Phân thân và Đối thoại trong Bài thơ Không của hoàng hôn của Đoàn Huy Giao

Nguyễn Minh Hùng

1.

Đề từ “tôi nhìn bầu trời xanh và công việc rộn rịp trên đồng ruộng, tôi đoán biết tai ương của anh trong các thành phố” – câu thơ này của Arthur Rimbaud[1] – chính là nguyên nhân cho nhan đề Bài thơ Không của hoàng hôn của Đoàn Huy Giao. Dòng thơ đó Rimbaud tạo nên một thế đối lập rất rõ: bầu trời xanh – tai ương; đồng ruộng – thành phố; tôi nhìn (trực diện) – sự linh cảm (suy đoán). Tai ương không đang nổi dông bão trên đồng ruộng mà đang ở cuộc sống phố phường. Đề từ có điểm nhìn rất xa, còn nhan đề kéo người đọc về đúng thời điểm xảy ra biến cố; đề từ mở ra không gian, nhan đề xác lập thời gian. Đề từ đã dự báo về một thế giới đang rạn nứt nhằm “ủng hộ” cho phủ định quy thuộc: Bài thơ Không của hoàng hôn. Chưa vào dòng đầu, nó đã hé lộ mối liên hệ nghịch hướng của vũ trụ và nhân sinh; hoàng hôn trở thành một trạng thái tinh thần làm nên cảm hứng thoát khỏi bóng tà huy êm đềm tồn tại cả ngàn năm trong thi ca trung đại, tạo nên trường dự cảm bao trùm toàn bộ tác phẩm. Mượn thơ Rimbaud làm đề từ là đồng thanh tương ứng: tai ương của anh chứ không phải tai ương trong các thành phố! Từ đó, chủ thể anh và nhân vật trữ tình em sẽ tạo nên mối liên hệ khá đặc biệt với cấu tứ của bài thơ dài 347 dòng này.

2.

Anh yêu em/ như yêu/ một thị tộc vô minh/ […]; Ngày về, em ơi… Em hiện thân đa dạng: Em – đồng cỏ, Em – rừng cây, Em – mùa lúa, Em – sữa mẹ, Em – ánh sáng, Em – sự sống, Em – niềm tin, Em – tổ chim… Anh cũng không phải một cá thể: Anh – Trăng đô thị ngụ cư […], Anh hút/ tinh chất thị dân nông nghiệp/ Trái tim thị dân nông nghiệp anh… Anh mang hai căn tính: thị dân – nông nghiệp đứng chênh vênh giữa hai nền văn minh, luôn gắn với thành phố, bê tông, đầu đạn, chiến bại, nguyệt thực, xung đột, ngôn từ, lịch sử. Đó là hai hệ thống biểu tượng đối chọi. Anh trong thực tại biến động dữ dội của lịch sử, của thời đại; Em là điểm nhìn, chứng nhân hoặc người lưu giữ ký ức như một quan hệ tri nhận đồng thời là hai cực của cùng một cái tôi, là phân thân thành nhiều giọng nói, thành đối thoại nội tâm. Anh đang bất ổn giữa đời sống xáo trộn; Em là bản nguyên của tự nhiên, con người, tình yêu và thi ca. Anh và Em có mối quan hệ triết học trong cấu tứ đối lập và đối xứng của hình tượng: Bài thơ này/ là khuôn mặt/ em/ Cùng đánh rơi vào/ khuôn mặt/ anh… Bài thơ không còn kể chuyện hai người mà kể về hai phương diện nhân loại. Cấu tứ đã vượt khỏi khuôn khổ trữ tình cá nhân để chạm đến những vấn đề rộng lớn của thời đại – một loại chứng cứ nội tại văn bản.

Cấu tứ không phát triển bằng cảm xúc mà bằng sự cố từ đoạn 1 đến đoạn 6: anh đi xa – gặp em – mất em – tìm em: Anh… ngậm ngải tìm em trên đồng bãi/ Khi ngước nhìn lên thiên hà Anh gặp em/ Em có nghe gì không?/ Cứ để yên làm sao em sống sót… Đây là mô hình cấu tứ xuyên suốt tạo vòng tuần hoàn của đánh mất – kiếm tìm – gặp gỡ – đánh mất. Nên Em ngày càng trở nên phi vật thể. Ban đầu, em còn rất… cụ thể: mùi, dầu thực vật, sữa mẹ, đồng cỏ; về sau, Em trở thành thứ mơ hồ: niềm tin, tình yêu, tổ chim, câu thơ, ánh huy hoàng. Đến cuối cùng, Hãy tìm kiếm mi trong câu thơ ta bỏ sót. Em gần như đã nhập vào chính bài thơ, nói cách khác, đối tượng kiếm tìm cuối cùng là ai mà không là ai khác?… Anh cũng không bất động mà luôn báo động. Đầu bài thơ, Anh hút mật, cày xới, tìm em; giữa bài, Anh chứng kiến, chiến tranh, đầu đạn, nguyệt thực; cuối bài, Anh chỉ còn lời nhắn, Ta chào mi. Hãy tìm kiếm mi… Điều đó có nghĩa, Em luôn phía trước, là đích đến, là cứu rỗi, là cái đẹp, là sự sống…; Anh luôn ở trạng thái chơi vơi, hẫng hụt, tan chảy… Đó là hành trình từ người sống trong sử lịch đến người thác gửi thông điệp tương lai, là cuộc hành hương tinh thần sự sống và bản thể thi ca. Hãy để ý một dòng thơ trong đoạn 1: Anh/ và Em/ là gương mặt khác/ giả hình/ Sau nhiều cuộc giao đấu sống còn/ Hàng hàng khẩu khí. Đây có lẽ là chìa khóa để đọc cặp đại từ này. Tác giả dường như chủ động phủ nhận việc hiểu Anh và Em như hai cá thể tách biệt; họ là gương mặt khác. Đó chỉ là những hình thức biểu hiện cho một thực thể, là cuộc đối thoại của con người với lương tri trong một thời đại đầy xung đột; là chiều sâu triết học làm nên sự trĩu nặng của một áng thơ dài.

3.

Mơ hồ đã nghe ra nỗi ẩn ức và niềm biểu lộ đan xen của chủ thể nghệ thuật. Trước hết là tiếng kêu về sự chia cắt giữa con người và bản nguyên. Ngay từ đầu bài thơ, hai thế giới đã được đặt cạnh nhau: đồng cỏ, rừng cây, khe trong, mùi, mật/ đối lập với trăng đô thị ngụ cư, thị dân, thành phố không người… Điều đáng chú ý là cái tôi không hoàn toàn thuộc về bên nào, phe nào. Anh hút tinh chất thị dân nông nghiệp, hiểu cách khác, chủ thể đang sống trong một trạng thái lai ghép mất nơi cư trú tinh thần. Cái mất không nhỏ, đến hy vọng cũng bị giẫm đạp chút le lói cuối: Ngày về, em ơi!/ cái cuối cùng ta tìm thấy/ chỉ là cái chấm trắng hoa nhài/ thơm bạo liệt/ trên trang giấy tinh khôi/ bên bờ dậu hư hao miền cây trái/ giả hình. Ẩn ức trước bạo lực của nền văn minh được cả một trường từ vựng xuất hiện với mật độ dày đặc: đầu đạn hạt nhân, chiến bại, bê tông, xi măng, cốt thép, đầu lâu, hành quyết, chết não, hủy diệt, xung đột… Không phải thơ phản chiến mà phản vệ tình trạng tinh thần sau chiến tranh và đang nhảy vào một nền văn minh cơ giới hóa và công nghệ – Cái chết não toàn phần/ những rặng núi đầu lâu văng từ trong máy trộn/ bê tông và hành quyết… Niềm đau xã hội lùi lại cho nỗi đau văn hóa… Nhưng đó cũng chưa phải là tầng sâu nhất của bài thơ chất chứa bộn bề ngổn ngang nhiều thứ và có vẻ thiếu mạch lạc như bài thơ này. Nhiều lần tác giả nói đến chuyện có vẻ không liên quan trong một câu rất đáng chú ý: Anh không muốn làm cách tân trên giá vẽ/ Cho ngôn từ/ đánh đu/ nước mắt kỉ hà/ ngậm ngải tìm em trên đồng bãi. Nghệ sĩ không phủ nhận cách tân mà phủ nhận cách tân trò diễn – Chúa thượng ngàn thò cái lưỡi cải biên/ vào trận cười “bắc kim thang”/ một thời đại/ thi ca/ trò đất đai trào lộng. Ở đây là thái độ tự phản tỉnh, thơ sẽ đi về đâu nếu chỉ còn kỹ xảo ngôn từ phi lý – một ẩn ức rất đặc trưng của thơ hậu hiện đại đang vào mùa cỏ dại mọc lẩn lá hoa. Trường tư duy dẫn dắt đến sự bất lực khiến một motif lặp đi lặp lại: tìm em/ gặp em/ gọi em/ chờ em… nhưng rất hiếm khi Em thật sự được giữ lại và ở lại: Lấy từ đại dương/ bên cửa sổ nhà em/ những trạng từ anh muôn chim/ Tập bay/ trong vùng cấm/ Rồi những trạng từ kia/ cũng lặng lẽ/ ra đi/ trong ảo vọng/ suy tàn. Thế rồi Chẳng có cuộc giải cứu nào/ hiện ra/ Chẳng có mảnh vỡ hay mầm sống nào/ chen vào […] Khát vọng/ cánh phượng hoàng rực lửa/ lao đi/ Hoa xoan trên làn môi ứa nhựa tháng Giêng/ ngất ngây/ từng bầy/ rắn độc. Các dòng thơ vừa phủ định tư tưởng cứu rỗi dễ dãi, không cứu tinh, không có phép màu, nhạt nhòa cứu cánh thảng thốt nỗi cô đơn hiện sinh.

4.

Bài thơ không viết hay kết thúc trong tuyệt vọng hoặc nỗi bi quan chống trả mà trong cơn đau tâm hồn triền miên mong muốn đi tìm phương cách, đi tìm lối thoát trong thi ca – nơi chứa nỗi buồn và cô đơn không giới hạn vì luôn tự loại bỏ cái đã lỗi thời, vì luôn ánh lên vẻ đẹp chói chang sáng tạo. Từ đoạn 3 trở đi, thi sĩ đã gửi vào những mẫu tự cuồng si/ máu chảy; mặc dù Câu thơ/ Rơi một dấu chấm than (!)/ cuồng điên bên bờ vực thẳm. Những thác gửi theo cách cuồng vọng là đỉnh cao của khát vọng chen ngang khúc bi ca: Anh để lại đây dụ ngôn bên lề/ vĩnh biệt!/ Anh để lại lời nguyền/ Đêm của ngày dài chiến bại/ quạnh hiu/ nằm im trong ngôn từ/ chiến bại. Và Anh quyết níu giữ: Hãy để yên!/ Hãy để yên!/ núi đồi mênh mang muôn trùng/ thác dội/ Để yên ngàn sao nỉ non vừa thức dậy/ Gió đông dương ràn rạt/ xuống đồng bằng. Và Anh gặp phản kháng không còn đường chống đỡ: “Sao cái gì anh cũng bảo để yên/ Cứ để yên làm sao em sống sót”. Anh – thi sĩ đương đầu với mâu thuẫn cuối: Trái tim xung đột cõi hư vô; Những xung đột ngôn từ/ khóc đại dương tận cùng đáy sóng. Đó là xung đột lớn nhất, bi kịch nhất của người nghệ sĩ!… Cuối bài, nhà thơ viết: Đừng tìm kiếm hư vô/ trong hang kiến trúc dã nhân này./ Hãy tìm kiếm mi/ trong câu thơ ta bỏ sót./ Bài thơ Không của hoàng hôn. Một lối kết không để lại đáp án nào ngoài một-khoảng-trống mở lối người đọc bước vào, rơi vào nơi bài thơ dừng lại và kẻ tiếp nhận bắt đầu một cuộc hành trình đi tìm chấm trắng hoa nhài thơm bạo liệt trên trang giấy tinh khôi. Ở đó, chạm trổ giằng xé một thân phận trí thức trước sự đổ vỡ căn tính văn hóa, một thi sĩ giằng xé về con đường thi ca, một chủ thể đứng bên lề tuyệt vọng nhưng không chấp nhận hoặc tự ru ngủ, một người đi tìm bản nguyên giữa một thế giới đang bị phân mảnh nhanh chóng không kịp trở tay…

Cao hơn tất cả, không phải ý tưởng, không phải tư tưởng, đó là cuộc đi tìm mới của Đoàn Huy Giao trong ngôn ngữ thi ca mà ông gửi lại.

Suốt bài thơ, tác giả nhất quán với anh/ em/ ta nhưng đến mấy dòng cuối lại xuất hiện mi (phương ngữ nghĩa là mày). Mi là một tầng chủ thể khác, sâu kín nhất, không phải cái tôi xã hội – lịch sử, không phải cái tôi – thi sĩ mà là cái tôi nguyên sơ – self beyond identity. Con người đã xây nên một hang kiến trúc văn minh đồ sộ và tự làm kiếp dã nhân như một nghịch lý thời đại. Mi không ở đó mà ở trong câu thơ ta bỏ sót – điều luôn nằm ngoài ngôn từ khi nhà thơ tiệm cận sự thật. Cuộc kiếm tìm ấy khốn khó đến nhường nào! Nó chỉ hiện ra sau khi mọi ảo tưởng sụp đổ. Khởi đầu bài thơ là mùi, kết thúc bằng câu thơ bỏ sót; một bên là giác quan nguyên thủy, một bên là ngôn ngữ bất lực. Toàn bộ hành trình của bài thơ chính là từ cảm giác nguyên sơ đến sự bất lực của ngôn từ. Và chính trong khoảng trống ấy, Mi xuất hiện. Một giả thuyết khác, Mi còn có thể là người đọc. Tác giả yêu cầu có phải chính người đang đọc: Hãy tìm kiếm Mi…? Như vậy, chủ thể đã trao cây gậy tiếp sức cho độc giả; cuộc kiếm tìm không khép lại mà được chuyển giao. Từ khoảnh khắc ấy, bài thơ dứt lời tự bạch cái Tôi để trở thành hành trình tiếp diễn cho độc giả đúng nghĩa của quá trình tiếp nhận ngôn bản. Còn điều gì nằm trong câu thơ ta bỏ sót, có mối liên hệ nào với quan niệm văn chương? Thơ không phải là nơi cất giữ chân lý trọn vẹn mà là nơi gợi mở phần chân lý không thể nói hết; Mi không phải một đối tượng có sẵn để tìm thấy mà là một khả thể được đánh thức trong mỗi con người. Sự khốn khó của nó không nằm ở quãng đường mà ở chỗ người đi tìm phải lần lượt từ bỏ mọi căn cước, mọi ý thức hệ, mọi ảo tưởng về quyền lực, kể cả ảo tưởng về ngôn ngữ, để cuối cùng chỉ còn đối diện với khoảng trắng của câu thơ bỏ sót. Đó cũng là một ý nghĩa nhan đề Bài thơ Không của hoàng hôn – hoàng hôn không phải là kết thúc của ánh sáng mà là thời khắc ánh sáng hữu hình bất lực nhường chỗ cho cuộc kiếm tìm ánh sáng nội tâm.

5.

Bài thơ này đứng ở đâu trong dòng chảy thơ Việt đương đại khi và chỉ khi trả lời được câu hỏi vừa đặt ra trên đây. Tôi nghĩ, đó là cái dị biệt chứ không hẳn chỗ mới của bài thơ – mới có thể chỉ khác về kỹ thuật còn dị biệt là khác về cách tư duy thơ, là yếu tố cội rễ của cái mới. Đa số thơ Việt đương đại vẫn đi trên hai con đường: “kể một câu chuyện” để bộc lộ tâm trạng hoặc ngay cả những bài thơ cách tân vẫn thường lấy “cái tôi” làm trung tâm. Bài thơ Không của hoàng hôn gần như phá vỡ điều đó. Đoàn Huy Giao tổ chức bài thơ bằng những trường biểu tượng; cấu tứ vận hành theo logic của vô thức; hình ảnh không nối nhau bằng quan hệ vốn có; chúng nối nhau bằng ký ức, liên tưởng, trực giác và cơn mơ. Nên phải đọc bằng sự dẫn dắt của cả tiềm thức và tiềm lực cá nhân mới thấy sự thống nhất của bài thơ. Thi pháp Bài thơ Không của hoàng hôn rất gần với thơ hiện đại châu Âu sau chủ nghĩa tượng trưng và chưa phổ biến nhiều trong thơ Việt đương đại. Ngẫm kỹ sẽ thấy, tác giả không mượn biểu tượng để làm đẹp câu thơ, mỗi hình tượng đều có lịch sử văn hóa để kéo người đọc về thời khởi nguyên và đẩy người đọc vào nền văn minh hiện đại giữa hai cực va chạm liên tục. Bài thơ đã đặt thi ca vào trung tâm của một cuộc khủng hoảng lớn thường ít gặp trong thơ hiện nay. Chiến tranh, đô thị hóa, con người tha hóa… không phải là mục tiêu mà là điều kiện để đặt câu hỏi: Thơ sẽ làm gì và bằng cách nào? Đây là thơ tự phản tỉnh về chính thơ, là ý thức mỹ học hiện đại – điều mà tôi cho là độc đáo nhất về tư duy cấu trúc của thi phẩm này. Toàn bộ bài thơ giống như một đường xoắn ốc, mỗi lần quay lại là ở một tầng cao hơn với một vòng xoáy mới – một cấu trúc rất khó viết. Tuy nhiên nếu chỉ dừng ở đó thì bài thơ vẫn chưa thật sự khác biệt. Điều khiến bài thơ có khả năng đứng riêng với không nhiều tác phẩm thơ Việt hiện nay là nó không thuộc hẳn một khuynh hướng nào. Không hoàn toàn tượng trưng, không hoàn toàn siêu thực, không hoàn toàn hậu hiện đại, không phải thơ ý niệm, cũng không phải tân hình thức. Tác giả (không cố ý) sử dụng nhiều yếu tố của các khuynh hướng ấy nhưng không lệ thuộc vào một hệ mỹ học duy nhất. Chính sự không chịu đứng vào “hàng ngũ” đã tạo nên bản sắc. Và câu hỏi đặt ra: Bài thơ Không của hoàng hôn tạo nên một bước ngoặt của thơ Việt đương đại? Khẳng định điều này không thể căn cứ giá trị nội tại của bài thơ mà phải đặt vào lịch sử tiếp nhận: thơ có được công bố rộng rãi hay không, có ảnh hưởng đến những người viết sau hay không, có được giới phê bình phát hiện và đối thoại hay không, có sống được trong ký ức văn học hay không… Đó là những yếu tố nằm ngoài văn bản mà tác giả dù tài năng đến mấy cũng không tác động đến được. Giá trị độc đáo của Bài thơ Không của hoàng hôn không nằm ở việc sáng tạo thêm một hệ hình ảnh mới mà ở việc kiến tạo một mỹ học kiếm tìm. Trong mỹ học ấy, thơ không còn là nơi phát biểu chân lý hay giãi bày cảm xúc mà trở thành hành trình truy vấn bản thể của con người giữa sự đổ vỡ của các giá trị hiện đại. Chính vì thế, cái còn lại sau khi khép bài thơ không phải là một thông điệp, mà là một câu hỏi. Và một bài thơ còn để lại câu hỏi trong tâm trí người đọc thường có sức sống lâu hơn một bài thơ để lại câu trả lời. Điểm độc đáo nhất của bài thơ không phải ở những gì tác giả nói, đã nói, muốn nói mà ở cách nhà thơ buộc người đọc phải tham gia cùng hoàn thành tác phẩm. Mi, Em, câu thơ ta bỏ sót cho đến nhan đề phủ định Bài thơ Không của hoàng hôn và cả đề từ nữa, tất cả đều là những khoảng trống có chủ ý. Tác phẩm chỉ thực sự hoàn tất trong quá trình đọc và giải mã văn bản. Điều đó buộc ta phải đọc chậm, đọc kỹ và luôn tự hỏi rằng, điều này có thực sự được văn bản nâng đỡ không? Bài thơ Không của hoàng hôn có ba lớp giá trị chồng lên nhau: thi ảnh, triết luận và thi pháp.

Lớp thi ảnh rất giàu sức liên tưởng, đôi khi dày đặc đến mức tạo cảm giác tham lam và trùng lặp.

Lớp triết luận gồm những suy tư về văn minh, chiến tranh, thiên nhiên, ngôn ngữ và thân phận con người.

Lớp thi pháp (quan trọng nhất) là bài thơ tự đặt câu hỏi về chính thơ. Không chỉ sáng tác một bài thơ mà còn đặt câu hỏi: sau những đổ vỡ của thời hiện đại, thơ còn có thể làm gì, làm được gì!… Lớp thứ ba khiến nhớ đến Octavio Paz[2]: “Thơ không chỉ là ngôn ngữ, mà là một cách tồn tại của con người”.

Bài thơ không dễ được nhiều người yêu ngay từ lần đọc đầu tiên, có người sẽ thấy mệt nhọc. Nhưng đó lại là dấu hiệu của một tác phẩm có giá trị: nó không tiêu hết năng lượng sau một lần đọc và nó làm bất ổn chính người phát ngôn, nó không cho phép người đọc xác lập một chủ thể duy nhất. Thơ ấy khiến người đọc muốn quay lại, muốn tìm kiếm, muốn suy tư và mỗi lần trở lại phát hiện một mạch ngầm khác dẫn đến một dòng chảy khác.

6.

Bài thơ Không của hoàng hôn tự thân nó, không phải mục đích tác giả, có tham vọng nghệ thuật lớn nên vẫn có chỗ để những nhà phê bình kinh viện (thường ít làm thơ) soi tìm một số nhược điểm (không có bài thơ toàn mỹ). Đó là sự quá tải bất khả kháng khi huy động mật độ hình ảnh, hình tượng dày đặc và mỗi hình tượng đều có khả năng mở rộng trường ngữ nghĩa; người đọc chưa kịp sống cùng một hình tượng thì đã bị kéo sang hình tượng khác. Bài thơ có những câu vừa mới mẻ vừa giàu sức gợi nhưng cũng có những đoạn tác giả đang cố đẩy ngôn ngữ đi xa hơn sức chịu đựng của chính nó khiến ý niệm đôi khi chấp nhận buông bỏ nhạc tính và cảm xúc. Có những câu đạt đến mức cực cô đọng, có sức nén rất lớn, ngược lại, một số đoạn triển khai ý tưởng bằng nhiều lớp liên tưởng liên tiếp, khiến năng lượng bị phân tán, có cảm giác tác giả không muốn bỏ đi bất cứ phát hiện nào của mình, nhiều hình ảnh vốn đã rất ấn tượng sẽ không phải cạnh tranh nhau để giành lấy sự ưu ái của tác giả và mối quan tâm của người đọc. Thi ca thường chạm tới đỉnh cao khi người đọc có cảm giác không thể thay hình ảnh này bằng hình ảnh khác, không thể thêm một từ cũng không thể bớt đi một chữ. “Thơ không chỉ là nghệ thuật của việc tìm được chữ mà còn là nghệ thuật của việc từ bỏ những chữ chưa thật cần thiết” (Paul Valéry)[3].

Nhưng thơ nói chung, thơ và bài thơ này, nói thật là không dành cho người đọc bình thường./.

Đà Nẵng, 29/7/2026

[1] Arthur Rimbaud (1854-1891), nhà thơ Pháp, người đặt nền móng cho chủ nghĩa tượng trưng và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho trường phái siêu thực.

[2] Octavio Paz Lozano (1914 – 1998), nhà thơ, nhà văn México, giải Nobel Văn học 1990.

[3] Ambroise Paul Toussaint Jules Valéry (1871 – 1945), nhà thơ, triết gia, nhà văn Pháp, giáo sư Thi ca học tại Collège de France.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.