giữ tỉnh táo. Ông đào một cái hố nhỏ trong đất và “đổ” những bài hát yêu thích vào đó, rồi lấp lại.
Sau Hiệp định Paris 1973, án tù của ông được giảm. Ông được thả ngày 27/3/1976 sau 8 năm tù.
Âm nhạc vẫn theo ông suốt đời. Ông luôn giữ vẻ ngoài chỉnh tề, sẵn sàng biểu diễn bất cứ lúc nào. Ông kết hôn với người phụ nữ từng nghe ông hát từ thập niên 1960, và có hai con.

“Tôi không thể hát những bài khuyến khích giết chóc,” ông Lộc nói. “Tôi không thể nhớ nổi chúng.”

Ông Lộc cho xem những bức ảnh về các buổi biểu diễn trước đây của mình và những bức chụp ông cùng các nghệ sĩ khác.
Con trai của họ, Nguyễn Quốc Linh, 44 tuổi, một nhạc sĩ nhạc jazz kiêm giáo viên, cho biết dàn âm thanh tại nhà của gia đình, với băng từ và loa lớn, giống như một người thân trong gia đình, luôn hiện diện và trò chuyện. Một trong những ký ức đầu tiên của anh: ngồi đối diện với dàn loa, đắm chìm trong âm nhạc và vô tình tè ra quần.
“Tôi thoát tội vì tôi còn quá bé,” anh nói.
Cuối những năm 1980, chính sách tự do hóa kinh tế của Việt Nam đã mở ra nhiều không gian hơn cho sự thể hiện nghệ thuật, và nhạc vàng đã phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhưng ông Lộc vẫn chưa thể biểu diễn một cách tự do.
Ông thử hát ở các quán bar, nhưng cảnh sát không cấp phép. Giữa những năm 1990, ông mở quán cà phê riêng, nhưng lại được thông báo cảnh sát sẽ bắt giữ nếu ông cố hát ở đó. Ông mở quán cà phê, nhưng bị cấm hát.
Cuối cùng, vào năm 2008, ông mở một quán cà phê để có thể lên sân khấu biểu diễn. Năm 1971 ông từng nói với chính quyền rằng mình luôn muốn thúc đẩy sự phát triển âm nhạc cùng với phần còn lại của thế giới. Bây giờ, thay vào đó, ông trở thành người bảo tồn các bài hát từ thời tuổi trẻ của mình, mở hết quán cà phê này đến quán cà phê khác. Tất cả đều đóng cửa. Quán cuối cùng của ông không thể vượt qua được đại dịch.
Trên hành trình ấy, dòng nhạc ông yêu thích đã có một sự hồi sinh nhẹ nhàng. Năm 2017, một nhóm văn hóa đã mời ông Lộc trở lại Nhà hát Lớn Hà Nội để biểu diễn nhạc vàng.
Được con trai đệm đàn guitar, ông đã hát hai bài từng bị sử dụng để kết tội ông. Rồi ông kể với con trai về lần xuất hiện ở Nhà hát Lớn năm 1968 và lý do tại sao lần trở lại nàylại khiến ông rơi nước mắt. Ông Lộc nói: “Đối với tôi, đó là một chút trả thù cá nhân — để lấy lại danh dự của mình”.
Tháng trước, tại nhà bạn ở Hà Nội, ông Lộc lần lượt hát vài bài, luân phiên với những người biểu diễn khác. Ông đi lại trong phòng như một người đứng đầu gia đình đầy tự hào trong một đám cưới.
Có lúc, giữa các lượt biểu diễn, ông vẫy tay chào một người hâm mộ đang bị kẹt ở Dubai, người này tham gia qua cuộc gọi video vì cuộc chiến giữa Mỹ–Israel và Iran.
Những buổi diễn giờ diễn ra đều đặn, không còn bị công an can thiệp – điều nhiều người coi là chiến thắng.

Những bức ảnh về các nhạc sĩ yêu thích của ông Lộc được dán kín trên các bức tường ốp gỗ của câu lạc bộ âm nhạc.

Ông Lộc, 81 tuổi, là người hát cuối cùng và bền bỉ nhất của dòng nhạc đầy cảm xúc từng định hình Hà Nội trước và ngay sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954.
Nhưng đối với ông Lộc, nỗi buồn vẫn còn đó. Ông nói, công lý có nghĩa là chính phủ phải xin lỗi – vì những năm tháng ông phải ngồi tù và những hành vi quấy rối sau đó. Năm 2017, ông được mời hát tại một quán bar ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng khi đám đông kéo đến, cảnh sát đã không cho ông biểu diễn và rút dây micro khi ông cố gắng nói chuyện.
Ông nói đó là dấu hiệu cho thấy Việt Nam giả vờ cởi mở hơn thực tế. Nhưng âm nhạc vẫn tiếp tục vang vọng. Khi màn trình diễn kéo dài, giọng hát của ông càng mạnh mẽ hơn. Say đắm (đó là cách ông mô tả màn trình diễn của mình), ông nhắm mắt lại mỗi khi cao trào, giọng hát truyền tải những lời ca sẽ càng đau lòng hơn nếu những nốt nhạc không ngọt ngào đến thế.
Ông hát: “Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày là đến với đớn đau. Nhưng sao trong ta cứ vẫn yêu vẫn nhớ?”.