Cuộc đời vô nghĩa?

Lê Nguyên Phương

Cách đây vài tối, trong buổi AMA (Ask Me Anything) của chương trình Psychology for Transformation (PTC), một học viên đang theo học mô-đun Chuyển hóa Hiện sinh–Tâm linh đã chia sẻ sự bối rối của mình trước khái niệm “vô nghĩa” trong triết học hiện sinh. Theo em ấy, em có thể hiểu được ba khái niệm hay ba mối quan tâm còn lại nhưng đến “vô nghĩa” thì chịu “bất khả tư nghì”. Có lẽ vốn xuất thân từ một nền văn hóa và giáo dục nơi tập hợp những ý nghĩa hiếu để, trung quân ái quốc, chẳng hạn là nền tảng cho sự tồn tại, chúng ta cũng khá bối rối khi tiếp cận khái niệm này. Sự bối rối ấy hoàn toàn dễ hiểu, bởi khi nghe rằng đời sống không có sẵn một ý nghĩa khách quan hay tối hậu, chúng ta rất dễ diễn giải điều đó thành một kết luận bi quan: cuộc đời này chẳng có giá trị gì, mọi nỗ lực đều vô ích, và con người không còn lý do để sống hay hành động. Nhưng có phải các nhà hiện sinh thực sự muốn nói như vậy? Hay “sự vô nghĩa” không nhất thiết là điểm kết thúc của hy vọng và chỉ dẫn đến tuyệt vọng mà có thể chính là điểm khởi đầu cho tự do, trách nhiệm và khả năng kiến tạo một đời sống đích thực?

Trong tư tưởng hiện sinh, “vô nghĩa” không đơn giản có nghĩa rằng cuộc đời hoàn toàn vô giá trị hoặc con người không còn lý do để sống. Khái niệm này trước hết chỉ sự vắng mặt của một ý nghĩa có sẵn, phổ quát và được bảo đảm từ bên ngoài cho mỗi đời người. Kierkegaard đã nhận ra nỗi tuyệt vọng xuất hiện khi con người không thể thiết lập một quan hệ chân thực với chính mình, dù ông vẫn tìm thấy nền tảng tối hậu của ý nghĩa trong đức tin. Nietzsche, với tuyên bố về “cái chết của Thượng đế”, mô tả sự sụp đổ của những hệ giá trị từng định hướng đời sống phương Tây và cảnh báo nguy cơ của chủ nghĩa hư vô; nhưng ông không dừng lại ở sự phủ định mà kêu gọi con người sáng tạo và tái định giá các giá trị. Heidegger khảo sát trạng thái con người bị “ném vào” một thế giới mà mình không lựa chọn, phải sống trong giới hạn của thời gian và cái chết.

Đến Sartre, mệnh đề “hiện hữu có trước bản chất” có nghĩa rằng con người không sinh ra cùng một bản thiết kế quy định mình phải trở thành ai; vì thế, chúng ta phải tạo nên bản thân và ý nghĩa đời mình bằng lựa chọn, hành động và trách nhiệm. Với Camus, cái phi lý lại xuất hiện trong sự va chạm giữa nhu cầu mãnh liệt của con người muốn tìm thấy trật tự và ý nghĩa với sự im lặng, dửng dưng của vũ trụ. Như vậy, các tác giả này không diễn đạt một học thuyết duy nhất về sự vô nghĩa, mà tiếp cận cùng một khủng hoảng từ những điểm xuất phát khác nhau: đức tin, sự sụp đổ của giá trị, tính hữu hạn, tự do và cái phi lý.

Những đáp ứng trước sự vô nghĩa cũng đa dạng không kém. Sartre nhấn mạnh việc tự kiến tạo ý nghĩa thông qua lựa chọn; Camus đề nghị con người sống tỉnh thức và nổi loạn trước cái phi lý, không trốn chạy vào tuyệt vọng cũng không tìm sự an ủi bằng những lời giải đáp giả tạo; Simone de Beauvoir đặt tự do cá nhân trong tương quan với tự do của người khác, nhờ đó ý nghĩa mang thêm chiều kích đạo đức và liên chủ thể.

Xa hơn phạm vi tạm gọi là vòng trong của triết học hiện sinh, nhà văn André Malraux đã thể hiện trong La Condition humaine một con người cô độc, hữu hạn và bị đặt trước cái chết, thất bại cùng những sức mạnh lịch sử vượt khỏi khả năng kiểm soát của mình. Tuy nhiên, với Malraux, con người vẫn có thể chống lại định mệnh và sự hư vô bằng hành động, tình huynh đệ, sự dấn thân và sáng tạo nghệ thuật: chúng không xóa bỏ cái chết nhưng giúp con người không bị giản lược thành một sinh vật chỉ thụ động chờ chết. Chính ông bằng đời sống của mình đã tham gia hết cuộc cách mạng này đến cuộc cách mạng khác trên thế giới để hiện thân cho ý nghĩa hiện hữu của mình.

Viktor Frankl, từ một hướng tiếp cận tâm lý trị liệu hiện sinh, lại cho rằng ý nghĩa không nhất thiết do con người tùy ý phát minh, mà có thể được khám phá trong công việc, tình yêu, trách nhiệm và thái độ của ta trước đau khổ không thể tránh khỏi. Vì vậy, “vô nghĩa” có thể được nhìn như một vực thẳm dẫn đến hư vô, nhưng cũng có thể là khoảng trống làm xuất hiện câu hỏi thiết yếu nhất: khi không còn một câu trả lời được ban sẵn, tôi sẽ sống thế nào, chịu trách nhiệm ra sao và cùng người khác tạo nên điều gì từ cuộc đời hữu hạn này?

Khác với cách hiểu phổ biến của chúng ta về bốn mối quan tâm hiện sinh tối hậu của Irvin Yalom,tự do, cái chết, sự vô nghĩa và cô lập hiện sinh,có lẽ chúng ta đã đọc Yalom theo một nghĩa hơi quá hẹp, như thể ông chỉ liệt kê bốn chủ đề hay bốn nỗi lo tách biệt. Thực ra, trong tác phẩm nền tảng Existential Psychotherapy xuất bản năm 1980, Yalom trình bày mỗi mối quan tâm ấy như một xung đột nội tâm mang tính động lực: một căng thẳng giữa một thực tại hiện sinh khắc nghiệt và một khát vọng, nhu cầu hoặc cơ chế phòng vệ sâu xa của con người.

Trước hết là xung đột giữa tự do với tình trạng vô nền tảng và trách nhiệm. Trong cách hiểu hiện sinh của Yalom, tự do không chỉ là khả năng lựa chọn điều mình mong muốn, mà còn là sự thiếu vắng một cấu trúc tối hậu được thiết lập sẵn để quy định ta phải sống như thế nào. Bên dưới những quy ước xã hội, vai trò, truyền thống và thẩm quyền mà chúng ta thường nương tựa không tồn tại một “mặt đất” tuyệt đối có thể bảo đảm rằng một lựa chọn nào đó là hoàn toàn đúng hoặc cuộc đời phải diễn tiến theo một khuôn mẫu nhất định. Con người vì thế phải tham dự vào việc kiến tạo đời mình qua từng quyết định và chịu trách nhiệm đối với những gì mình lựa chọn, những gì mình thực hiện, thậm chí cả những khả thể mà mình đã né tránh hoặc từ bỏ.

Chính tại đây xuất hiện xung đột nội tâm: một mặt, ta nhận ra sự tự do và trách nhiệm không thể chuyển giao của mình; mặt khác, ta lại khẩn thiết mong có một nền tảng vững chắc, một trật tự, thẩm quyền hay lời chỉ dẫn từ bên ngoài để biết mình nên làm gì và để giảm bớt gánh nặng phải tự quyết định. Cảm nhận rằng không có nền tảng tối hậu làm nơi nương tựa có thể khiến tự do được trải nghiệm không phải như một đặc ân, mà như một vực thẳm gây lo âu; từ đó, con người dễ tìm cách trốn tránh tự do bằng sự phục tùng, trì hoãn, đổ lỗi, tự giới hạn hoặc để người khác quyết định thay cho mình.

Tiếp theo là xung đột giữa cô lập hiện sinh và khát vọng được tiếp xúc, che chở và thuộc về. Yalom phân biệt cô lập hiện sinh với sự cô đơn thông thường do thiếu các mối quan hệ xã hội, cũng như với cảm giác xa cách chính mình khi một người không còn tiếp xúc chân thực với cảm xúc và ước muốn của bản thân. Cô lập hiện sinh chỉ một khoảng cách nền tảng không thể xóa bỏ hoàn toàn giữa mỗi cá nhân với tất cả những người khác: không ai có thể sống thay cuộc đời ta, trải nghiệm thế giới hoàn toàn từ vị trí của ta, chịu trách nhiệm thay cho những lựa chọn của ta hoặc bước vào cái chết thay ta. Con người đến với hiện hữu một mình và cuối cùng cũng phải rời khỏi hiện hữu một mình; ngay cả trong những quan hệ yêu thương sâu sắc nhất, giữa hai chủ thể vẫn tồn tại một ranh giới không thể vượt qua trọn vẹn.

Xung đột phát sinh khi ta vừa phải đối diện với sự đơn độc tuyệt đối ấy, vừa mang một nhu cầu mãnh liệt được kết nối, bảo vệ, thấu hiểu và thuộc về một người, một cộng đồng hay một tổng thể lớn hơn chính mình. Khi không chịu đựng được khoảng cách hiện sinh này, con người có thể bám víu, hòa tan bản thân vào người khác hoặc sử dụng quan hệ như một phương tiện trốn chạy sự cô độc. Tuy nhiên, đối diện với cô lập hiện sinh không có nghĩa là từ bỏ tình thân hay chấp nhận một đời sống tách biệt; trái lại, chính khi hai người có thể đứng vững như hai hữu thể riêng biệt mà không đòi hỏi người kia lấp đầy hoàn toàn khoảng trống của mình, một cuộc gặp gỡ chân thực và một cảm thức thuộc về trưởng thành mới có thể hình thành.

Thứ ba là xung đột giữa nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa và một vũ trụ không chứa đựng ý nghĩa sẵn có. Con người vốn khao khát nhận ra mục đích, trật tự và một thiết kế có thể giải thích vì sao mình hiện diện, vì sao phải chịu đau khổ và đời mình đang hướng về đâu; thế nhưng, theo cách nhìn hiện sinh, ta lại bị “ném vào” một vũ trụ dửng dưng, không tự trao cho từng cá nhân một sứ mệnh rõ ràng hay bảo đảm rằng mọi biến cố đều nằm trong một kế hoạch có thể hiểu được. Xung đột nội tâm xuất hiện giữa một bên là nhu cầu sâu xa muốn khám phá một ý nghĩa khách quan đã tồn tại từ trước, và bên kia là nhận thức rằng chính mình phải tham dự vào việc hình thành ý nghĩa ấy mà không có một nền tảng tuyệt đối bảo chứng. Khi không thể chịu đựng khoảng trống này, con người có thể rơi vào trạng thái trống rỗng, mất phương hướng và bất lực, hoặc vội bám vào những hệ thống ý nghĩa được cung cấp sẵn để né tránh trách nhiệm sống cuộc đời của chính mình.

Tuy nhiên, đối với Yalom, việc đời sống không có một ý nghĩa tiền định không đồng nghĩa rằng mọi sự đều vô nghĩa; nó đặt con người trước nhiệm vụ kiến tạo ý nghĩa bằng sự dấn thân vào tình yêu, công việc, sáng tạo, cống hiến và những giá trị mà mình chủ động lựa chọn để sống theo. Ý nghĩa, từ góc nhìn này, không nhất thiết là một chân lý nằm đâu đó chờ được tìm thấy, mà dần xuất hiện khi con người vượt ra khỏi sự ám ảnh phải có một câu trả lời tối hậu để thực sự tham dự vào đời sống.

Cuối cùng là xung đột giữa cái chết và ý chí muốn tiếp tục sống,một xung đột vừa hiển nhiên vừa nguyên sơ nhất của con người. Một mặt, chúng ta biết rằng cái chết là điều chắc chắn, không thể tránh khỏi và có thể xảy đến vào một thời điểm không thể dự đoán hoàn toàn; mặt khác, toàn bộ cơ thể và đời sống tâm lý của chúng ta lại được tổ chức quanh khát vọng tồn tại, duy trì bản thân, gắn bó với người khác và tiếp tục thực hiện những dự định còn dang dở. Vì không dễ dung hòa ý thức về sự hữu hạn với ý chí sống mãnh liệt, con người có thể phủ nhận cái chết, né tránh mọi điều nhắc mình về nó, tìm kiếm cảm giác bất khả tổn thương hoặc theo đuổi những thành tựu mang tính biểu tượng như một cách lưu lại dấu vết sau khi mình không còn hiện diện.

Tuy nhiên, Yalom không xem nhận thức về cái chết chỉ như nguồn gốc của sợ hãi và tuyệt vọng. Khi được đối diện một cách chân thực, cái chết có thể trở thành điều kiện làm cho đời sống trở nên khẩn thiết và quý giá hơn: vì thời gian là hữu hạn, mỗi lựa chọn đều mang trọng lượng; vì ta không thể sống mãi, ta được thôi thúc phân biệt điều thật sự quan trọng với những điều đang tiêu phí đời mình. Theo nghĩa đó, cái chết có thể hủy hoại con người về mặt thể lý, nhưng ý thức về cái chết cũng có khả năng đánh thức con người về mặt hiện sinh, đưa ta trở về với một đời sống có chủ đích, sâu sắc và chân thực hơn.

Bốn mối quan tâm tối hậu này không phải là những bài toán có thể được giải quyết dứt điểm, bởi chúng bắt nguồn từ chính điều kiện làm người: chúng ta tự do nhưng mong có một nền tảng vững chắc; tồn tại như những cá nhân riêng biệt nhưng khao khát được kết nối; sống trong một vũ trụ không trao sẵn ý nghĩa nhưng vẫn cần biết mình sống vì điều gì; và biết chắc mình sẽ chết trong khi vẫn tha thiết muốn tiếp tục hiện hữu. Có lẽ trưởng thành hiện sinh không nằm ở việc loại bỏ một phía của những xung đột ấy, mà ở khả năng dung chứa cả hai phía và sống có ý thức trong khoảng căng giữa chúng.

Vậy chúng ta đang tìm thấy, hay đang tạo nên, ý nghĩa của đời mình từ đâu: từ tình yêu, công việc, sự sáng tạo, trách nhiệm, phụng sự, đức tin hay một điều gì khác? Khi không còn ai có thể lựa chọn, sống hoặc chết thay cho mình, chúng ta sẽ chịu trách nhiệm thế nào đối với tự do của mình; làm sao thiết lập những quan hệ sâu sắc mà không đánh mất bản thân; làm sao tiếp tục dấn thân khi cuộc đời không cung cấp một ý nghĩa có sẵn; và làm sao để nhận thức về cái chết không làm mình tê liệt, mà giúp mình sống trọn vẹn hơn? Sau cùng, có lẽ câu hỏi không chỉ là “Cuộc đời có ý nghĩa gì?”, mà còn là: “Tôi sẽ sống như thế nào để chính cách sống của mình trở thành câu trả lời?”

Note: Chuẩn bị cho chuyến bay về Mỹ thăm mẹ, bỗng dưng nhớ câu thơ của Du Tử Lê “Đi và về cùng nghĩa như nhau.” Ngoài ý nghĩa “chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà”, nó có thể được đọc như một trực giác hiện sinh về thân phận con người. “Đi” là bước vào đời, lựa chọn, dấn thân và tạo nên chính mình; “về” là trở lại với giới hạn cuối cùng của hiện hữu, cái chết. Nếu điểm đến sau cùng của mọi hành trình đều như nhau, sống nghĩa là tiến dần về cái chết; chết nghĩa là để bắt đầu một cuộc sống mới (nếu tin vào tái sinh). Ý nghĩa của đời người không còn nằm ở việc ta đi được bao xa hay lưu lại được bao lâu, mà ở cách ta hiện diện trên từng đoạn đường. Khi ấy, sống không phải để phủ nhận cái chết, mà để mỗi bước đi trước lúc trở về đều mang dấu ấn của tự do.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.