Đất nước tràng hạt (kỳ 5 – hết)

 Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 6

Trường Ca Trường Chinh

 

   

Bất độc (đáo) bất trường ca[1]                                                                                        (mà cái trường ca tạng này dễ bị gọi là chán chường ca)

Bất đáo trường ca phi hảo hán[2]

(mà cái trường ca dạng này thường bị coi là chướng ca)

*

… Trường ca gia                                                                                                         ơi trường ca gia                                                                                                          đã ra khỏi chưa cơn chữ thừa ngủ thiếu

Bốn giờ kém hai mươi ba/ 4 giờ kém 23

tức 3 giờ 37

 

đồng hồ sinh học dậy thì

Ca Nà Điên điên thời tiết

 

Desktop[3]

(thảo một bản trường ca hẳn hoi phải xài chủng loại diện tích to

mặt bàn con con cỡ một phần ba

laptop xịn nhất cùng lắm vừa mặt thớt)

kia desktop đêm đông đen màn hình

bờ tây Gia Nã Đại buốt cong đường bê tông

một đêm đông đen ngóng chữ

 

Lời thơ nhanh lấn lên hàng thơ vội

hàng thơ vội nhập nhòa lời thơ nhanh

Phật độ viết ào ào

bật mí nào lấy thảo

bảo cho mà nghe

một bí kíp nhà nghề

 

Nháp ẩu các mẩu trường ca

trang giấy lịch luôn là tốt nhất

tại sao

(lý tưởng

các tờ lịch rớt rơi từ năm trước năm kia)

 

Dễ ợt

và bạn đọc có quyền gọi điện thoại nhận trợ giúp từ người thân bạn thiết

(về thơ thẩn họ cũng cần gọi là biết viết)

vừa hỏi vừa trả lời 30 giây bắt đầu[4]

lẹ lên kẻo hết…

 

… “Trường Ca Trường Chinh”

(nick[5] tặng trường ca gia ta

gióng vang mặt bàn thơ mới

ngỡ lốc tuyết giữa trưa xuân

bởi một thanh âm nguồn ba tập trường ca phủ các tháng năm vừa tuyệt tự

Trường Chinh Trường Ca

Hu

ha

hu

ha…

 

Hu ha ta nợ một bà

tuổi hơn tầm dăm ba

vóc lưng cong đất mẹ

ắt là từng mắn đẻ

(úi nhạy cảm khỏi xin lỗi à nha

ngoại thất thập cả rồi tình trạng tâm lý ô kê xử thế xử sự miễn đừng xử tử còn tự xử chuyện nhỏ con thỏ Tây đui kêu là chuyện pơ-xôn-nồ[6] mỗi khi định nói điều gì hay sinh sự việc chi sẽ rất nhi nhiên biểu hiện đúng chủ tâm muốn sao được dzậy và còn hơn dzậy nữa mà hổng bao giờ vượt thắng khuôn thức đạo lý nhân gian)

 

Bà bến Ninh Kiều chợ nổi Cái Răng[7]

nữ thường nhân bán vé dạo đường chiều

 

– … Tây Đô[8] gió lộng sông nhiều

lục bình trôi hết bao nhiêu mắt buồn

 

Hò ơ xứ nào rầu bằng xứ Cù Lao                                   

tiếng muỗi vang như ống sáo diều[9]

 

– Không

không thể lấy cho bà xấp vé cuối

hoàng hôn nhanh hơn một lời mời cố

bà ơi

 

Tôi đã không thể rồi

tệp vé số mỏng thôi

chộn rộn tâm thân nơi nào đặt để

chỗ này

chỗ kia

chuyến hẹn dài vũng biển hải tần

thăm thầy cũ độ lâm chung[10]

mãi nhủ

chỗ kia

chỗ này

liệt kê hết sẽ thành kẻ bất tài vô sỉ

 

Đụng nhau đôi ba chục năm trước kiểu thuyết âm mưu giả dụ

rằng thì mà là

bà và tôi hoặc tôi và bà

nên duyên

có thể

thì cái duyên bờ kênh bến nước

miền Tây đan quyện

ngả miệt vườn

“Qua biểu nghe…”[11]

(lời truyền bảo từ đạo hữu hiền nhân

bận câu nguyền không dối già cố quận)

 

– Lục tỉnh mến khách lưu lạc[12]

đất lành chim đậu đời trôi

người ơi người ơi người ơi…

 

– Biết đâu tình trần[13] giăng lối

tôi mần thơ bà rao số

đặng không thả đi chiếc vé độc đắc đời mình

chúng ta sẽ năng sản dần dần

đàn con như đàn chữ đàn số[14]

 

qua biểu nghe nào

từng đứa từng đứa

nửa đàn con trai cá linh

bông điên điển nửa đàn con gái

dọc ruộng ngang sông mùa nước nổi

 

những cái cùng con chúng ta

như dòng thi sĩ tóc quăn quăn

mắt môi điệu nghệ

cha đàng ngoài mẹ ở đàng trong[15]

 

trăm con

nhưng mà

chúng ta phản biện tổ tông xửa xưa trước độ mang gươm đi mở cõi[16]

50 gái trai giữ sông

50 trai gái bám ruộng

 

– Tuần hoàn lẽ ấy chẳng xa

chớ đem nông nỗi mà ngờ cao xanh[17]   

 

– Thôi cho tôi xin

tôi xin để lại

xấp vé số kia chặn kiếp này

 

Như vừa để lại

những đứa con không tượng hình quá vãng…

 

những quảng trường

như Quảng trường Lưu Hữu Phước phố thị Cần Thơ thơ còn cần đến

thưa vâng

những quảng trường trống người đang đầy bản trường ca xếp đợi –

các bản trường ca khỏa thân

(hò dô nào ta cởi hẳn bác cả Maia ra)[18]

 

Để lại

đôi ba lá vàng từ mùa thu gần qua mùa thu xa

bởi rừng xanh nào cũng có một cây-thời-gian không tự rã…

 

Để lại

bao chuyến xe khách giường nằm

ba tỉnh cực Nam Cà Mau Bạc Liêu Kiên Giang ngang dọc

chặng cuối dậm chân vẫn ấm tiền nhân…

 

Để lại lời viếng đảo xa

ba lần bão giông ngăn trở

vết thương 38 năm đó

máu Tổ quốc còn rỉ đỏ…

 

(Tiện tay thơ nhắc nhỏ

phép tính số giản đơn

“2026 – 1988 = 38”[19]

phàm mang danh Việt Nam Nhân

kẻ dốt toán nhất toàn quốc cũng không đành ngậm bút)…

 

… Trường ca du ký

Ừa đã chín giờ mười lăm/ 9 giờ 15

rồi đấy nhỉ

Trường Ca Trường Chinh

5 tiếng 38 phút

Trường Ca Tràng Hạt

20 nghìn 2 trăm 80 giây

không nghỉ

(mô phỏng anh Hai Lành tí ti[20]

khi đã điều chú tiểu AI tính nhẩm rõ tài trong nửa sát na

một bề yên tâm chính xác nha anh Hai)…

 

… Trở lại với Cái Răng

 

Lại nhớ ngay và luôn

“Cần đánh răng luôn và

ngay dù dậy trễ vài giờ!”[21]

hễ nhời vợ dặn

phận chồng thực thi…

 

Lại nhớ xưa xa

thuở còn be bé

cố tình quên ắt lĩnh phạt cơm muối tới tận 3 ngày

5 anh em trai năm một ngũ tử trình làng

cứ hửi miệng nhau tha hồ kiểm tra chéo

khắp khu tập thể Trường Y tế Trung ương

mấy tên học sinh chuyên Toán nổi danh thói đãng trí ấy là anh em ta

nhưng lệ gia đình cao hơn luật tự nhiên

công bình thưởng phạt

của đáng tội cả họ

ông nội cha mẹ lẫn chị hai

à cả anh lớn nhập học Y khoa sơ tán Thái Nguyên rồi tự ý đổi trường

và hai cậu cùng cặp đôi chú cô

nhất nhất hành nghề thầy thuốc lương y đông tây thành thử

đến mệt lũ cháu con

mệt từ khe răng lọn tóc cho chí 4 lần 5 là 20 cái móng chân móng tay

mẹ cha thăng hà lẩu lâu (người Nam kêu là chết queo hết)

khi 5 anh em nhớn tướng nhưng mà dường như chưa thằng nào biết hửi miệng người yêu

giờ chú tám vô viện dưỡng lão chắc gì tay còn vững tự vệ sinh thân thể riêng chú út phải công nhận cô dâu út dân Hoa Chợ Lớn bồi bổ thứ chi mà răng lợi vẫn còn oách phết à già cả rồi anh em kiến giả nhất phận chứ như xửa xưa Tết rồi về thăm tắm chung thế nào cũng phải so đọ cái giống mẹ cha truyền cho xem khỏe yếu ra răng…

 

Lại nhớ mới đây

hội ngộ lần đầu bạn hiền đồng hương Việt tít hút hốc bà tó

(vùng lãnh thổ Yukon lạnh xun vòi răng va răng cầm cập)

họ Giang tên Thuần

(tiện thanh minh thanh nga một lần phủ sóng toàn bản trường ca

các tên họ dẫn ra đã được cải đổi tùm lum ngõ hầu bảo vệ thông tin cá nhân đúng chuẩn luật báo chí truyền thông xứ văn minh có hạng)

 

hiền nhơn Giang Thuần

Giang Thuần hiền nhơn

gà trống (lục thập tứ) nuôi con (giai nối dõi)

chuyện hiếm bác sĩ kiếm tiền cao ngất ngưởng vợ ba hay tư chuyện nhỏ xứ này

tin thì tin không tin thì thôI[22]

sau mỗi bữa chiều dài dai

(thường tiếng rưỡi

2 cha con như 2 anh em giai rủ rỉ

cơm canh cá rau củ quả đậm hương vị gia hương lục tỉnh Cửu Long Giang

từ chuyện do homework[23] toán lý Anh văn cho chí

cái quần dài màu cam ba thích con không thích bữa nào cũng lôi ra làm gia vị)

sau mỗi bữa chiều dài dai như thế

con kê ghế đẩu thấp tè mà đã cao ngang miệng cha bàng bạc tóc râu

cứ thế ông con ông cha nghiêm chỉnh trước gương bóng lộn

45 phút chiếm toa lét của người se phòng[24] cùng khách quý tỉnh xa

thực thi mục tiêu rõ ràng và bất di bất dịch đó là

sau dinner[25] một tiếng đồng hồ phải đánh răng chà lưỡi

đảo mệnh đề

phải chà lưỡi đánh răng sau dinner một tiếng đồng hồ

thì cũng vậy thôi

 

– “chưa 1 lần phải cậy nhờ nhà thương xứ này

cả 2 cha con tôi

anh nên nhớ

tôi hơn 40 năm đất khách rồi thi nhơn biết đấy

cháu nó a canadian man[26] sanh chuẩn xứ này luôn

tin thì tin không tin thì thôi anh nhé”

 

– “tin quá đi mà bạn ta

mần ơn nhường toa lét ngay nha

my doctor nhớ cho

tôi thì bị cái prostate[27] thổ tả hành hạ

hiền nhơn rành mà

các trường ca gia chúng tôi thường ưa nhín tiểu nhịn tè

mỗi khi dòng thơ thác chữ vụt ra

không xối xả hùng vĩ bậc nhì ba tư thế gian đổ thẳng từ 51 mét xuống kéo dài 790m như Niagara Fall với lượng nước thác khổng lồ lớn nhất thế giới không ngưng dừng đêm ngày tung bọt trắng phớ cùng tiếng vang động trời từ xa cả vài cây số vẫn có thể nghe được suốt một miền biên giới Ca Nà Điên – Mẽo quốc móc đôla triệu triệu hàng năm du khách

 

thì cũng là nguồn câu chữ điệu đà kiểu thác Bản Giốc nước đổ xuống từ độ cao 30 mét rưỡi như những dải lụa trắng khổng lồ bi (vì bị thiệt thòi không nhỏ trong tranh chấp với quốc gia láng giềng vĩ đại đồng chủ sở hữu) hùng (tất nhiên – nói một câu cho nó lành – bởi dân ta vốn vang danh dòng máu truyền thống hùng anh) chảy xiết theo các bậc thang đá mô tự nhiên nhấp nhô các rèm nước uốn lượn tách thành nhiều nhánh bọt trắng màu vành tang trong hơi nước bay mờ ảo đặc biệt mạnh vào mùa mưa tháng 7 cô hồn[28]

 

tiện bonus[29] cho Quý độc giả

ưa chơi trò Ai là triệu phú[30] Việt Nam ta

Venezuela

(quốc gia từng đóng đinh vào tâm trí dân miền Bắc ta với tên tuổi anh hùng Trỗi Hãy nhớ lấy lời tôi mà hiện giờ đang khốn khổ khốn nạn trong tay bác tổng Trump)

là nơi sở hữu đệ nhất phu nhân í lộn xin lỗi đệ nhất thác nước

Thác Angel độ cao toàn phần lên tới 979 mét (xém 1 ki lô mét giỡn à) mà đoạn đổ dốc liên tục dài nhất thế giới 807 mét

(tức là so với bên ngành trường ca chúng tôi thì xứng với cặp đôi sử thi Odyssey và Iliad sáng tác bởi Homer thiên tài thượng đẳng)

 

tin thì tin không tin thì thôi tùy anh và cháu…”

 

Biết rồi khổ lắm nhớ mãi

nhớ chà chậm kỹ đều từng chân răng hố lợi may sót lại tuổi này

kỹ và chậm và đều

nhé

như biên tập mỗi hàng thơ đã đang và sẽ viết

lại là thơ trường ca tầng tầng lớp lớp

ôi các hàm răng khấp khểnh “tranh nhau làm tổ trưởng” thơ ấu một đời

 

Biết rồi thích lắm nhớ mãi

bộ răng 10 triệu đồng bọ thửa cái vèo dăm tuần xài mấy năm trời vẫn đẹp như Kiều ngồi… x(em truyền hình trực tiếp U23 Việt Nam ta vô địch)[31]

bộ răng vài ngàn đô Mẽo lận mần cả 2 tháng mới được well done[32] lại còn qua vài tái khám (nhưng phải phục tài nó done well 2 đời tổng thống)

biết rồi thích lắm ca mãi

“Quê hương là hàm răng đẹp”[33]

 

Lời mẹ dặn

Răng miệng là cửa ngõ châu thân

 

Miệng lưỡi – tuyến đầu của tình yêu

Ấy lời thơ con

thưa mẹ…

 

… Ô đã hơn chín giờ mười lăm/ 9 giờ 15

nhiều rồi đấy nhỉ

một chương trường ca

(dẫu có là

Trường Ca Trường Chinh

Trường Chinh Trường Ca

Trường Ca Du Ký

Du Ký Trường Ca)

hẳn sẽ biết tìm nơi ngưng nghỉ

 

 

Trường Ca Tràng Hạt

Tốt lắm[34]

Trường Hạt Tràng Ca

Lành thay

Tràng Hạt Trường Ca

Thiện tai

Tràng Ca Trường Hạt

Xạ thu

                   

Chương Kết

 

Đường chiều đó về đâu mà biết

đấy chốn quê nhà giữ hồn thơ

khói mây sau cánh phi cơ

mỗi chuyến bay mỗi vòng tơ vương lòng[35]

 

… Bảy mươi chống gậy hồi hương

cố nhân ơi giữ lời thương nơi nào[36]

bảy mươi chống gậy tái hồi

cố nhân ơi gửi nơi nào lời thương

 

Bảy mươi chống gậy hồi hương

cố hương ơi nhớ một lời tri ân

bảy mươi chống gậy tái hồi

cố hương ơi lời tri ân muộn mằn

 

Bảy mươi chống gậy hồi hương

cố nhân ơi hồi hương ời cố nhân

bảy mươi chống gậy tái hồi

cố hương ơi tái hồi ời cố hương

 

Bảy mươi chống gậy

lời thương

bảy mươi chống gậy

tri ân ơi hời

Bảy mươi chống gậy

bảy mươi…

 

*

 

– Hỏi rằng này khúc ở đâu?

nghe ra bao mối bối sầu lắm thay

 

– Thưa rằng hồi cố khúc này

phổ trường ca ấy những ngày còn mơ

ý lời lựa tựa nơi xưa

mà gương căn mệnh bây giờ đây![37]

 

Ta về hôm nay cũng không là sớm

Đất nước hành hương mấy chục thế kỷ rồi

ta đến hôm nay cũng không là muộn

Tổ quốc còn lâm hành[38] mãi khôn nguôi[39]                                           

 

THƠ NỢ

 

… Khai mở và kết cục

làm thơ tự lãnh nợ

kết cục và khai mở

tự lãnh nợ làm thơ…

 

Câu sau nâng giữ tình tứ chữ trước vượt trôi

bài thơ tới lời cuối

khải hoàn môn dựng ôm mồ ấm[40]

bài thơ sau sải dài bài trước bỏ lửng

các dự phóng hân hoan

những lụn bại lỡ làng

 

Thơ trường ca

a ha

định nghĩa mới

khác

lạ

trường ca – một loại hình nghệ thuật thơ vay nợ đội vốn dài dài

trọn đời thơ

Thơ Nợ

  

 

THƠ NỢ – 1

 

 

… Trường Ca Tràng Hạt…

Chắc chắn là

nặng gánh nợ ở trường ca đang viết

 

Làm sao đan kết

trong “hệ cấu trúc zigzag mà lưu loát”[41]

trời Nam đất Việt chuyến hành hương tràng hạt lần lần

 

địa danh nào địa phương nào sẽ vào tương hợp

với câu hỏi lớn xưa hơn trái đất

Thơ là gì[42]

ôi các ý niệm đầy ngắc

 

– Cám ơn nhiều

bạn hiền bạn thiết bạn thi triết[43]

cuộc chuyện hai kẻ thơ cà phê phố làng cổ Ngọc Hà Tết trước

hoa nhòa lưu trữ lòng này

người lại sắp xa người

xuân tái

 

– Vậy thơ có đức tính hay ho gì mà

người đời ham dan díu tới vậy

xin được nói một ý

chỉ quanh một ý thôi

theo chiêm nghiệm hạn hẹp

(thầy thuốc y khoa khá oách bỏ nghề bám riết nghiệp thi ca oách)

 

sức hấp dẫn của thơ là ở

năng lực khám phá phát hiện tìm bệnh tâm tưởng

(mà trước là bệnh tâm tưởng chính mình)

 

làm thơ và cả đọc thơ

sống trở lại những điều

đã sống

trăn trở nghĩ những điều

đã thấy

cảm trở lại những vui buồn

đã trải

trăn trở nhận những buồn vui

đã từng

 

bên trang thơ

thi nhơn (chẳng cứ là thầy thuốc bỏ nghề)

có cái hạnh truy lĩnh phần nhân gian mình chưa sống hết

có cái phúc thụ hưởng phần sâu sắc nhân tình mình chưa biết tới

và cái hạnh phúc được tự hoàn thiện bản thân[44]

(trước khi Đức Chúa Lời lên tiếng[45])

 

… Tràng Hạt Trường Ca…

 

THƠ NỢ – 2

 

… Trường Ca Du Ký…

Chắc chắn rồi

trường ca đang viết gánh nặng nợ

 

Giăng kết ra sao

trong hệ cấu trúc lưu loát mà zig zag

chuyến hành hương lần lần tràng hạt đất Việt trời Nam

 

địa danh nào địa phương nào chịu cùng gia nhập

cuộc chuyện dài

Ngôn ngữ văn chương với Thời cuộc trần đời

(hay Thời cuộc văn chương với Ngôn ngữ trần đời

cũng rưa rứa vậy thôi)

 

Chung quanh vẫn đất nước nhà[46]

Ngữ ngôn – Thời cuộc vốn là đồng hao

 

Ba đề tài nóng hổi nào

trăm họ đâu ghé vào theo

giong thuyền biển lớn khua chèo ít ai[47]

 

Đây

lai lịch tổ tông mấy đời

chữ “Cách mạng” lớn dần nôi chính trị[48]

… Du Ký Trường Ca…

 

Kia

tiếng Việt vô vọng hay vang vọng

dưới chân núi Nô Beo[49]

 

tiếng Việt nghèo đẹp như một dòng suối nhỏ[50]                  

ta như chim trong tiếng Việt như rừng

ôi tiếng Việt như bùn và như lụa  

tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình[51]

 

… Trường Ca Du Ký…

 

Đấy

cái đỏng đảnh của chữ nghĩa

đong đưa giữa ngôn ngữ chính trị và chính trị ngôn ngữ[52]

… Bravo bài luận Tino[53]

nghe nầy qua biểu vần thơ như vầy

mấy em giờ vẫn còn may

ngày qua mần báo thuộc ngay phải xài

Tiếng trong nước – Tiếng biển ngoài[54]

tân từ điển Việt hổng ai hổng rành

từ văn sĩ đến dân thường

treo bàn chủ bút dán tường WC[55]

hu hu hô hô hi hi

chuyện nhỏ làng báo sá gì

Tino!

 

… Du Ký Trường Ca…

  

THƠ NỢ – 3

 

… Trường Ca Trường Chinh…

Trường ca đang viết còn mắc nợ nặng

chắc chắn thế

 

Liên kết sao đây

trong hệ cấu trúc lưu loát mà zig zag

lần lần tràng hạt dải đất Hình Chữ S chuyến hành hương dọc suốt

 

địa danh nào địa phương nào sẽ trúng phoóc

với Việt Nam – Con người – Bản sắc[56]

 

… Trường Chinh Trường Ca…

 

THƠ NỢ – 4

 

… Trường Ca Tràng Hạt…

Trường ca đang viết gánh nợ nặng

là cái chắc

 

Biết sao gắn bó

lưu loát mà zig zag trong hệ cấu trúc

chuyến hành hương tràng hạt lần lần dọc suốt dải đất Hình Chữ S

 

địa phương địa danh nào chuẩn hiệu con nai vàng (không ngơ ngác)[57]

với thơ Việt bản sắc

 

… Xét rằng

Bản Sắc Thơ Việt

đề tài mà mọi người

chính kiến nào

thẩm mỹ nào

cũng không quá khó khăn khi cùng muốn thảo ra phác họa

 

Quyết định

nêu nhanh dàn ý

23 tính chất thơ Việt

(mà tại hạ chường ca gia

hằng quan tâm mà ba kiếp cũng chả sao hoàn thiện nổi

một cây làm chẳng nên non

triệu cây chụm lại nên hòn… thơ ta[58]                              

 

Tính chất 1 là Âm điệu uyển chuyển, du dương; nhịp điệu phong phú; nhạc tính tự nhiên từng câu chữ (Chả thế tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất trên hành tinh này có từ “ca” trong “thơ ca”/”thi ca” ha ha ha)

Tính chất 2 là Tứ thơ quyết định ý, nghĩa và thi ảnh

3 là Thiên về cảm tính, diễn tả; nhiều tình cảm mà ít chân ý

4 là Hình tượng đẹp, quyến rũ dù đơn điệu sên sến

5 là Không chuộng tư tưởng nặng trịch, triết lý rắc rối; ưa minh triết dân gian ngoắt ngoéo

6 là Ít biến động thi pháp, chậm đổi thay giọng điệu, hiếm bất ngờ chi tiết

7 là Ngôn từ tinh tế, chiều chuộng tu từ, lơ là cú pháp

8 là Cá tính tác giả không nổi trội hơn nhân vật trữ tình; Cái Tôi lép vế chủ thể

9 là Hình thể khá ổn cố, cấu trúc không đa dạng

10 là Không gần văn xuôi, văn nói

11 là Lục bát là thể loại gốc

12 là Chịu ảnh hưởng sâu sắc và nặng nề của thơ Đường luật về hình thức và tư tưởng

13 là Nội dung trọng lòng yêu nước (bảo vệ nước nhà), nỗi quê hương, tình đồng bào, nghĩa gia đình; tình lứa đôi không được ưu tiên số 1; nhân bản mạnh hơn nhân sinh

14 là Hướng ngoại hơn hướng nội: nhẹ chất liệu đời sống cá nhân; nặng về thiên nhiên, thời đại, thế sự

15 là Quan hệ Thiên-Địa-Nhân trong thơ lấn át quan hệ Người-Người; con người trữ tình cần thiên nhiên hơn là ngược lại

16 là Sáng tác vượt xa phê bình, học thuật

17 là Giỏi bình điểm, tài nhận định, mỏng phê bình, chậm nghiên cứu, vắn lý luận

18 là Ngâm và vịnh là thưởng thức đồng sáng tạo;

19 là Cuộc cách mạng đầu tiên – Phong trào Thơ mới 1932-1945 thay đổi hầu hết bản sắc thơ Việt truyền thống, với ảnh hưởng từ thơ Pháp, và suốt tới nay với nhiều nền thơ thế giới nhất là Nga, Mỹ…

20 là Dòng hiện đại của thơ miền Nam trước 1975 đi song hành cùng thế giới phương Tây

21 là Thơ đánh giặc là đặc sản thơ Việt; đóng góp hữu hiệu với xã hội Việt hiện đại là dòng thơ cách mạng và thơ chiến tranh 1945-1954 & 1954-1975

22 là Với toàn cầu hóa từ sau năm 2000 thơ Việt biến đổi chậm

 

Tính chất 23 là Bản sắc thơ Việt còn nhiều so lệch với chuẩn mực thơ-toàn-cầu (thực chất là chuẩn mực văn hóa, thi ca, ngôn ngữ Âu-Mỹ)[59]

 

… Tràng Hạt Trường Ca…

 

THƠ NỢ – 5

 

… Trường Ca Trường Chinh…

Mắc nợ nặng ở trường ca đang viết

chắc chắn vậy

 

Kết nối nàm thao[60]

zig zag mà lưu loát trong hệ cấu trúc

trời Nam đất Việt tràng hạt lần lần chuyến hành hương

 

địa danh nào địa phương nào sẽ nhào vào nhập cuộc

Văn Học Việt Nam Hải Ngoại

là đây…

 

… Hơn năm thập niên rồi đấy                                                                                      nền văn học bất ngờ ấy                                                                                               nhiều giai tầng kinh qua                                                                                               từ chập chững đến nhớn nhanh như thổi

đạt đỉnh hân khoái

thập niên 1980 tới nửa đầu 1990

rồi ngày mỗi ngày lão hóa

tới hôm nay

 

văn chương là một nỗi – Nỗi Chữ

Văn chương Việt hải ngoại

kỳ cùng

là nỗi chữ nơi người xa xứ

nỗi chữ chính là nỗi quê

 

cậy nhờ nỗi chữ nỗi quê

một nền văn học đề huề lắm thay

 

Hình Chữ S Văn-học-Biển-ngoài​[61]

cứ thế

cứ thế…[62]

… Trường Ca Tràng Hạt

Trường Ca Du Ký

Trường Chinh Trường Ca

Tràng Hạt Trường Ca…

 

Khép kết[63]

 

… Đã vào giấc hương quan[64]

sao cho giác mộng một lần mới thôi[65]

 

đã neo về bến hương hồi                                                

nam cùng bắc tận

thệ bồi một hai…

 

Hỏi rằng

   người ở quê ai

thưa rằng

    tôi ở rất dài quê ta[66]

thiên lương trăm họ gần xa…

 

… Thiên lương tam vị

gần xa ngái

Phật tổ

Nguyễn

Bùi[67]

 

tạ ơn tày[68]

 

Trường ca Đất Nước hành du ký

hạ chữ ngưng

đoạn-tràng-hạt[69] này./.

 

Burnaby, tảng sáng 12/2 – giữa trưa 12/8/2026 [cập nhật 28/8/2026]  

ĐỖ QUYÊN

 

HẾT

 

*

 

[1] Theo Bất độc bất anh hùng(thành ngữ Trung Hoa). Ở đây dùng nghĩa lành: Muốn thành đại sự, phải chấp nhận khắc nghiệt.

[2] Theo “Bất đáo trường thành phi hảo hán”. Xt: Câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông; nghĩa là “Chưa đến Vạn Lý Trường Thành chưa phải là hảo hán”, muốn khẳng định sự quan trọng thăm viếng Vạn Lý Trường Thành. (Nếu đã tới Trung Quốc mà không đặt chân lên di sản hùng vĩ ấy thì chưa thực sự trải nghiệm hết vẻ đẹp, ý chí của người Trung Hoa).

[3] Desktop: Màn hình nền của máy vi tính.

[4] Xt: Theo câu quen thuộc trong Chương trình “Ai là triệu phú” – trò chơi truyền hình có thưởng do Đài Truyền hình VN sản xuất, dựa theo phiên bản gốc “Who Wants to Be a Millionaire?” (Ai muốn trở thành triệu phú?) của Anh. Cho tới năm 2004 khi chính thức triển khai, VN là quốc gia thứ 105 trên toàn thế giới mua bản quyền, sản xuất phiên bản nội địa. Mục tiêu chính của trò chơi là giành giải thưởng cao nhất của Chương trình khi trả lời chính xác tất cả 15 câu hỏi trắc nghiệm có độ khó tăng dần từ câu 1 đến 15, gồm các kiến thức tổng hợp. Từ sau 31/3/2026, thang tiền thưởng được làm mới là nâng mức giải thưởng cao nhất lên 500.000.000 đồng, mức tiền thưởng thấp nhất cũng được nâng lên 1.000.000 đồng. Tính đến nay 5/8/2026, chưa có người chơi nào vượt qua toàn bộ 15 câu hỏi và giành được số tiền thưởng tối đa. Kỷ lục hiện tại là 14/15 câu hỏi, cùng được nắm giữ bởi Nguyễn Lê Anh (phát sóng 9/9/2008, kỹ sư xây dựng ở Hà Tĩnh, người chơi đầu tiên trả lời đúng tới câu hỏi số 14 và giành giải thưởng 80.000.000 đồng); Nguyễn Trường Giang (24/3/2026, đến từ Hà Nội, dừng chơi ở câu cuối cùng với tấm séc 150.000.000 đồng, xác lập kỷ lục mới về số tiền thưởng mà 1 người chơi giành được); và cặp người chơi Bùi Thị Hà Thanh & Đào Hồng Vũ. Vai trò của Người dẫn chương trình /MC cực quan trọng với sân chơi này: MC Lại Văn Sâm – người dẫn chương trình đầu tiên của Ai là triệu phú – đã từng là “huyền thoại” trong suốt 13 năm; sau ông là các MC Phan Đăng (3 năm), Đinh Tiến Dũng/Giáo sư Cù Trọng Xoay (5 năm), và hiện đang là Quốc Khánh với “trận khai mạc sân triệu phú” vào 5/1/2026. (Khá oách đấy, trường ca gia còi mừng cho nam SN 1979, nhà báo, biên tập viên, MC thể thao bóng đá). Csnl: Tưởng cũng nên nói rõ tí. Nội dung chương trình “Ai là triệu phú” xoay quanh 1001 lĩnh vực trong đời sống, xã hội, lịch sử, địa lý, văn hóa, khoa học, nghệ thuật), bởi thế Người viết hy vọng độc giả bổn trường ca du ký còi này có thêm ít nhiều kiến thức, thông tin để thành… triệu phú. Good luck ạ!

[5] Nick (nickname viết tắt): Tên gọi thân mật, biệt danh; hoặc tên tài khoản/ username mà người dùng tự đặt để dùng các nền tảng mạng XH, diễn đàn, email, game.

[6] Personal: Thuộc về riêng tư, cá nhân.

[7] Xt: Chợ nổi Cái Răng – một địa danh/loại chợ độc đáo, đặc trưng cho Đồng bằng sông Cửu Long mà không nơi nào ở đất nước VN có được. Đó cũng là khu chợ tiêu biểu, sầm uất, nổi tiếng nhất về nét văn hóa sông nước miền Tây; mang đến những trải nghiệm có 1-0-2 cho du khách [trong trỏng có kẻ viết này]. Như là chiêm ngưỡng khung cảnh nên thơ chợ nổi lúc bình minh, là ngồi lênh đênh trên thuyền hòa mình vào không khí buôn bán tấp nập sáng sớm, là thưởng thức tô bún riêu ngay trên ghe thuyền… Chợ nằm trên sông Cái Răng, gần cầu Cái Răng, quận Cái Răng, TP Cần Thơ; được hình thành từ đầu TK 20, chủ yếu buôn bán nông sản, trái cây từ các vựa lớn trong vùng; nổi tiếng nhất với hình thức “bẻo” (treo hàng hóa lên cây sào) để chào hàng. “Cái Răng” có xuất xứ tiếng Khmer “karan” (cái lò đất nung), sau người Việt đọc trại thành “Cà Ràng” rồi biến âm “Cái Răng”. Đây là tên gọi một loại lò đất phổ biến tại lưu vực sông Cần Thơ xưa, gắn liền văn hóa giao thương nhất là bán lò đất nung của người Khmer bản địa. Dân gian kể rằng tên Cái Răng từ câu chuyện về con cá sấu khổng lồ bị giết và phần răng trôi dạt vào đây.

[8] Xt: Tây Đô – Phổ biến nhất là biệt danh cho TP Cần Thơ (Ở đây đang dùng nghĩa này) và là tên gọi lịch sử của Thành Nhà Hồ, tỉnh Thanh Hóa. 2 ý nghĩa của địa danh: 1. TP Cần Thơ được mệnh danh “Tây Đô”/Thủ phủ miền Tây Nam Bộ do giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, giao thông, thương mại lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Gắn liền với hình ảnh đô thị sông nước, chợ nổi, biểu tượng văn hóa “Người đẹp Tây Đô”; 2. Thành Tây Đô (Thành Nhà Hồ) là kinh đô nước Đại Ngu dưới triều Hồ, được xây dựng năm 1397 theo lệnh của Hồ Quý Ly tại Thanh Hóa. Công trình nổi tiếng với kiến trúc tường đá độc đáo (ghép từ các khối đá lớn nặng tới chục tấn mà không dùng chất kết dính, tồn tại bền vững hơn 600 năm) đã được UNESCO công nhận Di sản Văn hóa Thế giới năm 2011. Thông tin về Thành nhà Hồ: Thời gian xây dựng: Chỉ trong 3 tháng (1-3/1397). Người chỉ đạo: Hồ Quý Ly (Tể tướng nhà Trần, trước khi lập ra nhà Hồ năm 1400). Địa điểm: Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Mục đích: Xây dựng làm kinh đô mới (Tây Đô), phòng thủ trước giặc ngoại xâm và giảm bớt ảnh hưởng của thế lực quý tộc nhà Trần ở Thăng Long. Đặc điểm kiến trúc đá độc đáo: Vật liệu: Hàng nghìn phiến đá vôi lớn được đẽo gọt vuông vức, xếp khít nhau. Kỹ thuật: Các viên đá dài nặng trung bình 10 tấn được chồng lên nhau tự nhiên không cần vữa gắn kết. Hào và La thành: Bao quanh thân thành kiên cố là hệ thống hào sâu và các lũy đất (la thành) bảo vệ kinh thành. Cửa thành: Có 4 cửa chính (Nam, Bắc, Đông, Tây) làm theo kiểu vòm cuốn với các phiến đá khổng lồ ghép lại rất kỳ công.

[9] Phỏng lời hò Bến Tre (Xt: “Dân ca miền Nam”, Trần Quang Hải, rfa.org 1/3/2014).

[10] Xt: Độ lâm chung – thời điểm cuối cùng trước khi qua đời; trong quan niệm Phật giáo, lúc lâm chung mang ý nghĩa quyết định cảnh giới tái sinh (đầu thai) của một người. Một niệm cuối cùng (thường là niệm Phật hoặc tâm thiện lành) giúp người đó thoát khỏi 3 đường ác, được vãng sanh cõi an lành. Ba đường ác (còn gọi là Tam ác đạo hay Tam đồ): 3 cảnh giới đau khổ gồm: cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ (quỷ đói) và cõi súc sinh (loài vật). Chi tiết về 3 đường ác: Địa ngục (Hỏa đồ): Nơi chịu cực hình đau đớn dữ dội nhất do tâm sân hận, giận dữ và ác nghiệp cực nặng gây ra; Ngạ quỷ (Đao đồ): Cõi của những loài quỷ đói khổ, luôn bị đói khát bức bách do tâm tham lam, ích kỷ tạo thành; Súc sinh (Huyết đồ): Cõi của các loài thú vật, sống theo bản năng, muôn đời ngu muội và chịu cảnh trả nợ lẫn nhau do tâm si mê. Nguyên nhân đọa lạc. Chúng sinh phải tái sinh vào 3 đường ác này do tạo các ác nghiệp nặng nề trong đời sống. Gốc rễ của các nghiệp ác này xuất phát từ tam độc: Tham (tham lam), Sân (giận hờn) và Si (si mê, vô minh).

[11] Xt: “Qua biểu nghe” là cụm từ mang đậm phong cách phương ngữ miền Nam (nhất là Nam Bộ), dùng để ra lệnh, dặn dò, yêu cầu ai đó lắng nghe mình. Qua: Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, do người nam (hoặc người nói trong quan hệ tình cảm, vợ chồng, vai vế ngang hàng hoặc bề trên) tự xưng là mình. Biểu: Động từ nghĩa là bảo, ra lệnh, sai khiến, dặn dò. Nghe: Hành động lắng nghe. “Qua biểu nghe” có nghĩa tương đương với “Tao bảo nghe đây”/ “Anh bảo phải nghe đây”, thường xuất hiện trong văn nói, ca dao, thơ văn dân gian Nam Bộ khi người nói muốn người nghe phải chú ý tiếp thu điều mình sắp truyền đạt.

[12] Xt: Ngôi nhà thường xuyên ‘đón’ khách lạc tay lái dưới chân cầu (vnexpress.net 5/3/2026).

[13] Xt: Tình trần/ Lục trần – theo Phật pháp, đó  là sự ô nhiễm, sự ràng buộc của dục vọng đối với 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) qua 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Đó là các ham muốn của con người với trần gian (ngũ dục: Tài, Sắc, Danh, Vị/Thực, Thùy – tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, hưởng thụ vị ngon/ăn uống, ngủ nghỉ) khiến tâm hồn không thanh tịnh.

[14] Cảm hứng từ “Đống chữ”, tên trường ca của cùng người viết – đã Ct.

[15] Xt: Thơ Xuân Diệu (Bài “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, thivien.net) – “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong. […] Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang,/ Đói bao thở, cơm chia phần từng bát./ Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát,/ Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm. […] Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong./ Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm. […] Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít […] Rứa, mô, chừ? cha hỏi điều muốn biết,/ Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha! […] Mẹ thảnh thót: qua nhớ thương em bậu;/ Cha hát dặm bài “Phụ tử tình thâm”./ Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong./ Muốn ăn nhút, thì về quê với bố./ Muốn ăn quýt, ăn hồng, theo cha mày mà về ngoài đó,/ Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,/ Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,/ Thì theo tao, ở mãi trong này./ Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con./ Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!/ Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ;/ Nên máu con chung hoà cả hai miền.”

[16] Thơ Huỳnh Văn Nghệ (Bài “Nhớ Bắc”; thivien.net).

[17] Thơ khuyết danh (“Nhị độ mai”; thegioivanhoc.com 20/10/2023).

[18] Cảm hứng từ “Đám mây mặc quần” – tên bản trường ca của V. Mayakovsky (vi.wikipedia.org).

[19] Xt: Thêm 1 lần nhắc lại Gạc Ma – Cách đây 38 năm, vào ngày 14/3/1988, trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền Tổ quốc tại các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Ðao, thuộc quần đảo Trường Sa của VN, mặc dù lực lượng, phương tiện, vũ khí của VN lúc đó còn hạn chế, song những người lính biển ngày ấy đã chiến đấu dũng cảm, quyết tử đến cùng. Tuy nhiên Trung Quốc đã ngang nhiên, bất chấp công lý và lẽ phải, bất ngờ tấn công quân sự, bắn chìm, bắn cháy 3 tàu vận tải, đánh chiếm một số đảo đá ngầm của VN và 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân VN anh dũng hy sinh, nằm lại giữa biển khơi để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Ngay lập tức, 3 tàu chiến Trung Quốc đến gần, quay pháo hướng vào tàu HQ 604 uy hiếp và dùng loa yêu cầu cán bộ, chiến sĩ ta phải ra khỏi khu vực Gạc Ma. [38 năm vang mãi lời thề giữa đảo, nhandan.vn 12/3/2026; “38 năm – vang vọng lời thề giữ đảo“, baohaiquanvietnam.vn 12/3/2026; “38 năm Gạc Ma: Mãi không quên những người nằm lại phía chân trời”, tienphong.vn 13/03/2026; “38 năm trận chiến Gạc Ma (1988-2026)”, trannhuong.net 14/3/2026; “Trần Trung Đạo: Hoàng Sa, Trường Sa sẽ trở về với dân tộc Việt Nam”, thekymoi.media 15/32026; “14/3/1988 – Gạc Ma: Bài học nào trong một thế giới đang biến động dữ dội?”, boxitvn.blogspot.com 17/3/2026; “Trạm khí tượng Hoàng Sa là của Việt Nam“, baotiengdan.com 18/3/26; “Việt Nam phản đối Trung Quốc cải tạo Đá Hải Sâm, Bắc Kinh nói ‘không có gì tranh cãi’”, bbc.com 25/3/2026; “Hải quân Việt-Trung huấn luyện bắn đạn thật chống cướp biển“, vnexpress.net 22/3/2026; Thơ viết từ Trường Sa của Phan Hoàng” – Trích trường ca “Gió hợp hôn đất nước”, vanvn.vn 14/3/2026].

[20] Theo thơ Tố Hữu: “Ờ đã chín năm rồi đấy nhỉ!/ Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ” (Bài “Ta đi tới“, thivien.net).

[21] Xt: Nên đánh răng trước hay sau khi ăn sáng? (vnexpress.net 4/3/2026): Khoa học ngày càng cho rằng nên đánh răng trước khi ăn sáng, hoặc phải đợi sau đó ít nhất chứng 45 phút, mặc dù thời điểm không là yếu tố duy nhất quyết định sức khỏe răng miệng. Đánh răng trước khi ăn sáng giúp loại bỏ vi khuẩn tích tụ qua đêm và bao phủ răng bằng lớp fluoride bảo vệ trước khi ăn. Lớp bảo vệ này quan trọng vì việc ăn uống, đặc biệt là thực phẩm có đường/axit, có thể làm suy yếu men răng tạm thời. Nếu bạn còn lo lắng khi phải thay đổi toàn bộ thói quen buổi sáng, đây là lời trấn an: Với hầu hết mọi người, chất lượng và tính nhất quán của việc đánh răng quan trọng hơn thời điểm đánh răng. Tiến sĩ K. Faist (Mỹ) nói, nếu đánh răng trong vòng 30 phút sau khi ăn sáng có thể chải đi lớp men răng bị làm mềm trong môi trường axit, nhưng tổn thương sẽ còn tệ hơn nhiều nếu không làm sạch răng hiệu quả ít nhất 2 lần/ngày. Do đó, kỹ thuật tốt lành, đánh răng đều đặn, dùng chỉ nha khoa vẫn là 3 yếu tố tạo nên sự khác biệt lớn nhất.

[22] Thơ Nguyễn Trọng Tạo (Tên bài/lời thơ, thivien.net).

[23] Do Homework: Làm bài tập về nhà.

[24] Share phòng: Chia sẻ phòng/nhà. [Xt: Cách sống chung nơi nhiều người cùng thuê và ở trong một căn hộ, nhà. Mỗi người thường có phòng ngủ riêng, nhưng dùng chung bếp, phòng tắm, phòng khách và các tiện ích trong nhà để giảm chi phí thuê và sinh hoạt].

[25] Dinner: Bữa ăn chiều/tối.

[26] A canadian man: Một người đàn ông Canada.

[27] Prostate: Tuyến tiền liệt.

[28] Trường đoạn trên được phóng tác theo vi.wikipedia.org.

[29] Bonus – đã Ct.

[30] “Ai là triệu phú” – đã Ct.

[31] Theo “Đẹp như Kiều ngồi xổm”. [Xt: Thành ngữ hiện đại của cánh trẻ; mang ý trào phúng, mỉa mai, chỉ sự việc, món đồ, tình huống bề ngoài khoe khoang, lươn lẹo, mâu thuẫn trái ngược hoàn toàn (đẹp sang phần đầu nhưng lại kém duyên, kệch cỡm, hớ hênh ở phần sau). Nguồn gốc: Chỉ sự đối lập hoàn hảo với nàng Thúy Kiều trong văn học vốn là biểu tượng người nữ tài sắc vẹn toàn, đoan trang, cao quý. Hành động phá vỡ hình tượng: Trái lại, hành động “ngồi xổm” (ngồi chỏ hỏ) lại là tư thế sinh hoạt bình dân, thoải mái, có phần kém trang nhã, dễ gây hớ hênh khi mặc váy đầm/mấn thời xưa. Hàm ý thực tế: Việc ghép 2 hình ảnh đó tạo phép so sánh nghịch lý, có tính châm biếm kiểu “đẹp thì có đẹp đấy mà duyên dáng thì không”, ám chỉ vẻ đẹp giả tạo, nửa mùa, không đồng điệu từ trong ra ngoài. Đó là câu ví von cửa miệng mang chất dân gian trào tiếu ở tiếng Việt thời 4.0].

[32] Well done: Làm tốt lắm, khá đấy…

[33] Theo “Quê hương là chùm khế ngọt“. Và, mời Quý độc giả thêm nhạc nền từ ca khúc Quê hương” (Giáp Văn Thạch phổ thơ Đỗ Trung Quân, với câu mở đầu đó; youtube.com). Xt: Olivier Tessier – 30 năm đồng hành cùng Viện Viễn Đông Bác cổ” (nguoidothi.net.vn 10/3/2026) để thấy vị Giám đốc viện ấy chọn tên Luận án tiến sĩ của mình là gì…

[34] Xt: Đã Ct Chương hồi 4.1.

[35] Cảm hứng từ “Chiều tối rồi, không biết đâu là quê hương mình./ Khói sóng trên sông khiến cho lòng người buồn man mác” (Phạm Duy Tình dịch nghĩa 2 câu kết trong bài thơ nổi tiếng “Hoàng Hạc lâu” của thi sĩ Thôi Hiệu đời Đường: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” [Tùy bút Phạm Duy Nghĩa, Kho sách của bố”, Báo Văn Nghệ #30/2026, baovannghe.vn 27/7/2026]. Xt: 2 bản dịch nghĩa khác: “Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?/ Trên sông khói toả sóng gợn, khiến người sinh buồn!” (thivien.net); Chiều tối rồi, chốn quê hương là nơi nào?/ Trên mặt sông khói sóng tỏa mờ khiến người sinh lòng buồn bã” (Gemini). Và một số bản dịch thơ: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn./ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?” (Tản Đà); “Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy/ Trên sông khói sóng gợi buồn ai.” (Trần Trọng San); “Gần xa, chiều xuống, đâu quê quán?/ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” (Vũ Hoàng Chương); “Trời tối, quê hương đâu tá nhỉ?/ Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!” (Ngô Tất Tố); “Chiều hôm lai láng lòng quê,/ Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.” (Trần Trọng Kim); “Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ,/ Khói sóng trên sông giục khách sầu.” (Nguyễn Khuê); “Chiều xuống, cố hương nào đâu thấy/ Sóng biếc ba đào gợi đắng cay.” (Phí Minh Tâm); “Quê hương đâu bóng chiều ơi?/ Khói sông man mác, đầy vơi lòng sầu.” (Nhất Phiến Vân). [“Hoàng Hạc lâu”, thivien.net 8/6/2005].

[36] Theo ‘“Bảy mươi chống gậy ra ngồi,/ Xuân ơi, xuân có tái hồi được chăng?” (Ca dao).

[37] Theo Truyện Kiều (Hồi 20: Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, thivien.net).

[38] Lâm hành: Lúc lên đường, kịp lúc đi/sắp ra đi [Xt: Từ Hán-Việt “lâm” (臨) là đến gần/sắp; “hành” (行) – đi, lên đường. Từ này dùng để chỉ thời điểm trước/ngay khoảnh khắc chia tay, bắt đầu  cuộc hành trình xa. Thường xuất hiện ở thi ca cổ miêu tả tâm trạng bịn rịn, lưu luyến người đi kẻ ở. Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm dịch Đặng Trần Côn): “Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,/ Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.” (Ý nói thời điểm người chồng sửa soạn bước chân ra trận); Bài thơ “Du tử ngâm” của Mạnh Giao (Trung Quốc): “Lâm hành mật mật phùng,/ Ý khủng trì trì quy.”/ Dịch nghĩa: Lúc con sắp lên đường, người mẹ khâu áo thật kỹ lưỡng, chỉ sợ con đi lâu ngày chậm về. (Google AI)].

[39] Theo thơ Phạm Tiến Duật: “Ta đi hôm nay cũng không là sớm/ Đất nước hành quân mấy chục năm rồi/ Ta đến hôm nay cũng không là muộn/ Tổ quốc còn đánh giặc mãi không thôi?” (Bài “Chào những đoàn quân tuyên truyền – Chào những đoàn quân nghệ thuật”). Xt: Quest Bookstore FB 27/7/2026; & “Nhật ký văn nghệ 1969 – VIII”,  Vương Trí Nhàn, vuongtrinhan.blogspot.com 3/8/2016).

 

[40] Xt: Sự kiện Tìm kiếm hài cốt tại Công viên Lê Thị Riêng

* Ngày 6/7/2026 diễn ra Lễ triển khai tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP.HCM nhằm xác minh nghi vấn các hố chôn tập thể của hàng trăm liệt sĩ hy sinh trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Khu vực này trước thuộc nghĩa trang Đô Thành, còn gọi là nghĩa địa Chí Hòa – Sài Gòn. Việc thăm dò, khai quật được xúc tiến khi kết hợp nhiều yếu tố chính. Đối chứng tư liệu (Nghiên cứu các bức ảnh lịch sử, tài liệu lưu trữ quân sự, đối chiếu lời kể từ nhân chứng, cựu chiến binh); Sử dụng công nghệ mới (Thiết bị quét radar dò tìm điểm bất thường dưới lòng đất); Tín hiệu khả quan (Giúp phát hiện rãnh chôn tập thể, thành công quy tập nhiều bộ hài cốt cùng các di vật như ví bóp, giấy tờ tùy thân, giúp xác định danh tính liệt sĩ, xoa dịu nỗi đau thân nhân. Kế hoạch tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng được Bộ Tư lệnh TP.HCM bắt đầu từ cuối tháng 5, sau khi nhóm nghiên cứu của kiến trúc sư Nguyễn Xuân Thắng đưa thông tin về các vị trí nghi có hố chôn tập thể. Từ cuối tháng 6, một phần công viên được rào chắn, đào thăm dò tại các vị trí khoanh vùng. Từ ngày 4/7, thành phố đào rãnh dài 30m, rộng 5m, sâu 2-3m cạnh nhà truyền thống công viên. Từ 23/6 đến hết 16/8/2026, các lực lượng đã phát hiện, quy tập 351 bộ hài cốt liệt sĩ. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ vẫn tiếp tục tại Khu A được mở rộng. Bộ Tư lệnh TP.HCM di dời bia tưởng niệm phía trước rãnh khai quật đầu tiên để mở rộng phạm vi tìm kiếm, quy tập những hài cốt còn lại. Đội quy tập hài cốt liệt sĩ tiếp tục mở rộng khu vực khai quật, từ nhà bia tưởng niệm về phía hồ cá trong công viên. Dựa trên cách thức an táng, tài liệu lịch sử, di vật thu được, Bộ Tư lệnh TP.HCM nhận định nhiều người có thể là chiến sĩ Biệt động Sài Gòn, bộ binh đã hy sinh trong cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968. Đơn vị tìm kiếm đã thu thập hàng chục di vật (nhẫn vàng, bút bi, súng đạn AK, dép). Bộ Tư lệnh TP.HCM đang phối hợp Bệnh viện Quân y 175 lấy mẫu ADN từ các hài cốt, đồng thời thu thập mẫu sinh phẩm của thân nhân để đối chiếu, xác định danh tính. Hoạt động tìm kiếm tại công viên Lê Thị Riêng nằm trong “Chiến dịch 500 ngày đêm”, kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, từ 15/3/2026 đến 27/7/2027 để quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính từ 18.000 mẫu sinh phẩm. Theo số liệu năm 2023: Trên các chiến trường VN, Lào, Campuchia, Biển Đông số lượng hài cốt liệt sĩ QĐNDVN cần tiếp tục tìm kiếm vẫn còn khoảng 200.000, và gần 300.000 hài cốt liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính. Trên cả nước tổng số là 1.146.250 liệt sĩ QĐNDVN: 191.605 liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp; 849.018 liệt sĩ kháng chiến chống Mỹ; 105.627 liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (Chiến tranh Biên giới Tây Nam, Chiến tranh Biên giới phía Bắc, Cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo).

* Trong số các hài cốt được quy tập hồi đầu tháng 7 có trường hợp với giấy tờ phai màu hiện rõ tên Huỳnh Văn Quên nằm trong miếng nhựa được thu thập cùng một hài cốt. Kết quả xác minh cho thấy đó là liệt sĩ Quên thuộc Tiểu đoàn 1 Long An, từng tham gia trận đánh cầu Chữ Y trong Tết Mậu Thân 1968. Ngày 6/7 gia đình ông Huỳnh Văn Nhỏ ở xã Vàm Cỏ, Tây Ninh, đến chính quyền trình báo, cho biết liệt sĩ Quên là anh trai. Ngày 18/7, Sở Nội vụ Tây Ninh ban hành quyết định bổ sung bà Nguyễn Thị Lệ (79 tuổi cùng ngụ xã Vàm Cỏ) được công nhận là vợ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên sau gần 60 năm 2 người hứa hôn. Quyết định được đưa ra căn cứ hồ sơ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, bằng Tổ quốc ghi công và đề nghị của UBND xã Vàm Cỏ. Cùng ngày đó chính quyền xã làm việc với gia đình liệt sĩ; 6 người thân tham dự đều công nhận bà Lệ là vợ của ông Quên. Bà Lệ được cấp giấy chứng nhận thân nhân liệt sĩ, hưởng chế độ trợ cấp từ tháng 7. Chế độ gồm trợ cấp tuất hàng tháng hơn 2,7 triệu đồng và trợ cấp tuất nuôi dưỡng hơn 2,2 triệu đồng dành cho vợ liệt sĩ sống cô đơn, không nơi nương tựa; tổng cộng gần 5 triệu đồng/tháng. Từ khi ông hy sinh, bà không lập gia đình và hiện sống một mình.

* Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN là 1 trong 5 đơn vị chịu trách nhiệm giám định mẫu hài cốt trong “Chiến dịch 500 ngày đêm tìm lại danh tính liệt sĩ” đang diễn ra. Ban đầu, Viện được giao thực hiện hơn 6.600 mẫu. Đến nay số mẫu cần xác minh đã vượt 10.000. Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu. Mỗi mẫu xương liệt sĩ, sau hàng chục năm nằm dưới lòng đất, được các kỹ thuật viên cẩn trọng xử lý qua quy trình gần 10 công đoạn, giống như mò kim đáy bể, nhằm ”trả lại tên các anh”. Trong khi Viện chịu trách nhiệm giám định mẫu hài cốt, Bộ Công an thực hiện giám định mẫu thân nhân để đưa vào ngân hàng dữ liệu. Sau khi có kết quả từ 2 phía, Bộ Công an sẽ tiến hành so khớp và gửi lại để các đơn vị chuyên môn đưa ra biên bản kết luận cuối cùng, làm cơ sở cho địa phương thông báo tới gia đình liệt sĩ.

* Lê Thị Riêng (1925-1968): Liệt sĩ, Anh hùng LLVTND, một biểu tượng nữ lãnh đạo cách mạng miền Nam; Ủy viên BCH Mặt trận DTGPMNVN; Hy sinh khi bị thủ tiêu trong Tết Mậu Thân 1968. Bà được dựng tượng đài, bia lịch sử, đặt công viên, trường học, tên đường tại TP.HCM, Cà Mau, Bạc Liêu, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt.

[“Bí thư Thành ủy TP.HCM yêu cầu đẩy nhanh Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ (tuoitre.vn 23/6/2026); “Cận cảnh rãnh chôn tập thể cùng nhiều di vật tại công viên Lê Thị Riêng” (dantri.com.vn 6/7/2026); “Thủ tướng Lê Minh Hưng dâng hương và dự lễ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ công viên Lê Thị Riêng” (tuoitre.vn 6/7/2026); Đã tìm thấy 11 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng” (tienphong.vn 7/7/2026); Tìm thấy 100 hài cốt liệt sĩ ở công viên Lê Thị Riêng sau hai tuần khai quật”, vnexpress.net 18/7/2026); Tìm thấy 150 hài cốt liệt sĩ ở công viên Lê Thị Riêng sau 3 tuần(vnexpress.net 29/7/2026); “Mở rộng tìm kiếm tại Khu A Công viên Lê Thị Riêng, phát hiện thêm 24 bộ hài cốt” (laodong.vn 16/8/2026); “Được công nhận là vợ liệt sĩ sau gần 60 năm hứa hôn” (vnexpress.net 18/7/2026); “Chiến sĩ biệt động Sài Gòn kể lại đêm hy sinh của liệt sĩ Lê Thị Riêng, Trần Văn Kiểu” (dantri.com.vn 20/7/2026); Học lịch sử bằng những lá thư của tình mẫu tử”vannghequandoi.com.vn 10/8/2026; 27/7 và những con số liên quan (quangninh.gov.vn 24/7/2023); Bên trong phòng giám định ADN tìm danh tính liệt sĩ (vnexpress.net 15/7/2026)]

 

[41] Theo chữ dùng của Việt Linh (“Nước mắt của đông trùng hạ thảo”, thanhnien.vn 16/03/2026).

[42] Xt:

* “Thơ là con đường trải dài của thời gian, nối liền quá khứ với hiện tại nhằm hướng đến tương lai, không gián đoạn, trong nỗ lực xác nhận sự đồng nhất của hồn người toàn vẹn. Nếu lịch sử là nỗ lực mô tả những diễn biến cụ thể của thời gian thì thơ, một cách khái quát, là lịch sử trừu tượng của thời gian, là phần hồn thiêng của lịch sử. Nhìn thấy thơ như vậy mới thật sự nhìn thấy đầy đủ thơ.” (Tô Thùy Yên, “Nói về thơ, người làm thơ và người đọc thơ” – Bài nói tại Houston 9/3/1996; Đăng lần đầu Báo Ngày Nay Minnesota #164 – 31/3/1996, hocxa.com 15/5/2014 & Tạp chí Quán Văn #81 – 5/2021).

* Lịch sử, sự thật và sử học: Phân biệt rạch ròi giữa lịch sử (những gì đã xảy ra) và sử học (nhận thức về quá khứ). Lịch sử là khách quan, tồn tại độc lập với ý muốn con người. Sử học là chủ quan, là quá trình đi tìm sự thật lịch sử của nhà sử học. Viết sử là một nghề, nói như người Pháp là Métier d’historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Cách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến 2 bước cơ bản trong công tác sử học: bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện; bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện. Người ta chia sử liệu ra làm 2 loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng với sự kiện, chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo điện biên hay văn bản hiệp nghị Paris… là sử liệu trực tiếp. Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. (Triết luận Hà Văn Tấn; Thái Kế Toại giới thiệu, trannhuong.net 18/7/2026; In lần đầu Tạp chí Tổ Quốc 1/1988; Một số vấn đề lý luận sử học, Nxb ĐHQGHN 2007).

[43] Cảm hứng từ tiểu luận Trương Đăng Dung (“Trên đường đến với phẩm giá của thơ ca”, baovannghe.vn 4/3/2026).

[44] Trường đoạn trên được phóng tác theo tiểu luận Vũ Quần Phương (“Phẩm giá của Thơ”, Tọa đàm Ngày Thơ VN lần thứ 24, Quảng Ninh 3/3/2026; baovannghe.vn).

[45] Xt: “Tự hoàn thiện mình”/“Nên trọn lành” – Giáo lý cốt lõi của đạo Chúa; con người được mời gọi trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng sự hoàn thiện này không đến từ sức riêng mà nhờ vào ân sủng của Ngài. Sự khác nhau giữa việc tự hoàn thiện theo thế gian và giáo lý đạo Chúa: 1. Đích đến: Nếu sự tự hoàn thiện thế tục thường nhằm đạt thành công cá nhân, danh vọng, tự mãn, thì đạo Chúa dạy mục đích việc nên hoàn thiện là để phản chiếu tình yêu, lòng nhân hậu và vinh quang của Chúa, và để yêu thương tha nhân. 2. Dựa vào sức mạnh: Kinh Thánh dạy rằng con người vốn mang bản chất yếu đuối, tội lỗi. Nếu đạo lý thế gian đề cao ý chí, nghị lực cá nhân thì lời Chúa nhấn vào việc từ bỏ cái Tôi, dựa vào Chúa Thánh Thần để biến đổi từ bên trong. 3. Quan điểm về sự thánh thiện so với hoàn hảo: Chúa Giêsu dạy: Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”. Sự hoàn thiện này không có nghĩa không mắc sai lầm, mà là sống bác ái, bao dung, tha thứ đúng phẩm giá con cái Chúa. Tóm lại, đạo Chúa không cổ xúy tự tôn bản thân, tự cứu rỗi bằng sức riêng. Mà hướng tới hoàn thiện trong Đức Kitô – nơi con người khiêm tốn nhận ra sự bất toàn của mình, mở lòng đón nhận ân sủng để tình yêu của Chúa hướng dẫn đời sống thường ngày. [Theo tóm tắt đó của AI, Quý thi hữu tín hữu có thể suy ngẫm với kinh nghiệm riêng khi muốn “tự hoàn thiện mình” bằng con đường của Thơ giữa bên Đạo và bên Đời?]

[46] Đã Ct.

[47] “IT” và “AI” – đã Ct.

[48] Xt: Cách mạng”: Lịch sử một từ ngữ trong chính trị hiện đại” (Trần Quốc Anh, vanviet.info 24/2/2026): Trong đời sống chính trị – văn hóa VN đầu TK 20, từ “cách mạng” dần trở thành một khái niệm trung tâm, cùng phong trào giải phóng dân tộc, cải cách xã hội, đấu tranh ý thức hệ và cả những hình thức tuyên truyền chính trị. Nhưng ít người biết “cách mạng” không là từ bản địa tiếng Việt/chữ quốc ngữ, mà là kết quả quá trình chuyển tiếp từ phương Tây, từ Nhật Bản sang Trung Quốc. Lịch sử từ ngữ “cách mạng” thực chất là lịch sử khái niệm chính trị hiện đại được Việt hóa.

Tại châu Âu, trong các ngôn ngữ phổ biến “revolution” (Anh), “révolution” (Pháp) có gốc tiếng Latin revolutio (“sự quay vòng” – thuật ngữ trung tính của thiên văn học chỉ quỹ đạo hành tinh, của khoa học tự nhiên về chu trình. Chỉ từ TK 17-18 (với các cuộc Cách mạng Anh 1688, Mỹ 1776 và Pháp 1789, “revolution” mới có nghĩa chính trị: chỉ sự thay đổi căn bản trật tự xã hội-chính trị, phá cơ cấu cũ lập trật tự mới. Trong bối cảnh phong trào quốc tế XHCN giữa TK 19 – đầu TK 20, “revolutionary” trở thành từ chỉ lực lượng chống phong kiến/bảo thủ, thể hiện niềm tin tiến bộ lịch sử – quan điểm chủ đạo triết học Marxist. Trong truyền thống Trung Hoa cổ đại, chữ “革命 (cách mệnh) có từ rất sớm, thời Xuân Thu. Tức là trong Hán học “cách mệnh” là đổi mệnh, không phá trật tự/vũ trụ, mà thay để giữ trật tự hoàn toàn tư tưởng Nho giáo. Chính Nhật đã hiện đại hóa khái niệm “revolution” vào cuối TK 19, khi tiếp nhận tư tưởng phương Tây; chọn chữ 革命 (kakumei かくめい) để dịch, nhưng thay đổi hoàn toàn nội dung: Không còn “đổi mệnh trời” mà đổi căn bản cấu trúc chính trị-xã hội; lật trật tự cũ dựng trật tự mới. Từ đó 革命 mang nghĩa hiện đại: cách mạng xã hội, cách mạng chính trị hệ thống. Sang TQ đầu TK 20 khái niệm này được lan tỏa (qua phong trào Tôn Trung Sơn lật đổ nhà Thanh) để chỉ vận động dân chủ, cải cách xã hội, chống quân chủ, hiện đại hóa. Ở TQ từ 1911 trở đi, “革命” có ý nghĩa hiện đại, khác hẳn bản gốc trong Nho giáo.

Ở VN, qua sách báo TQ và Nhật đầu TK 20, đấy là quá trình từ dịch thuật đến ý thức hệ: Trước đó, người Việt hầu như không dùng chữ “cách mệnh.” Trong sử Việt thường nói “phế lập”, “trung hưng”, “cải chính”; không gọi các biến động chính trị là “cách mệnh”. Người có vai trò trung tâm đưa “革命” vào tư duy chính trị VN theo nghĩa hiện đại chính là Phan Bội Châu dùng từ “革命” để chỉ phong trào giải phóng dân tộc, theo đúng nghĩa “revolution” hiện đại! Từ đó, “cách mệnh/cách mạng” trở thành ngữ vựng chính trị mới trong tiếng Việt. Khi các nhà cải cách VN tiếp nhận từ ngữ này từ Nhật, họ giữ lại cả hai tầng nghĩa: Ý thức hệ, thay đổi triệt để trật tự chính trị-xã hội (tương tự “revolutionary”), và mang tính định mệnh/sinh mệnh dân tộc (theo kiểu Hán-Nhật). Đến thập niên 1920-1930, thuật ngữ này được hệ thống hóa với các phong trào chính trị (từ phong trào quốc gia đến các tổ chức cộng sản/nhóm cải cách xã hội) và dần trở thành ngôn ngữ chung của đời sống chính trị VN hiện đại.” [Wow! Nghề chữ (“cách mạng”) cũng lắm công phu!].

 

[49] Cảm hứng từ tiểu luận Lê Thọ Bình (“Khi lời nguyền ngôn ngữ ngăn trở những tượng đài vươn tầm thế giới, trannhuong.net 30/3/2026).

Xt: Giả thuyết Nô-Beo cho cặp đôi Nguyễn Du & Nam Cao (Phiếm luận phóng tác theo toàn bộ tiểu luận trên)

Trong dòng chảy ngàn năm của văn học Việt, nếu phải chọn những đỉnh cao kết tinh cốt cách, tâm hồn, trí tuệ dân tộc, kiểu gì cũng phải (tự) s/xướng 2 danh: Nguyễn Du và Nam Cao. Một vị xây nền móng vẻ đẹp ngôn ngữ và thi pháp cổ điển; một vị mở toáng những tầng sâu u uất nhất của con người hiện đại chuyển giao từ hậu phong kiến. Giả thuyết rinh nhị vị tiền bối vào đường đua Nobel Văn học đâu chỉ là thể hiện tự tôn tự trọng dân tộc?! Mà còn là phép thử rất nghiêm túc: Liệu những giá trị tinh thần thuần Việt có đủ âm hưởng vang vọng trong không gian văn hóa toàn cầu? Và nếu chưa, đâu là những lực cản, đặc biệt có phải “lời nguyền ngôn ngữ” – sự quá khu biệt, tính quá đặc thù để chuyển ngữ ra các thứ tiếng “chuẩn quốc tế” – đang giữ chân các tượng đài này ở lại trong biên giới Hình Chữ S rất đỗi thân thương?

Nguyễn Du – Thiên tài nhân bản bị “giam cầm” trong vẻ đẹp lục bát: Nhắc đến Tiên Điền tiên sanh là nhắc đến đỉnh cao hy hữu mà một ngôn ngữ có thể đạt tới. Truyện Kiều không chỉ là tác phẩm văn học đâu nhá; nó gần như là “hiến pháp tinh thần Việt”, là “sách tra cứu/hướng dẫn/cẩm nang” tâm hồn tâm tính tâm tư tâm địa Việt – nơi ngôn ngữ đạt đến độ mềm mại, tinh tế, ám ảnh hiếm thấy. Một “thánh kinh nhân bản” của phương Đông: Điều khiến Nguyễn Du vĩ đại không nằm ở cốt truyện (vay mượn Kim Vân Kiều truyện của Tàu), mà ở cách ông biến câu chuyện ấy thành bản trường ca thân phận con người Việt. Thúy Kiều không chỉ là người con gái tài sắc bạc mệnh; nàng là biểu tượng bi kịch muôn thuở giữa tự do và định mệnh, giữa khát vọng cá nhân và ràng buộc xã hội. Ở điểm này, cụ Nguyễn nhà ta đứng chung “trục nhân loại” với Shakespeare, Goethe… Bỡn sao? Nếu giai Tây Hamlet nêu câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại”, thì gái ta Kiều gióng vấn nạn “Ngẫm hay muôn sự tại Trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần…/ Cho thanh cao…” A, đó chính là tiêu chí Nobel Văn học luôn lùng sục: Những tác phẩm chạm tới phần sâu nhất của nhân loại, vượt biên giới địa lý và lịch sử. Lời nguyền của cái đẹp không thể dịch: Nhưng cũng chính ở đỉnh cao ấy, cụ Nguyễn phe ta lại vấp phải nghịch lý: quá Việt khó hoàn vũ. Thể thơ lục bát – xương sống kiêm linh hồn Truyện Kiều – gần như không thể nào chuyển tải trọn vẹn sang bất kỳ ngôn ngữ nào khác (Họa may là… tiếng Chăm? Nhớ, có quan điểm cho rằng lục bát khởi thủy từ văn hóa Chăm!) Dân Tây phương dư tình mà hiểu thấu câu chuyện đẫm lệ Kiều, nhưng thiếu cảm để nhận được cái run rẩy cái long lanh trong từng con chữ lời thơ khi lục lúc bát giản đơn về cấu trúc mà kỳ khu về tâm tư – thứ làm nên thiên tài Nguyễn Du made by Vietnam. Vậy nên, xét chuẩn quốc tế, thơ ông giống như viên kim cương quý bị bọc trong lớp vỏ ngôn ngữ quá đặc thù, chỉ những ai sinh lớn lên trong tiếng Việt mới có thể thực sự chiêm ngưỡng. Viết một đẳng thức cho nó nhanh: Đại thi hào Việt Nam Nguyễn Du = Thi hào thế giới Nguyễn Du?!

Nam Cao – Khi bi kịch con người chạm tới ngưỡng phổ quát: Nếu Nguyễn Du đại diện cho chiều sâu cổ điển thì Nam Cao lại là hiện thân của chủ nghĩa hiện thực hiện đại – thứ mà văn học thế giới, đặc biệt diễn đàn Nobel, cực ưa chuộng trong TK 20. Nhà giải phẫu tâm hồn con người: Nam Cao không viết về cái đói theo nghĩa vật chất đâu; ông viết về sự đói khát nhân phẩm cơ. Chàng Chí Phèo với câu hỏi “Ai cho tao lương thiện?” chẳng còn là câu chuyện của làng quê Bắc Bộ, mà là tiếng kêu của con người bị tước đoạt quyền làm người ở bất cứ đâu trên gầm trời này. Chưa nói về thi pháp dẫn chuyện và cấu trúc tạo truyện (có thể nhà văn của ta non cơ tí ti chăng), nhưng về chiều sâu tâm lý, Nam Cao thừa sức sánh bút cùng Dostoevsky, Kafka… Chứ không à? Nhân vật của ông sống trong trạng thái bị bóp nghẹt giữa bản năng và đạo đức, giữa nhân quần và bản thể – quả là tâm thế mang tầm vóc địa cầu. Xuống chiếu dưới, nếu rinh chàng Chí Phèo tới cạnh các nhân vật của Márquez, Mạc Ngôn… thì bạn đọc sẽ thấy điểm chung: Khả năng biến những câu chuyện địa phương thành biểu tượng nhân loại. Rào cản của tính địa phương: Thế nhưng, Nam Cao lại đối diện thách thức khác, dù không thách đố như cụ Tiên Điền, đó là bối cảnh truyện hơi bị đặc thù. Để hiểu hết bi kịch Chí Phèo, người đọc cần biết về cấu trúc làng xã VN, về địa chủ, cường hào, về những kẻ bị áp bức trong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến kiểu làng Vũ Đại. Những yếu tố này không dễ dàng được “dịch” sang trải nghiệm của độc giả quốc tế (mà thiệt tình “người Việt Hà Lội” hay “dân Nam Bộ qua biểu nghe” cũng chửa thấm hết, hổng hỉu hết). Cái bát cháo hành, chi tiết mang tính cứu rỗi, có thể khiến dân Việt mình rưng rưng, nhưng với độc giả phương Tây nó cần một tầng giải thích văn hóa khá dày. Và trong văn học, phàm điều gì cần “giải thích” quá nhiều đều có nguy cơ giảm độ trực cảm của tác phẩm vốn là thánh đường của nghệ thuật. [Nhãn tiền: Ngay như cái bản trường ca “Đất nước tràng hạt” đây có tới ngót 500 chú thích thì còn không khí nào cho “trực cảm nghệ thuật” thoi thóp nữa, hỡi bổn tác giả ĐQ?!] Thế là Nam Cao dễ rơi vào nghịch lý khác: Văn đủ sâu để trở thành phổ quát, dưng mờ lại hơi bị “cụ thể” không dễ tiếp nhận.

Nhìn qua các quốc gia đồng văn: văn học đã trở thành chiến lược quốc gia; từ Nhật Bổn, xuyên Tàu Trung Hoa, đến Hàn Quốc (tức là Nam Hàn – tiếng Việt kiểu miền Nam trước 75 hoặc hải ngoại sau 75; phát mệt cho “tiếng nước tôi”, Phạm Duy tiên sinh ơi!) Sự thành công của Y. Kawabata, H. Kang không phải là phép màu cá nhân. Ấy là kết quả từ cả hệ sinh thái văn học được đầu tư bài bản với dịch thuật như chiếc cầu duy nhất sang sông, sau khi văn hóa đã mang không ít âm điệu bên kia sông là Tây phương. Nhật đã mất nhiều chục năm tạo dựng đội quân dịch giả siêu tới mức viết lại tác phẩm bằng tiếng Anh như những văn sĩ thực thụ. Văn chương Kawabata khi sang tiếng Ăng Lê tiếng Mẽo vẫn giữ được vẻ đẹp mong manh, tĩnh lặng của tinh thần wabi-sabi. Với Kang thậm chí còn rõ ràng hơn. Cụ thể sát sườn: Quốc tế hóa những nỗi đau hiện tại mà nội tại. Trung Quốc đương đại đã bước lẹ qua các tabu phạm húy văn học mà vẫn cố thủ thể chế (từ các chuyện teen Hồng Vệ Binh đến đại lão Mao Trạch Đông), Hàn Quốc/Nam Hàn thì chẳng né tránh lịch sử buồn (phong trào dân chủ Gwangju được văn chương hóa kiểu hiện đại, phi tuyến tính, biểu tượng). Đến đây các “nhà văn lớn của quốc gia đang lớn” phải nhận ra bí kíp: Điều quan trọng là không viết như bản báo cáo chính trị bằng văn chương, mà phải như một bi kịch của con người hiện đại ở ngoài phương Tây trước bạo lực và ký ức. Chính cách tiếp cận này giúp tác phẩm của họ vượt ranh giới quốc gia chạy tót lên bàn giám khảo Viện Hàn lâm Thụy Điển. VN có kho tàng lịch sử ngàn năm ngang cơ 3 nước đồng văn đó, có chiến trường hiện đại khủng và còn nóng ấm, có khuôn viên hậu chiến Đổi mới hoành tráng cùng tầm cỡ… Nhưng – chữ Nhưng nặng trịch này rất đáng nâng lên cao để cùng nhau hò dô ta nào – chúng ta chỉ dùng cách thức hành văn “kể chuyện” chứ chưa là “viết truyện” như vài phê bình gia siêu oách một thời (Nguyễn Minh Châu – Đại tá QĐNDVN, nhà văn Việt hàng đầu TK 20; Hoàng Ngọc Hiến – Giáo sư ĐH Viết văn Nguyễn Du) đã chỉ thẳng ngón trỏ: Minh họa nội dung; Yếu lỏng cấu trúc; Đồng phục hình thức. Nói thẳng tưng, ta chưa có “tiểu thuyết” theo kiểu Âu-Mỹ!

Vậy con đường nào cho một Nobel Văn học VN ta? Nếu xem giả thuyết về Nguyễn Du và Nam Cao như tấm gương phản chiếu thì câu hỏi quan trọng hơn là: Chúng ta cần làm gì cho tương lai? 1- Viết cho thế giới, không chỉ cho chính mình: Nhà văn Việt cần bước ra khỏi vùng an toàn của những đề tài quen thuộc. Tỷ dụ vài đề tài nóng mà lành: Cô đơn trong kỷ nguyên số; Khủng hoảng bản sắc; Mặt trái của tăng trưởng kinh tế – rặt là chất liệu văn chương mang tính toàn cầu. Nhưng – vẫn cái chữ Nhưng nặng trình trịch – quan trọng hơn, đó phải là những câu chuyện được kể bằng một ngôn ngữ nghệ thuật mới, bằng những mô thức văn học mới; 2- Dịch thuật như một chiến lược quốc gia: Nếu thiếu những bản dịch xuất sắc, mọi thiên tài đều có nguy cơ bị nội địa hóa. VN cần đầu tư dài hạn cho việc đào tạo dịch giả, thậm chí – quả này nghe thì thấp cơ nhưng khả ái – hợp tác với các nhà văn quốc tế để “đồng sáng tác” trong việc chuyển ngữ; 3- Chấp nhận thử nghiệm và khác biệt: Đấu trường Nobel Văn chương luôn tìm kiếm sự đổi mới. Những tác giả phá vỡ cấu trúc truyền thống đơn điệu, dám đi đến tận cùng của ngôn ngữ và trải nghiệm mà không quá “quậy” thường có lợi thế hơn. Điều này đòi hỏi một môi trường văn hóa đủ cởi mở để chấp nhận những tiếng nói nghệ thuật khác biệt; kể cả gây tranh luận, tạo phản biện (miễn không tạo phản – không phản dân tộc giống nòi, không phản Tổ quốc quê hương; rộng hơn: không phản nhân loại, không phản trái đất (phản vũ trụ thì ôkê; phản vật chất cũng ôkê). Chốt: Văn chương không phản-tinh-thần!

Cuối cùng – Giấc mơ Nobel và lời giải của ngôn ngữ: Soi kỹ giả thuyết Nobel cho Nguyễn Du và Nam Cao sẽ nhận ra điều sâu xa hơn… Văn học Việt không hiếm thiên tài, mà thiếu những chiếc cầu để thiên tài đi ra thế giới. Ngôn ngữ, thứ làm nên linh hồn và thể xác văn chương, mà trớ trêu cũng chính là rào cản lớn nhất. Khi tiếng Việt chưa được chuyển hóa tinh tế sang các ngôn-ngữ-có-tính-toàn-cầu được/bị phương Tây mặc định thì những kiệt tác của chúng ta vẫn sẽ giống như những bản nhạc tuyệt đẹp chỉ vang lên trong “Căn phòng Đất nước Việt Nam” khép kín, cùng lắm vọng sang “Chung cư Khu vực Đông Nam Á” hoặc “Ngoài ngõ ba nước đồng văn”… Trăm năm cô đơn! Và vì thế, giấc mơ Nobel VN không nằm ở việc tìm kiếm “Nguyễn Du thứ hai”, “Nam Cao thứ hai”… Nó nằm ở việc “nàm thao” để làng toàn cầu có thể nghe được Nguyễn Du, hiểu được Nam Cao, bằng chính ngôn ngữ toàn cầu. Chừng nào việc dịch thuật chưa hoàn thiện, chừng đó phe ta vẫn còn đứng trước nghịch lý: sở hữu một số tượng đài nhưng chưa thực sự có vị trí tương xứng trên khuôn viên văn học thế giới. Trừ phi, Việt Nam phe ta hô biến – như “chàng Gióng” – vụt trở thành cường quốc toàn diện, từ kinh tế đến văn hóa, từ quốc phòng tới ngoại giao, từ vân vân đến vân vi… Khi đó thiên hạ phải tự học tiếng Quốc ngữ cực kỳ “trong sáng” song le đầy “phong ba bão táp” để mà chiêm bái văn thơ Việt Nam. Thế thôi…

* Và rất nên coi thêm cả bài này – nhiều ý mới, cụ thể và trồng mầm hy vọng (“Đường đến Stockholm của văn chương Việt, Tô Hà Lâm, vanviet.info 2/4/2026): Qua 5 hiện tượng cá nhân ở 4 phạm vi văn học (trong nước: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh; ngoài nước: Dương Thu Hương; viết tiếng Anh: Ocean Vuong, Viet Thanh Nguyen), tác giả đã dự báo tương lai: “Trong 5-10 năm tới, cánh cửa thực tế nhất cho chủ nhân Nobel mang căn cước Việt sẽ là tác giả gốc Việt nào đó viết bằng tiếng Anh/Pháp, đã/đang tích lũy hồ sơ quốc tế dày (giải lớn Pulitzer/Booker International/Neustadt), dịch đa ngữ, hiện diện học thuật và nhất quán về tầm nhìn thẩm mỹ lẫn tư tưởng. Với tác giả trong nước viết tiếng Việt, trong ngắn hạn khả năng thấp chủ yếu do độ hiển thị quốc tế/hạ tầng dịch thuật, xuất bản. Tuy vậy, không có nghĩa bất khả: một chiến lược liên hợp (dịch sang 3 ngôn ngữ chính, chuyên khảo phê bình, dịch giả then chốt, hồ sơ toàn sự nghiệp) vẫn có thể đảo chiều trong 10-20 năm. Cố lên, anh chị em văn thi sĩ trong-ngoài Hình Chữ S! Hò dô ta nào kéo thơ Việt ta qua đèo… Hò dô ta nào kéo văn Việt ta qua núi… Dốc núi Nô Beo cao đèo cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi… Giành Nô Beo nào…

 

[50] Theo thơ Ngô Tự Lập: “tiếng Việt nghèo nhưng đẹp như một dòng suối nhỏ” (Bài “Máu Việt”, tập thơ Chuyến bay đêm tháng sáu, Nxb Văn Hóa 2000, minh họa của Ngô Tự Thành; & sách Phạc Nhiên Đy, Đặng Thân, Nxb Veritas Vanitas 2022). Xt: “Tiếng Việt còn khá “nghèo” về số lượng từ vựng so với các thứ tiếng hàng đầu. Nhiều học giả khá khả kính căn vặn điều này, nên xin có thống kê số lượng từ vựng của tiếng Việt và 1 số thứ tiếng khác như  sau:  Việt (kể cả tiếng các dân tộc thiểu số: ~ 180.000 từ; Hàn (cả Bắc & Nam): 1.200.00  từ; Anh: 1.010.000 từ ; Thổ  Nhĩ Kỳ: 700.000 từ; Thụy Điển [lò Nô Beo hehe]: 650.000 từ; Nhật: 650.000 từ; Icelandic: 600.000 từ; Lithuanian: 600.000 từ. (Nguồn: Google et al)” [Phạc Nhiên Đy – Sđd, tr.439].  

[51] Thơ Lưu Quang Vũ (Bài Tiếng Việt”; Nhạc: Lê Tâm, Biểu diễn: Ngô Hồng Quang; thivien.net; youtube.com).

 

[52] Xt: Ngôn ngữ Quốc – Cộng và biên giới của tự do (Tino Cao, vanviet.info 5/32026): Xin bắt đầu một ví dụ thực tế khi tôi giao tiếp với thính giả trên sóng phát thanh ở Little Saigon. Người ta bắt bẻ tôi tại sao dùng từ “liên hệ” mà không dùng từ “liên lạc” …  tại sao là “đăng kí” không là “ghi danh” … tại sao và tại sao; và cuối cùng họ kết luận tôi là “ăn nói như Việt cộng”. Tôi làm báo trong khoảng thời gian chưa dài nhưng cũng đủ hiểu điều tưởng như đơn giản lại vô cùng phức tạp: trong cộng đồng của mình, ngôn ngữ không bao giờ chỉ là ngôn ngữ. Mỗi chữ được nói ra đều mang theo một lịch sử, một bóng đổ chính trị, một khả năng bị diễn giải ngoài ý muốn. Tôi có lúc từng nghĩ rằng khi rời VN, sẽ bước vào không gian biểu đạt rộng mở hơn, nơi tự do ngôn luận được bảo đảm bởi hiến pháp thể chế tự do … Nhưng thực tế Nam California… cho tôi thấy một nghịch lí khác: tự do trên ý nghĩa pháp lí không đồng nghĩa tự do diễn ngôn xã hội …

Cũng có những xã hội mà chiến tranh chưa bao giờ kết thúc trong ngôn ngữ dù đã qua hàng chục năm. VN là trường hợp thế. Đã hơn nửa thế kỉ sau 1975, cấu trúc đối lập “Quốc gia – Cộng sản” vẫn tiếp tục phát huy sức mạnh như hệ quy chiếu vô hình chi phối cách người ta nói, viết, gọi tên và thậm chí cảm nhận thực tại. Điều đáng chú ý hơn là cấu trúc ấy không chỉ tồn tại trong lãnh thổ VN mà được tái sản xuất mạnh mẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt tại Little Saigon ở Nam California. Ở cả 2 không gian chính trị khác nhau, có thể quan sát 1 hiện tượng tương tự: ngôn ngữ bị quân sự hóa, từ vựng trở thành mật mã ý thức hệ và quyền được sử dụng chữ nghĩa một cách tự do bị giám sát, dù cơ chế giám sát đó mang hình thức khác nhau. Điều đáng chú ý, sự quy chụp ấy không thực sự xuất phát từ nội dung tôi nói mà từ lớp nghĩa xã hội gắn lên ngôn từ. Ngôn ngữ xã hội học gọi hiện tượng này là tính chỉ dấu xã hội của ngôn ngữ … Khi tôi nói “đăng kí” thay vì “ghi danh”, người nghe không chỉ nghe một động từ; họ nghe thấy một kí ức lịch sử, một không gian chính trị mà họ tin rằng từ ấy thuộc về.

Trong các cộng đồng di dân từng trải qua chấn thương, ngôn ngữ thường trở thành kho lưu trữ bản sắc. Nhà ngôn ngữ học J. Fishman chỉ ra cộng đồng di dân có xu hướng bảo tồn biến thể ngôn ngữ của thời điểm rời quê hương như một hình thức giữ gìn bản sắc tập thể. Trong trường hợp người Việt tị nạn, tiếng Việt trước 1975 không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu tượng ý thức hệ của một chế độ đã mất … P. Bourdieu gọi mỗi cộng đồng là một “thị trường ngôn ngữ”, nơi một số biến thể được xem là hợp pháp hơn những biến thể khác. Trong thị trường của Little Saigon, “ghi danh” mang giá trị biểu tượng cao hơn “đăng kí” không phải vì nó chính xác hơn về ngữ nghĩa mà vì nó gắn với một kí ức chính trị cụ thể và vì người ta không muốn được gợi nhớ đến cảm xúc bị “bắt buộc đi cải tạo”, tức đi tù sau khi trình diện và đăng kí … Qua thời gian, quá trình mà nhà ngôn ngữ học A. Agha gọi là enregisterment diễn ra: tập hợp từ vựng được gắn chặt với bản sắc xã hội nhất định. Khi người ta liên tục nhắc rằng “đó là từ của Việt cộng”, sự liên hệ ấy dần dần trở thành niềm tin tập thể dù không có cơ sở ngữ học nội tại nào… Hiện tượng ấy không phải là chuyện cá biệt Little Saigon mà hầu hết các thành phố, tiểu bang có nhiều người Việt “tị nạn” sinh sống … M. Foucault từng lập luận rằng quyền lực không chỉ nằm trong nhà nước hay trong bộ máy cưỡng chế hữu hình mà hiển lộ cả trong các cấu trúc tri thức và diễn ngôn. Diễn ngôn không chỉ phản ánh thực tại; nó kiến tạo thực tại bằng cách xác định điều gì có thể được nói, ai có quyền nói và trong khuôn khổ nào. Ở VN, cụm từ như “thế lực thù địch”, “diễn biến hòa bình”, “phản động” không chỉ là từ ngữ mô tả mà còn xác lập phạm vi chính trị của sự khả nghi. Nhà báo, học giả hay người bình luận khi lựa chọn từ vựng lệch khỏi khung chính thức có thể ngay lập tức bước vào vùng rủi ro. Ngôn ngữ vì thế không còn là công cụ trung tính mà trở thành một cơ chế kỉ luật.

Điều khiến hiện tượng “ngôn ngữ Quốc-Cộng” trở nên đặc biệt là cơ chế tương tự lại có thể được quan sát trong cộng đồng người Việt chống cộng tại Nam California, nơi vẫn luôn tự hào rằng không tồn tại hệ thống kiểm duyệt nhà nước kiểu VN … Một người có thể không bị truy cứu pháp lí vì một phát biểu nhưng có thể bị nghi ngờ lập trường thân cộng, bị cô lập, bị gắn nhãn chỉ vì lựa chọn thuật ngữ không phù hợp với chuẩn mực cộng đồng. Nếu ở trong nước, việc dùng từ “ngụy” từng là chuẩn mực chính thức trong nhiều thập niên, thì ở hải ngoại, việc gọi chính quyền hiện nay đơn giản là “chính phủ Việt Nam” thay vì “chế độ cộng sản” có thể bị xem là mềm yếu/thỏa hiệp. Hai cơ chế khác nhau nhưng cùng sản xuất cho ra một kết quả: thu hẹp không gian biểu đạt. G. Orwell từng cảnh báo về ngôn ngữ chính trị…Trong bối cảnh VN có thể mở rộng nhận định ấy theo hướng khác: ngôn ngữ chính trị còn trở thành công cụ xác nhận lòng trung thành. Khi một từ ngữ mang tính nhận diện phe phái, nội dung của phát biểu bị đẩy xuống hàng thứ yếu; điều được kiểm tra trước tiên là dấu hiệu ý thức hệ … không phải trên cơ sở lí luận mà trên cơ sở những từ khóa được sử dụng. Trường hợp “ngày 30 tháng Tư” là minh họa điển hình … Tương tự, thuật ngữ “ngụy” một thời gian dài từng được sử dụng phổ biến trong văn bản chính thức tại VN để chỉ chính quyền VNCH. Dù trong những năm gần đây cách dùng này đã giảm dần, kí ức về nó vẫn là một vết thương sâu sắc đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ngược lại, trong một số diễn ngôn chống cộng, từ “Việt cộng” được dùng như nhãn hiệu bao trùm, bất kể cá nhân cụ thể có thuộc bộ máy chính trị hay không, không kể người gốc miền Bắc hay miền Nam, miễn là có lập trường gần gũi với chính quyền trong nước. Cả hai trường hợp đều cho thấy một quan niệm giản lược, thậm chí thô thiển: cá nhân bị hòa tan vào nhãn hiệu ý thức hệ. Khi ngôn ngữ biến thành nhãn dán, con người cụ thể với kinh nghiệm đa dạng của họ bị xóa bỏ. Để hiểu vì sao hiện tượng này tồn tại dai dẳng, cần nhìn vào khái niệm chấn thương văn hóa mà nhà xã hội học J. Alexander đề xuất … một cộng đồng hình thành bản sắc thông qua cách diễn giải đau thương tập thể. Đối với cộng đồng người Việt tị nạn, trại cải tạo, vượt biên, hải tặc, những cái chết trên biển không chỉ là sự kiện lịch sử mà là nền tảng đạo đức của trí nhớ cộng đồng … Ở phía trong nước, kí ức chiến thắng và huyền thoại cách mạng cũng đóng vai trò tương tự … Điều nghịch lí nằm ở chỗ: tại VN, kiểm soát diễn ngôn mang tính thể chế với luật pháp và hệ thống truyền thông nhà nước xác định giới hạn. Tại Mĩ, đặc biệt trong cộng đồng người Việt ở California, không tồn tại luật cấm ngôn luận như vậy. Tu chính án thứ Nhất bảo đảm quyền tự do phát biểu. Nhưng tự do pháp lí không đồng nghĩa với tự do xã hội. H. Arendt từng cảnh báo rằng cô lập xã hội là một hình thức quyền lực tinh vi. Một cá nhân có thể không bị truy tố nhưng nếu bị loại khỏi mạng lưới cộng đồng, tiếng nói của họ mất nền tảng … Trong bối cảnh ấy, những người sống giữa 2 hệ thống, từng ở VN rồi định cư tại Mĩ, như tôi, thường rơi vào vị thế lưỡng nan. Họ hiểu sự phức tạp ngôn ngữ của xã hội trong nước, đồng thời thông cảm nỗi đau của cộng đồng người tị nạn. Khi họ cố gắng nói bằng giọng phân tích, tránh cực đoan, họ có thể bị nghi ngờ ngay trên đất Mĩ này. Ở đây, xung đột ngôn ngữ không còn là vấn đề trừu tượng; nó là trải nghiệm cá nhân, thành cảm giác mệt mỏi khi mỗi câu chữ đều phải được cân nhắc như một tấm hộ chiếu qua biên giới vô hình.

Chiến tranh VN đã kết thúc năm 1975 về mặt quân sự, nhưng chiến tranh ngôn ngữ vẫn tiếp diễn. Một xã hội trưởng thành không phải là xã hội không có bất đồng mà là xã hội chấp nhận nhiều cách gọi tên sự vật hiện tượng mà không quy kết đạo đức tức thì. Tự do ngôn ngữ không đòi hỏi xóa bỏ kí ức hay trung lập giả tạo; nó đòi hỏi thừa nhận rằng cùng 1 sự kiện có thể được nhìn từ nhiều góc độ và sự tồn tại song song của các cách gọi không nhất thiết được xem như phản ánh thái độ thù địch. Nếu ngôn ngữ tiếp tục bị sử dụng như vũ khí để xác nhận phe phái, cộng đồng VN xuyên quốc gia sẽ mãi bị chia cắt trong những thực tại song song. Nhưng nếu ngôn ngữ được trả lại chức năng tìm kiếm sự thật, nếu kí ức được tôn trọng mà không bị biến thành hàng rào cấm đoán suy nghĩ thì khả năng của một diễn ngôn hậu chiến có thể mở ra. Điều cuối cùng tôi tự hỏi không phải là mỗi người đứng về phía nào trong cuộc đối đầu lịch sử ấy mà là họ có cho phép mình được quyền nói như 1 con người trước khi nói như 1 biểu tượng ý thức hệ hay không. Chỉ khi ấy, chữ nghĩa mới thôi làm biên giới và trở lại là không gian chung cho suy tư, cho tranh luận và cho sự trưởng thành mỗi bản thể.

[Tưởng cũng rất nên xướng lại: Tác giả thượng dẫn là chủ nhân ông của Giải Nghiên cứu-Phê bình thuộc khuôn khổ Giải Văn Việt lần thứ 11 (năm 2025). Sành (ít nhất 2 ngoại ngữ Anh-Pháp, “bô giai 12 chân kính” (trữ tình ngoại đề tí giảm nặng nề chính trị chính em ngôn ngữ ngôn nghẽo) tiểu luận gia thời 4.0 í đã xuất sắc ẵm giải thưởng khá oách trên với tỷ lệ 4/5 phiếu bầu từ hội đồng].

 

[53] Xt: Tino – tên riêng, phổ biến cho nam giới ở các nước phương Tây (xuất phát từ tiếng Ý, Tây Ban Nha) thường là tên viết tắt của Valentino, Constantino). Tại VN đó cũng là 1 tên gọi ở nhà rất dễ thương dành cho bé trai. Nhiều ca sĩ, DJ, người nổi tiếng thích lựa chọn như nghệ danh, biệt danh.

[54] “Biển ngoài”: Cách gọi vui tếu cho từ “Hải ngoại”, “Ngoài nước” bên cạnh “Việt Nam”, “Trong nước”, “Quốc nội” của giới văn sĩ… biển ngoài. [Xt: Thực chất, đó là 2 khái niệm rất khác nhau về địa lý và ngôn ngữ. Biển ngoài (Biển khơi/ Công hải) là vùng biển xa, biển khơi, hải phận quốc tế… không có nghĩa hải ngoại. Chỉ các vùng nước rộng lớn nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền/quyền tài phán quốc gia (như ngoài lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế); Hải ngoại: Từ Hán Việt dùng để chỉ các vùng đất, quốc gia nằm ở bên kia biển/ ở nước ngoài. Ví dụ quen thuộc là kiều bào hải ngoại (người Việt sống ở nước ngoài) hoặc lãnh thổ hải ngoại].

[55] Xt: Dzô dzuyên! Không khảo mà xưng, má AI nhìu chuyện lại nhảy ra 8 nè: “WC trong đời sống hàng ngày thường là từ viết tắt của Water Closet, nghĩa là nhà vệ sinh/phòng vệ sinh [Biết rồi, khổ lắm nói mãi!] Thuật ngữ này có từ TK 19 tại Anh để mô tả căn phòng nhỏ được trang bị hệ thống bồn cầu (ngồi bệt) xả nước hiện đại thay cho loại cầu tiêu cầu tõm (chồm hổm) tự hoại. Bên cạnh ý nghĩa “đậm hương vị” nhất đó, WC còn là viết tắt, từ lóng trong một số lĩnh vực khác. 1. Thể thao: Viết tắt của World Cup/ Giải vô địch bóng đá thế giới [Csnl:A vụ nầy ngon à, “tranh thủ” mà “khẩn trương” cập nhật đê! Tin giờ chót: Để chào mừng ngày Quốc khánh “Cát-tó duy-ê” (phiên âm dân gian của người An Nam ta thế kỷ trước từ tiếng Tây thực dân sài lang Phú Lang Sa “Quatorze Juillet – Ngày 14 tháng 7”), nước bạn España (tiếng Anh là Spain, Người viết tránh phiên âm có chữ Tây đáng ghét hihi) đã đánh bại ngoạn mục cựu Mẫu quốc 2-0 ở trận bán kết thực thi rất thuyết phục vào trưa 14/7 tại sân New Jersey (Huê Kỳ quốc), và trở thành đội đầu tiên tiến vào ẵm trận Chung kết World Cup 2026. Đội banh xứ sở của bò tót, quê hương của Don Quixote và Cervantes đang chờ đối thủ từ cặp bán kết thứ hai (Anh vs Argentina) để tranh hùng vô địch vào ngày 19/7 (mà cái bổn trường ca du ký dằng dai khốn khổ khốn nạn trải qua 5 tháng 3 ngày này đang ráng kết thúc cùng ăn mừng). Đùa giỡn đủ rồi, nghiêm chỉnh: Ngày 14/7 là Quốc khánh của nước Pháp/ France – quốc hiệu chính thức là Cộng hòa Pháp (République française); còn gọi là Ngày Bastille, kỷ niệm sự kiện quần chúng phá ngục Bastille vào năm 1789 trong cuộc Đại cách mạng Pháp, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế và sự chào đời của nền Cộng hòa với cỗ xe “tam mã bất tử” cho toàn nhân loại nhong nhong: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Tri ân nước Pháp ạ! Trận đá banh Tây Ban Nha vs Pháp 2-0 vừa rồi chả là cái đinh gì trong dòng lịch sử nhân loại (quand même thì vưỡn bravo Mbappe!] 2. Kỹ thuật: WC là viết tắt của Water Column (cột nước) – một đơn vị đo áp suất. 3. Mạng xã hội: WC còn là từ lóng chỉ hành động quan hệ tình dục bằng miệng.  [Í ẹ em chã em chã…] 

 

[56] Xt: Vài tài liệu kinh điển và thông tin, quan điểm cập nhật về Bản sắc – Văn hóa VN

* “Sách phân tích cội nguồn văn hóa của học giả Đào Duy Anh (vnexpress.net 5/4/2026): 2 ấn phẩm “Văn hóa là gì?” và “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” là bộ sách của học giả Đào Duy Anh nêu định nghĩa về văn hóa, cung cấp thêm góc nhìn về nguồn gốc dân tộc Việt. Xuất bản lần đầu năm 1948, cuốn đầu “Văn hóa là gì?” là 1 trong những tác phẩm sớm đặt nền móng lý luận của VN cho nhận thức văn hóa giữa TK20. Tác giả nêu hàng loạt câu hỏi (văn hóa là gì, hình thành từ đâu, vận động ra sao trong lịch sử) để từng bước kiến giải nó như chỉnh thể rộng lớn, gắn chặt với đời sống con người. Tác phẩm cũng nhìn lại tiến trình phát triển nhân loại, từ buổi đầu con người vật lộn với tự nhiên để sinh tồn, đến khi văn hóa trở thành công cụ, là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Văn hóa ngày nay với cái ý nghĩa tốt đẹp của nó, là kết quả của sự hợp tác của toàn thể nhân loại trải qua các thế hệ, chứ không phải của một giai cấp, quốc gia nào riêng. Sau hơn nửa thế kỷ, sách vẫn giữ nguyên giá trị, giúp độc giả tiếp cận lại những suy tư ban đầu về văn hóa trong học thuật, gợi mở nhiều cách nhìn sâu sắc. Cuốn thứ hai “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” là 1 trong những công trình tiên phong của sử học VN hiện đại, kết hợp giữa cổ sử, khảo cổ học, dân tộc học và nhân chủng học. Tác giả từng bước phân tích vấn đề nguồn gốc người Việt bằng những luận cứ khoa học, mở ra hướng nghiên cứu mới.

* “Chuẩn mực con người Việt Nam” gồm những phẩm chất nào?” (viettimes.vn 7/7/2026): “Chuẩn mực con người Việt Nam” gồm 8 phẩm chất: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo. Đây là sự kết tinh từ 3 giá trị quốc gia, văn hóa và gia đình. “Hệ giá trị quốc gia” gồm các giá trị cốt lõi: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. “Hệ giá trị văn hóa” được xây dựng trên các yếu tố: dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học. “Hệ giá trị gia đình” có các giá trị cốt lõi: ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Phó TT Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1189 của Thủ tướng ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, và chuẩn mực con người VN.

* Công dân toàn cầu và câu chuyện bản sắc văn hóa(Nguyễn Văn Chính, tiasang.com.vn 9/2/2019): Bản sắc dân tộc thực ra là cấu trúc nhân tạo. Toàn cầu hóa dường như không làm triệt tiêu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và tính đa dạng văn hóa như nhiều người lo ngại. Văn hóa, dù định nghĩa theo cách nào cũng được quy về 3 thành tố chính: 1. Hiện vật văn hóa do con người làm ra đáp ứng nhu cầu cuộc sống  (nhà cửa, trang phục, công cụ sản xuất); 2. Hành vi, hành động của con người khi ứng xử với nhau và ứng xử với tự nhiên (cách chào hỏi nhau, tức giận, vui sướng, tôn thờ); 3. Tri thức văn hóa là những hiểu biết, quan điểm, kỹ năng mà con người có được qua trải nghiệm/giáo dục. Với VN, qua mỗi thời kỳ chống chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, biểu tượng bản sắc dân tộc đã lại một lần nữa được tái cấu trúc, trong đó xu hướng “bản địa hóa” bản sắc dân tộc được đề cao, xem văn hóa dân gian và lối sống làng xã là “linh hồn của văn hóa dân tộc” nhằm chống lại quan điểm cho rằng bản sắc văn hóa VN “chỉ là một bản sao của văn hóa Trung Hoa”. Ngày nay, trước làn sóng hội nhập kinh tế/toàn cầu hoá, những thách thức mới về bản sắc văn hoá dân tộc lại được đặt ra một cách gay gắt. Trong bối cảnh hệ thống XHCN thế giới tan rã và học thuyết về quốc tế vô sản chỉ còn là những giá trị lịch sử, VN có khuynh hướng quay trở lại với chủ nghĩa dân tộc, xem việc trở lại với cội nguồn, tôn vinh các giá trị văn hoá truyền thống và cố kết dân tộc như một chiến lược văn hoá trong thời đại hội nhập toàn cầu. Cũng trong bối cảnh này mà đạo thờ cúng tổ tiên và tôn vinh Quốc tổ – Vua Hùng đã được nhìn nhận lại như một “quốc đạo” và một biểu tượng mới đại diện cho bản sắc văn hoá và đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt. Chủ nghĩa dân tộc VN đang được cấu trúc lại, trong đó bản sắc văn hóa nổi lên như một chiến lược sinh tồn trước làn sóng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bởi “hội nhập mà không còn bản sắc thì cũng không khác gì bán linh hồn cho quỷ sứ”.

* Bản sắc Việt và Phật tính có quan hệ dung hợp sâu sắc; trong đó tinh thần từ bi, vô ngã và hướng thiện của Phật giáo đã hòa quyện vào đạo lý làm người cùng truyền thống yêu nước của dân tộc Việt. Sự tương đồng, dung hợp nền tảng qua tinh thần hòa hợp: Phật giáo khi nhập vào VN không áp đặt giáo điều cứng nhắc mà chọn cách dung dị hóa, hòa vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đạo lý truyền thống của người Việt. Chữ “Từ bi” và lòng nhân ái: Bản tính trọng tình nghĩa, đùm bọc lẫn nhau của người Việt gặp gỡ hoàn hảo với tinh thần từ bi, cứu khổ ban vui của đạo Phật. Biểu hiện trong đời sống,văn hóa qua đạo đức ứng xử: Phật tính hướng con người tìm về bản ngọc thanh tịnh bên trong, điều này củng cố tính cách hiền hòa, vị tha, trọng tình nghĩa ở ứng xử của người Việt. Đồng hành cùng đất nước: Triết lý “hộ quốc an dân” biến mái chùa thành biểu tượng của làng quê, nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa và tinh thần kiên cường bảo vệ Tổ quốc trong mỗi biến cố lịch sử. (“Đạo Phật trong đời sống Việt: Giữ hồn dân tộc, gieo mầm thiện lành”, Bùi Hữu Dược vietnamnet.vn 30/5/2026).

* Đặc điểm người Bắc-Trung-Nam có gì khác nhau? Người Bắc trọng Lễ; người Trung trọng Dục; Người Nam trọng Tình. “Duy lễ” là coi trọng lễ nghi, hình thức, phép tắc, thưa gửi, bẩm báo, xét nét cử chỉ, lời nói, ăn mặc; “Duy dục”: tham vọng, ham muốn, phấn đấu, quyết liệt tranh giành, vươn lên; “Duy tình”: trọng đời sống tình cảm, dễ đồng cảm, hòa đồng, sẻ chia, “dễ thương” là ok, không xét nét, toan tính, lý sự. Mỗi đặc điểm hay dở nói trên đều do nhân duyên (hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, lịch sử) hình thành nên. Đặc điểm chung ở người Việt tích hợp cả 3 mặt Lễ, Dục, Tình trong mỗi cá nhân; nếu ai hên có nhiều cái tích cực của cả 3 mặt đó thì thành công, và ngược lại. Có lẽ nhờ vậy người Việt rất dễ thích nghi mọi hoàn cảnh, mọi xã hội để sinh tồn, phát triển. P. Doumer, Toàn quyền Đông Dương (1897-1902) từng cho rằng “đặc điểm người An nam với người Nhật giống nhau và nổi trội nhất châu Á”. (Mạn đàm về người Việt”, Mạc Văn Trang, boxitvn.blogspot.com 11/5/2026). [Csnl: Quẹo chuyện so sánh Nhật Bổn – An Nam sang chuyện thời sự đá banh đang nóng bỏng nào… “Trước 1975, bóng đá miền Nam được xếp vào loại khá ở châu Á, trên cả Nhật và Thái Lan, ngang hàng với Đại Hàn, Hồng Kông, Nam Dương. Trong trận tranh giải gì đó, đội Nhật thua đội VN, và đội Nhật đã có nhã ý tặng cho đội VN 1 đôi giày bằng vàng nhỏ bé, ngụ ý rằng nền bóng đá của Nhật còn thua kém VN.” (“Giải vô địch bóng đá thế giới 2026/FIFA World Cup 2026, Ngự Thuyết, damau.org 13/7/2026].                                     

*  “Hồn cốt Việt qua thơ Bùi Giáng” (Lê Huỳnh Lâm, vanchuongviet.org 19/8/2026):

Bùi Giáng vốn là 1 đại sư lập tông phái thiền thi đầu tiên và cuối cùng của TK 20. Bằng con đường trí huệ qua ngôn ngữ, BG đã vứt bỏ phương tiện ngôn ngữ trần gian theo thể cách luận lý học, logic học, cấu trúc học. Với BG chỉ còn âm thanh chuyển động xuyên qua ông để được giải mã qua hệ ngữ ngôn vụt hiện của riêng ông, nhằm gửi lại trần gian khổ lụy những bông hoa dại bên bờ mương gợi lên một niềm hy vọng nhỏ nhoi tỏa hương ngất ngây” …

Bùi Giáng đã vượt thoát rào cản thân phận nhược tiểu, đưa ngôn ngữ Việt băng qua hệ hình quy ước về lịch sử và giải vây cho những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước VN. Tạo nên một vị thế khác cho ngôn ngữ VN. Triết thi BG bỏ quên mất và vượt qua loại hình văn phạm nô dịch từ Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh; rồi Pháp đến Mỹ … Vượt qua quy ước của những nhà sắp xếp, thống kê, quy nạp, lý luận, cấu trúc học, âm vị học về ngôn ngữ tiếng Việt. Từ đó, Bùi tiên sinh đẩy ngôn ngữ Việt lên nấc thang khác ngang với các ngôn ngữ của các quốc gia tiến bộ trên thế giới. Giới thiệu và gợi mở ra một tiền thân của tiếng Việt về sự đa dạng trong hệ nguyên âm rất phong phú và đầy nhạc tính, cùng với sự đảo ngữ, đảo nghĩa rất thú vị, sinh động … “Có mấy ngón/ Năm ngón/ Mười ngón/ Món người /Non ngắm/ Nắm ngon/”; Hoặc là “năm ngón nón ngăm/ Màu đi trên nước cá tăm chuyên cần” (Bài “Trong bàn chân đi; sách Đười ươi chơn kinh – 2012); Hay “Gọi là trong cõi gọi ra/ Gắt gay tiết điệu đằng la lồ nồn/ Gẫm câu kỳ ngộ bồn chồn/ Xin chào giữa bước/ Gắp-Cồn-Lá-Hoa (Bài “Logos vãn niên ca” – Sđd). Và “Giữa hư vô nếu em còn/ Nhớ ta/ Em gửi cái hồn cho ta/ Úp môi ôm mặt khóc òa/ Cồn lê lên miệng là ba bốn lần” (Bài “Trời khóc Marilyn” –  Sđd). Sau này một số người ảnh hưởng Bùi Giáng cũng làm thơ lái, nhưng chỉ ở phần đảo chữ chứ chưa đạt đến trình độ vừa đảo ngữ vừa đảo nghĩa rất ly kỳ của Bùi tiên sinh.” …

Với Bùi Giáng, ngoài thứ thi ca sáng tạo ngôn ngữ, ông còn đẩy thi ca đến tính mệnh dân tộc và vượt cao hơn nữa là thể tính. Tức là Việt tính là hồn cốt của 1 dân tộc nói riêng hay tính thể của nhân loại nói chung. “Buổi về đắm lụy điêu linh/ Còn nguyên xứ sở mang hình chiêm bao/ Máu se tàn lạnh điệu chào/ Trên đầu phố lạ vẽ màu quê chung” (Bài “Marc Chagall”, sách Ngàn thu rớt hột – 1963).” …

Trong bối cảnh đương thời với thời tiết khí hậu khắc nghiệt mà mùa màng chiến tranh gặt hái triền miên trên mảnh đất buồn trăm năm đã dẫn đưa cuộc phiêu lưu của Bùi Giáng thi nhân về với đại dương mênh mông của không tính, một thứ hư vô hiện hữu khủng khiếp trước thời cuộc và đời sống thường nhật của thi nhân. Khiến những người còn lương tri như Bùi tiên sinh phải lao vào con đường không lộ của ngôn ngữ, để xô đẩy đến trạng thái phi ngã của ngôn ngữ, tức phi ngã của Việt ngữ, cũng là vô ngã của Việt tính, tức là vô ngã Việt. Và trong cuộc tang thương bi thảm của dân tộc vào mùa chiến chinh, triết thi họ Bùi đã ngộ ra sự trùng phùng vĩ đại, một sự hy vọng gửi vào những con người đang đối diện tử sinh từng phút giây. “Thưa rằng li biệt mai sau/ Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân (Bài “Chào Nguyên Xuân“, sách Mưa nguồn – 1962). Chỉ có những tâm hồn thấu thị ngọn nguồn tử sinh mới dám khẳng định trong li biệt sẽ có trùng phùng, nhưng lại trùng ngộ giữa nguyên xuân. Hai câu thơ trên như 1 công án thiền, 1 sự tinh đọng nhất của kinh Hoa Nghiêm …

Để xác định căn tính, hồn cốt của 1 dân tộc, đặc biệt là dân tộc mà cội nguồn chỉ được biết đến qua huyền sử quả thật là rất khó khăn. Dân tộc Kinh ở VN chính là dân tộc như vậy, dân tộc bị thất lạc sử thi, dân tộc còn mơ hồ về nguồn gốc và cội rễ văn hóa. Về lãnh vực tôn giáo của dân tộc Kinh cổ xưa có lẽ như giấc mộng giữa khu rừng huyền ảo, mơ hồ như hư ảnh không rõ nét. Vì thế ngày nay, VN đã du nhập nhiều tôn giáo, và có thể xem đạo Phật là tôn giáo có số lượng người Kinh tham gia nhiều. Bởi đạo Phật luôn nương vào văn hóa bản địa để truyền bá Phật pháp, vì với Phật giáo, tâm thức là quan trọng hơn cả, vạn pháp do tâm tạo mà. Tiếng Việt vốn tự thân đã có ngữ điệu, vì vậy hệ ngôn ngữ Việt có thể hóa thân vào các ngôn ngữ khác một cách dễ dàng mà không bị đồng hóa; dù chữ viết Việt đang sử dụng hôm nay có thể nói là muộn nhất trong các hệ ngữ học. Chữ Việt trong thời kỳ bị Hán hóa đã được diễn Nôm một cách trí tuệ để thoát khỏi sự đồng hóa. Đến thời Pháp, Mỹ các tiếng lời của Pháp, Mỹ cũng đã được Việt hóa một cách kỳ lạ mà không cần phải có từ điển giải thích, minh họa. Thử dẫn chứng vài ví dụ Việt hóa tiếng Anh, tiếng Pháp: cream – kem, beer (bière) – bia, café – cà phê, guidon – ghi đông. Vài ví dụ Việt hóa tiếng Trung: can – gan, xá xíu – char siu, hoành thánh – wun tun, lạp xưởng – lập chống, gần – cận, yêu – ái, nước – quốc … Viết đến đây tôi chợt nhận ra, căn tính, hồn cốt Việt chính là vô tính, vô tính không phải là không có, mà là cái tâm ban đầu, là hương màu nguyên xuân và hồn cốt Việt đã được Bùi tiên sinh dẫn đưa: “Buồn vui như thể thân mình/ Ai chia nửa máu, ai giành nửa xương”. Máu xương đã tạo dựng nên VN từ xưa đến nay, biết bao lớp người đã ngã xuống từ hàng ngàn năm trước để bảo vệ giống nòi, bảo vệ giang sơn, mở mang bờ cõi đến nỗi thiên nhiên đã tạc thành biết bao Hòn Vọng Phu. Mong sao nghiệp chinh chiến chấm dứt với VN…

 

[57] Theo 2 nguồn: 1. “Chính hiệu con nai vàng” [Xt: Thành ngữ vui trong tiếng Việt, để nhấn mạnh sự thật, chất lượng chuẩn xác, hoặc hàng chính hãng. Tích cũ từ nhãn hiệu thuốc cam nổi tiếng thời xưa ở phố Hàng Bạc, Hà Nội với biểu tượng con nai vàng, được gọi là “chính hiệu con nai vàng thủ đô”. Dần dần người ta dùng cụm từ này như cách nói ví von cửa miệng để chỉ đồ thật/hàng chuẩn/khẳng định chắc nịch về một chất tính, gốc gác nguyên bản nào đó (ví như: trường ca Việt chính hiệu con nai vàng; mì Quảng chính hiệu con nai vàng]; 2. Thơ Lưu Trọng Lư: “con nai vàng không ngơ ngác nữa” (Bài “Tiếng thu 2“). [Xt: Đó câu thơ được/bị sửa đổi của thi nhân cho chính tác phẩm thiên thu Tiếng thu của mình; vẻ như đánh dấu sự thay chuyển về tư tưởng nghệ thuật trong bối cảnh lịch sử sau năm 1975 chăng, khi mà bài mới mang tinh thần, hơi thở thời đại và nhất là câu kết sửa đổi thành: “Con nai vàng không ngơ ngác nữa, em ơi”. Có nhẽ 3/4 dân Việt non thế kỷ nay (từ 1939 lận!) đã thuộc lòng bản gốc được kết thúc qua 2 câu thơ kinh điển: “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô”, gợi vẻ đẹp mong manh, ngây thơ, rụt rè, bơ vơ của tâm hồn trước mùa thu. Nói cho ngay, bài “Tiếng thu 2” của nhà thơ Lưu Trọng Lư thực tế không được chính thức công bố hay ghi chép lại thành văn bản toàn vẹn trong các trước tác chính thống. Theo hồi ức từ ký giả Lưu Trọng Văn, quả là về sau thi sĩ có thử sáng tác thêm phần 2; nhưng vì chính ông không hài lòng và dư luận có phản ứng khác nhau nên cuối cùng đã không phổ biến hay nhắc lại bài thơ (nối dài). Chốt: Không có văn bản toàn bộ/chính thức nào của bài “Tiếng thu 2“. [Okie, mai mốt rảnh chường ca gia ta nhấc zalo cái vèo check lại bạn hiền Trọng Văn, dù vẫn tin bạn hiền AI].

[58] Theo câu tục ngữ dân gian rất quen thuộc.

[59] Phóng tác từ tiểu luận của cùng người viết “Không thể có sắc màu chung cho các lá cờ thơ (Báo Văn Nghệ Trẻ #2/2012, vanchuongplusvn.blogspot.com 1/3/2012).

[60] Đã Ct.

[61] Biển ngoài: Hải ngoại – đã Ct.

[62] Trường đoạn trên được viết theo tiểu luận Trần Doãn Nho (“Văn Chương Hải Ngoại: Nỗi Chữ – Nỗi Quê” – Kỳ V. Về Đâu?”, damau.org 16/5/2026).

[Xt:

* “Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước (Trần Doãn Nho, nguoi-viet.com 27/8/2026);

Người đầu tiên đề cập đến văn học hải ngoại/VHHN là nhà NCVH Nguyễn Huệ Chi trong bài “Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại” đăng trên tạp chí Văn Học (Hà Nội) 2/1994. Từ đó số người quan tâm đến VHHN một ngày mỗi nhiều. Dù còn có phần thiên kiến, nhưng nói chung, thái độ nghiên cứu, cái nhìn về VHHN của giới cầm bút trong nước càng ngày càng khách quan, thực tế hơn. Để hiểu rõ quá trình, từ thái độ “ghẻ lạnh, hắt hủi” đến sự thừa nhận tương đối khách quan nền VHHN, mời đọc nhận định từ 1 số nhà NCVH trong nước và nước ngoài qua các trích đoạn sau (lưu ý: năm bài viết xuất hiện).

Nguyễn Huệ Chi (1994): “Có một dòng văn học VN hải ngoại hay không? Câu hỏi đó với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành điều trăn trở … Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền VH trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác. Chúng lặng lẽ, tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ.” … Đỗ Minh Tuấn (1998): “Khi đặt bút viết bài này, trong tôi xuất hiện cảm giác hình như đang bước vào lãnh địa thuộc chủ quyền người khác. Mặc cảm đó là hệ quả kinh nghiệm văn hóa trong tiếp xúc, nhận biết, tiếp cận VHHN của cá nhân tôi với tư cách người viết, độc giả trong nước. Nhưng bản thân sự hiện diện của nó đã phát lộ tình trạng bị chiếm hữu, bị dán nhãn của VHHN. Nó tạo ra những người sở hữu khác nhau: ghẻ lạnh, hắt hủi hoặc mơn trớn, a dua. Nó cũng tạo ra những vùng cấm trong nhận thức, tiếp xúc. Hệ quả là nó đã từng trở thành ốc đảo xa vời, tạo cảm giác ngoại đạo cho nhiều người trong nước, kể cả những người muốn quan tâm.” … Hoàng Ngọc Hiến (2001): “Đánh giá một tác phẩm VHHN, câu hỏi đầu tiên là giá trị văn học của nó (có đáng là tác phẩm văn học không?), không mấy ai đặt câu hỏi về tính chất hải ngoại của nó, hoặc đó chỉ là câu hỏi phụ. ‘Văn học Việt Nam hải ngoại trước hết là văn học’ có nghĩa là vậy” … Vương Trí Nhàn (2003) … Thư Vũ (2021): “Văn học di dân ngày nay có thể vẫn còn gây nhiều tranh cãi liên quan đến tính địa-chính trị hay quan điểm cá nhân, nhưng không thể phủ nhận, trong những trang viết của bộ phận văn học này, bản sắc dân tộc vẫn giữ vai trò cốt yếu, đã và đang là tiếng nói cần được lắng nghe nhiều hơn trong không gian nghiên cứu phê bình đương đại” … Đỗ Thị Phương Lan (2024): “Những trang truyện ngắn đầu tiên ở hải ngoại gần như tập trung phản ánh, khắc họa nỗi đau rời bỏ quê hương của những người Việt di tản. Dù ra đi vì lý do gì, nỗi mất mát đớn đau nhất là lạc mất quê hương … Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực, xúc động về những chấn thương vượt biển đã là 1 trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu VHHN. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho VHHN lớn mạnh thêm lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm tính nhân văn, đậm tính thời sự nội dung phản ánh … Từ “chỗ đứng và trạng thái tinh thần” rất riêng của nhà văn di dân, văn học VN hải ngoại đã góp vào văn học Việt mạch chảy rất khác biệt của kiểu “tự sự hiện chứng”, gióng lên tiếng nói nhân bản của những trạng thái tinh thần bị chấn thương từ những bến bờ lạ” … Tao Đàn (2019): “Nhìn nhận một cách công tâm, sự nghi kỵ hay rào cản đặt ra đối với ‘VHHN’ thời kỳ đầu cũng không hẳn xuất phát từ tâm lý bài ngoại, nặng nề phân biệt chính trị ở trong nước. Trong giai đoạn 1975-1980, VHHN chủ yếu được viết với tâm thức lưu vong, hằn học dân tộc, bởi chủ thể viết là những quan chức, nhà văn miền Nam đang ân hưởng bổng lộc từ chế độ cũ … Tuy vậy từ sau 1986 đến nay, tâm thế của lực lượng sáng tác mới ở hải ngoại đã khác trước rất nhiều, điều này cũng đòi hỏi những chính sách, quan niệm văn học khác về khu vực này từ phía các cấp quản lý, các nhà nghiên cứu văn học … Văn học VN ở nước ngoài như vậy, là bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học dân tộc VN.” … Vũ Thành Sơn (2018) …

Tương đối khách quan nhất là bài viết của Anatoly Sokolov (2010), nhà NCVH VN thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga: “Chúng tôi nhận thấy sách báo của nước VN XHCN có thể dễ dàng tìm thấy trong thư viện, hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở VN, và chủ yếu trước hết là từ nguyên nhân ý thức hệ … Nhà thơ Ba Lan nổi tiếng Czesław Miłosz, giải thưởng Nobel, nhiều năm sống lưu vong ở Mỹ, cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận nhà văn lưu vong: ‘Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi” (tức là nhà văn đó/tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được độc giả của mình ở trong nước). Song vào những năm gần đây do tình hình thế giới thay đổi … tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học VN ở hải ngoại đã tới được VN. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở VN còn có sự kiểm duyệt khắt khe, sự giám sát của nhà nước với Internet…”

 

* “Nước Mỹ – Đi một lần cho biết(Mai Hữu Phước, Nxb Hội Nhà văn 2026; Trần Trung Sáng điểm sách, vanchuongviet.org 5/7/2026):

Tâm sự của những người Việt xa xứ trong tập ký sự đường xa được tác giả khắc họa rất đa chiều. Ông không nhìn họ như những người thành đạt trong “giấc mơ Mỹ” hào nhoáng, mà nhìn sâu vào những khoảng trống trong tâm hồn của họ. Tác giả nhận ra tại một xã hội mà mọi thứ đều được công nghiệp hóa vận hành lịch trình chính xác như nước Mỹ, con người dễ rơi vào trạng thái cô lập: Hình ảnh những cụ già gốc Việt ngồi lặng lẽ trong các quán cà phê tại Little Saigon/ Westminster. Họ thuộc về thế hệ hoài niệm, sống giữa nước Mỹ nhưng tâm tưởng luôn hướng về cây đa, bến nước quê nhà. Ngôi nhà tại Mỹ tuy rộng lớn, đầy đủ tiện nghi nhưng phần lớn lại thiếu đi không khí ấm cúng, rộn ràng của gia đình đa thế hệ kiểu truyền thống. Nỗi nhớ quê hương thường trực không chỉ xuất hiện vào dịp lễ Tết, mà len lỏi trong những buổi sáng nhìn tuyết rơi lạnh lẽo ngoài cửa sổ. Người ta thèm một tô phở đúng vị gánh hàng rong, thèm cái ồn ào của phố xá quê nhà. Sự “độc lạ” ở đây là dù họ ở Mỹ bao nhiêu năm, ăn đồ Mỹ, tiêu tiền Đô, nhưng “bộ định vị tâm hồn” của họ vẫn mãi cắm rễ ở dải đất Hình Chữ S. Bên cạnh đó, tác giả dành những trang viết trân trọng cho cách người Việt neo giữ cội nguồn. Dù ở đất khách, người Việt vẫn nỗ lực lập chợ Tết, duy trì tiếng Việt cho con trẻ, trồng những vườn rau mồng tơi, rau húng, quả cà pháo sau vườn nhà. Giữa xã hội phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân, cộng đồng người Việt vẫn tìm cách liên kết, nương tựa, sưởi ấm cho nhau qua những hội đoàn, qua những buổi sinh hoạt đồng hương. [Và còn qua… Văn học hải ngoại nữa chứ bộ].

[63] Mời Quý bạn đọc cùng Người viết kết thúc bản trường ca này trên nền nhạc theo ca khúc nức danh từ 2006 đến hôm nay (vừa được chọn làm tiết mục khai mạc lễ thi Miss World lần thứ 73 tại TP Quảng Ninh cùng ngày 12/8/2026): “Bonjour Vietnam”/ ”Xin Chào Việt Nam/ ”Hello Vietnam (Nhạc sĩ Marc Lavoine; Giọng ca: Quỳnh Anh; youtube.com). [Xt: Bài ca nói về nỗi nhớ cội nguồn, niềm tự hào, khát khao được một lần đặt chân về quê hương Việt Nam của cô gái gốc Việt xa xứ: “Ước mong về thăm đất nước tôi./ Quê hương bao năm tôi đã cách xa./ Mong ước đến ngày trở về,/ Lòng tôi yêu mến Việt Nam./ Ước mong về thăm chốn thiêng,/ Mong sao quê hương dang tay đón tôi./ Mong ước đến ngày về thăm./ Lòng tôi xin chào Việt Nam” (Trích lời Việt)].

[64] Giấc hương quan – đã Ct.

[65] Theo thơ Nguyễn Du: “Đã đày vào kiếp phong trần/ Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi” (Truyện Kiều, Hồi 11: Kiều ở lầu xanh, thivien.net).

[66] Theo thơ Bùi Giáng: “Hỏi rằng: người ở quê đâu/ Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà” (Bài “Chào nguyên xuân”, thivien.net). [Xt: “Hai câu thơ, một công án. Với kẻ lang bạt kỳ hồ đâu cũng là nhà đâu cũng là “quê”, dưng mà “quê nhà” mới là nơi ở lâu hơn tất cả. Có thể đã ở lâu tại chính quê nhà. Có thể chỉ từng ở quê nhà lâu trong tâm trí. Quê của mỗi người Việt ly hương không có danh từ riêng; mà cùng gọi chung là quê-nhà; “Hỏi rằng: người ở quê đâu?”tiểu luận của cùng người viết; vanchuongviet.org 3/3/2020; & tiểu trường ca “búi jàng: 1 bó cỏ trờicủa Đặng Thân – đã Ct].

[67] Trữ tình ngoại đề hay Chia sẻ ngoài lề (cả 2 đều OK):

Trong 3 “vị tổ”, đệ tử thứ cấp là kẻ viết mọn đây âu cũng may trúng dịp du hành Hình Chữ S mới rồi kịp ấm duyên “lễ bái tháp tổ” Bùi Giáng tiên sanh: trong ngẫu nhĩ ngẫu nhiên trùng phùng được các liền anh liền chị liền bạn vanviet.info mời hú 2 ngày 1 đêm “lửa trại sáng tác” Bình An Gia Trang ngoại ô Sài Thành; Rồi âu cũng hên, cực ngẫu nhiên hơn lại được mấy liền bạn liền em văn nghệ sĩ Hà Thành cao hứng bàn rượu bè nổi (bồng bềnh) mép sông Hồng Thân Đặng chủ xị bày đặt cái gọi là cuộc chơi Đêm trường ca Đỗ Quyên” 23/1/2026 (nguồn kích động chính cho bổn trường ca này) nói chém gió tí như là bước nhỏ xíu thử sức dự án bự “Hội thảo thơ Bùi Giáng” mà các bạn í cứ thai thai nghén nghén hoài tạo cớ tụ tập bàn rượu bè nổi (bồng bềnh) mép sông Hồng. Chả biết kiếp sau liệu tới được Câu Thi Na không ạ, Mô Phật ơi! Nhủ, 1-2 năm tới sẽ ráng thành duyên “Ngẩng trời cao, cúi đất dày/ Cắn môi tay nắm bàn tay của mình” khi được “bên mộ cụ Nguyễn Du” như Vương thi sĩ năm nao nhỉ…

[Xt:

* Đệ tử thứ cấp: Trong tiểu thuyết tiên hiệp hoặc kiếm hiệp, đệ tử thứ cấp (gọi đúng hơn là đệ tử ngoại môn/đệ tử tạp dịch) là học viên cấp thấp nhất trong môn phái. Họ phải làm việc vặt (quét dọn, nấu ăn, gánh nước, chăm sóc dược viên) thay vì được truyền thụ tâm pháp cao thâm ngay lập tức. Họ có địa vị thấp hơn đệ tử nội môn và đệ tử thân truyền. Nhưng nếu nỗ lực lớn, vượt qua các bài khảo thí, họ có thể được thăng lên đệ tử ngoại môn/nội môn.

* Nơi Phật tổ (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) nhập niết bàn – Câu Thi Na (Kushinagar) hiện thuộc bang Uttar Pradesh, Ấn Độ. Đây là 1 trong Tứ Động Tâm (4 thánh tích linh thiêng nhất của Phật giáo), đánh dấu nơi Đức Phật nằm nghiêng mình phía hữu, nhập diệt ở tuổi 80. Điểm chiêm bái chính: Chùa Niết Bàn (Parinirvana Temple): Nơi tôn trí bức tượng Phật nhập Niết bàn dài khoảng 6m bằng sa thạch, tư thế nằm bất tử. Tháp Niết Bàn (Parinirvana Stupa): Ngôi bảo tháp lớn nằm ngay cạnh chùa, đánh dấu kim thân Ngài. Tháp Trà Tỳ (Ramabhar Stupa): Nơi diễn ra lễ hỏa táng kim thân Đức Phật, cách khu vực chùa chính 1,5km. Thời điểm thích hợp hành hương: Từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau là lúc thời tiết mát mẻ, thuận lợi di chuyển, lễ bái tại Ấn Độ. Lộ trình kết hợp: Phật tử thường kết hợp thăm viếng trọn vẹn Tứ Động Tâm gồm: Lâm Tỳ Ni (Nơi sinh – Nepal), Bồ Đề Đạo Tràng (Nơi thành đạo – Ấn Độ), Lộc Uyển (Nơi chuyển pháp luân – Ấn Độ) và Câu Thi Na (Nơi nhập diệt – Ấn Độ).

* Lăng mộ Đại thi hào Nguyễn Du – nằm tại cánh đồng Cùng, xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; giữa không gian thoáng đãng của làng quê Tiên Điền, thuộc quần thể Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du. Đại thi nhân qua đời tại Huế năm 1820, được an táng tại làng Kim Long, Huế. Đến năm 1824, con trai ông đã vào Huế xin triều đình mang hài cốt ông về quê nhà để cát táng. Theo dân gian, con cháu dùng hình ảnh con cò gỗ thả ra, cò rơi xuống cánh đồng Phốc (Đồng Cùng) thì chọn làm nơi yên nghỉ cho ông. Ban đầu phần mộ khá đơn sơ; vào năm 1965 được nhà văn Đặng Thai Mai dựng bia ghi “Tiên Điền Nguyễn tiên sinh phần mộ”. Trải qua nhiều đợt tôn tạo, nơi đây đã trở thành di tích trang nghiêm, được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Có 2 bài thơ nổi tiếng, cảm kích viết về mộ Nguyễn Tiên Điền là “Kính gửi cụ Nguyễn Du” (Tố Hữu) và “Bên mộ cụ Nguyễn Du” (Vương Trọng).

* Phần mộ Bùi Giáng thi nhân – hiện nằm tại khu nghĩa trang ở Gò Dưa (TP Thủ Đức, TP.HCM). Mộ của ông đối diện nghĩa trang Chùa Quảng Bình (nơi an nghỉ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn), chếch phía tay phải đoạn ngắn. Khuôn viên mộ không lớn, giới hạn bời bờ xây thấp bằng 2 lớp đá láng mặt, khá tươm tắp, được bao phủ bởi cây cối xanh tươi, hoa nở tứ mùa. Mộ khối chữ nhật cao 50cm, đá ốp lát bên ngoài. Góc trái trên đầu mộ, có tượng bán thân của thi nhân đặt trên bục xi măng cao. Bức tượng rất nghệ thuật, thể hiện khuôn mặt đặc biệt nghệ sĩ của Trung Niên Thi Sĩ. Phong tượng là tấm đá mài màu chu có bài thơ nét chữ của Bùi quân mang đậm dấu ấn phong cách tài hoa, ngẫu hứng made by Bùi Giáng: “Thần Tiên trên núi/ Đùa với tuyết/ Rỡn với vân/ Một mình nhớ mãi/ Gái trần gian xa/ Sương buổi sớm/ Nắng chiều tà/ Trăm năm hồng lệ/ Có là bao nhiêu.” (“Mộ Bùi Giáng”, Trần Công Nhung saigontimesusa.com)].

[68] Xt: “Tạ ơn tày trời” – cách nói kết hợp từ, tỏ lòng biết ơn rất to lớn, khó gì sánh nổi. Thường để cảm tạ ơn cứu mạng, ơn sinh thành, sự giúp đỡ mang tính bước ngoặt, thay đổi số phận, sự nghiệp… từ những đấng tối cao (Trời, Phật), những ân nhân vĩ đại, quan trọng….

[69] Xt: Nối ghép từ “đoạn trường/tràng” và “tràng hạt”. [Xt: Cùng bản chất, “đoạn trường” và “đoạn tràng” là 2 cách đọc/biến âm gốc chữ Hán (斷腸), với nghĩa đen là đứt ruột (đoạn = đứt, trường/tràng = ruột), chỉ đau đớn, buồn thương vô hạn].

This entry was posted in Thơ and tagged . Bookmark the permalink.