Hồ Anh Thái

Trong truyện ngắn của Ý Nhi hay có mưa. Những cơn mưa bất chợt khiến người qua đường phải chạy vào trú tạm ở đâu đó. Khi thì hai ông cháu chạy vào trú mưa trong nhà của nhân vật chính (Dấu vết). Khi thì một nhân vật khác tránh mưa dưới một vòm cổng rồi phát hiện ở trong ấy một vườn hoa dường như hoang vắng (Hoa tứ quý). Mưa ở đây không phải là ẩn dụ sắc dục như một số tác giả từng khai thác. Cơn mưa trong văn Ý Nhi là một tình huống bất ngờ, như một cái cớ để những người xa lạ gặp gỡ, hoặc là để nhân vật thả mình vào một khung cảnh hiếm hoi khác lạ. Cũng có thể trời mưa là nguồn cơn cho những hoài niệm, những trận mưa khác nhau biểu đạt những tâm trạng khác nhau của nhân vật và của chính tác giả.
Một đặc điểm nữa là nhà văn Ý Nhi ít khi đặt tên cho nhân vật hoặc địa điểm, những địa danh và nhân danh chỉ còn là những chữ viết tắt: đấy là những nơi chốn mang cái tên QS, CT, QB, KX, những nhân vật là X là Y, là M, là N… Sao vậy nhỉ? Người đọc tự hỏi, đặt cho con người và địa điểm một cái tên mà khó vậy hay sao? Tại sao không đưa ra những cái tên đơn giản chân chất như Mộc như Lem mà có lúc tác giả đã dùng? Thật ra, một khi đã tạo dựng được những nơi chốn lạ lùng và những nhân vật có ấn tượng thì có tên hay không tên cũng chẳng mấy ý nghĩa. Không có tên cũng nói lên trạng thái cảm xúc của người viết vào đúng thời điểm gieo chữ. Có khi mơ hồ xa vắng, có khi không cần rõ hình hài, có khi là chập chờn ảo ảnh. Có khi chỉ là một khái niệm, một ký hiệu.
Nhắc đến ảo ảnh thì môtíp này trở đi trở lại trong nhiều truyện ngắn của Ý Nhi. Kiểu ảo ảnh thứ nhất: ở khu nghỉ dưỡng trên bãi biển, ông già nhìn thấy một con ngựa tía và một con sóc đen. Con sóc đen là thật. Con ngựa tía thì không biết có thật hay không. Ông hỏi, thì một chàng trai trả lời: “Ngựa không ăn cát, không uống nước biển, nó đến đây làm gì hả bác”. Người lái xe đưa ông đến và đi cũng nói: “Đường sá bây giờ trải nhựa phẳng lì, hẻm nhỏ cũng đổ bê tông, dân toàn đi xe đạp xe máy, lại không có trường đua, không có rạp xiếc, lấy đâu ra ngựa”.
Về lôgích là không, nhưng ông thấy rõ ràng có một con ngựa trên bãi biển trước nơi ông ngồi. Người đọc có thể khẳng định rằng ông già nhìn thấy ảo ảnh. Nhưng mọi sự khẳng định quá vội vàng có khi lại không phải là sự thật.
Ở một điểm du lịch khác, nhân vật gặp một người nước ngoài bốn lần trong một ngày, nhớ lời thầy bói là bốn lần một ngày thì sẽ kết. Nhưng tác giả không khẳng định một điều gì chắc chắn. Ít ra sau đó nhân vật có nhận được vài dòng thư của người nước ngoài kia, hẹn rằng sẽ trở lại nghiên cứu tiếp về một tộc người ở Việt Nam. Mới chỉ là một lời hẹn mà thôi.
Cùng một kiểu ảo ảnh như thế, nhân vật nhìn thấy một phòng trưng bày tranh, đã bước chân vào, nhưng về sau hỏi thì không ai biết có một phòng tranh như thế, chỗ đó xưa nay chỉ là một cửa hàng hoa (Chiều). Hoặc ở nơi xa lạ ấy có một cái hồ nước cũng kỳ lạ, mà thật ra chẳng ai biết chỗ ấy có hồ (Ở Mộc).
Rồi cũng lạ lùng như chuyện con ngựa trên bãi biển, có hai quán cà phê cùng tên là M, một ở thành phố lớn, một ở trên cao nguyên. Thế nào mà cả hai quán đều bị cháy, không thiệt hại về người, nhưng chỉ cháy hết sách vở trong đó, trong khi ông chú quán đi vắng mà không ai biết ông ở đâu. Nhân vật chính thì lên một chiếc xe khách nhưng đến nơi mới nhận ra đã nhầm điểm đến, và như bị ảo giác: anh ta tin là trên xe rất đông người, còn cuối hành trình người lái xe lại khẳng định rằng xe chỉ có hai hành khách (truyện M.).
Kiểu ảo ảnh thứ hai không siêu thực như thế, mà có thể chỉ xuất phát từ ký ức xa xưa. Ký ức sống dậy, khi người ta nhìn thấy những điều có vẻ vô lý, có vẻ chỉ là ý muốn hoặc là ảo mộng. Một người đàn ông luôn nhìn thấy một người đứng bên kia đường nhìn sang, mà người khác lại không thấy. Cái người như thật như ảo ấy gợi cho người đàn ông nhớ lại những điều trong quá khứ (Người đứng bên kia đường). Ở truyện Quán chữ cái thì nhân vật lại nhìn thấy đứa đồng nghiệp từng tố cáo mình về chuyện lý lịch, khiến đời mình lận đận. Ông nhìn thấy nó trong quán, muốn phản ứng dữ dội, nhưng dường như cũng là ảo giác, không biết có thật nó đã ngồi cùng quán với mình hay không. Sang một truyện khác, nhân vật nhìn thấy một con búp bê cũ bị ai đó vứt cạnh một thùng rác công cộng. Nhân vật nhặt nó lên, đặt trên chiếc ghế đá ở gần đấy. Nhưng sau khi đi bộ năm vòng chung cư, quay lại thì thấy con búp bê đã ở trong thùng rác. Cứ ưu tư luẩn quẩn như vậy mà anh ta lạc lối một ngày trời. Rốt cuộc, khi nghe vợ nói về búp bê: hỏng thì vứt, “đó chỉ là đồ vật thôi mà”, thì anh gay gắt: “Đó không phải là một đồ vật”.
Những gì ta tưởng là vô tri, thật ra không hẳn là vô tri. Nó có liên hệ theo kiểu thần giao cách cảm với con người.
Nhiều lúc người đọc có thể có cảm giác: nhà thơ Ý Nhi khi viết truyện dường như có chủ ý “xóa dấu vết” của thơ. Viết văn xuôi, bà tôn trọng những gì là đặc trưng của văn xuôi. Ngôn ngữ không du dương nhịp nhàng hoặc ví von hoặc thiên về cảm xúc chủ quan theo kiểu thơ ca. Tác giả thuộc số rất ít nhà thơ đã tiết chế được “tính thơ” khi viết văn xuôi – thơ là thơ, văn là văn. Tất nhiên trong văn vẫn có thơ, trong thơ vẫn có văn, nhưng đặc trưng thể loại cho đến nay vẫn đang chờ người phá vỡ. Cũng phải nói thêm, thơ Ý Nhi vốn đã mang chứa tính văn xuôi trong ấy, thứ thơ không nệ vần vè không để ngâm vịnh mà luôn chất nặng suy tư chiêm nghiệm. Có thể đấy cũng là lợi thế để nhà thơ có thể thoải mái hơn khi viết những trang văn xuôi của mình.
Mặt khác, trong truyện ngắn, nhà văn Ý Nhi vẫn giữ được cái tinh chất của thơ ca: đấy là chất trữ tình, nhiều mộng ảo, làm cho những trang văn mềm mại và khiến người đọc khó rời.