Vấn đề “tự do” và nguy cơ giải thể cấu trúc tinh thần trong kỷ nguyên số

Nguyên Hưng

Khái niệm tự do trong lịch sử triết học chưa bao giờ là một phạm trù cô lập. Bản chất của tự do chân chính không tồn tại độc lập, mà luôn được định vị bởi hai tọa độ cốt lõi: NĂNG LỰC TỰ NHẬN THỨC CỦA CHỦ THỂ và TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI ĐỒNG LOẠI. Tự do mà tách rời hai nền tảng này sẽ ngay lập tức tự phủ quyết chính nó, biến tướng thành sự tùy tiện vô chính phủ và đẩy xã hội vào trạng thái hỗn mang. Trong bối cảnh hiện nay, sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội đã tạo ra một môi trường kỹ thuật số đặc thù. Môi trường này cào bằng mọi tiếng nói theo một cơ chế thuần túy kỹ thuật, đồng thời triệt tiêu chiều sâu nhận thức và năng lực đối diện với thực tế. Hệ quả tất yếu là sự lan rộng của tâm lý bất tín vị kỷ, biến không gian mạng thành một đấu trường của những xung năng cấp thấp và đẩy nhanh quá trình tự giải thể của các cấu trúc tinh thần vốn định nghĩa nhân tính.

*

Để hiểu được cuộc khủng hoảng tinh thần trên không gian mạng, trước hết cần định nghĩa lại bản chất của tự do chân chính. Tự do không phải là trạng thái phóng túng vô biên, cũng không phải là quyền lực hành động dựa trên các xung năng bản năng mà không gặp rào cản. Triết học hiện đại phân biệt rõ giữa tự do tiêu cực tức là sự vắng bóng của các trở lực bên ngoài và tự do tích cực tức là năng lực làm chủ hành vi thông qua lý tính. Tự do chân chính thuộc về vế thứ hai. Đó là một trạng thái tự trị, nơi cá nhân tự thiết lập luật đạo đức cho chính mình và tự nguyện tuân thủ luật đó dựa trên sự phản tư sâu sắc.

Mỏ neo thứ nhất của tự do là NĂNG LỰC TỰ NHẬN THỨC. Một chủ thể không thể có tự do nếu họ không hiểu rõ các giới hạn, định kiến, thiên kiến và cả những vùng tối trong tâm lý của bản thân. Năng lực tự nhận thức tạo ra một khoảng lặng mang tính quyết định giữa kích thích môi trường và phản ứng cá nhân. Khác với loài vật vốn phản ứng tức thì trước các kích thích sinh học, con người có khả năng đứng lùi lại, quan sát cảm xúc của chính mình và lựa chọn hành động. Khi một cá nhân thiếu tự nhận thức, họ sẽ bị thao túng bởi các cơn giận dữ, lòng đố kỵ hoặc khát vọng được chú ý. Khi đó, dù họ tưởng rằng mình đang tự do làm theo ý thích, thực chất họ đang bị nô dịch bởi chính những xung năng nội tại của mình.

Mỏ neo thứ hai của tự do là TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC đối với đồng loại. Con người tồn tại trong một không gian liên chủ thể, nơi tự do của cá nhân này luôn va chạm và ảnh hưởng trực tiếp đến tự do của cá nhân khác. Ý thức về trách nhiệm đạo đức đòi hỏi mỗi người phải nhìn nhận đồng loại như một mục đích tự thân, chứ không phải một phương tiện để thỏa mãn cái tôi. Khi tự do bị chặt đứt khỏi mối liên hệ với tha nhân, nó trở thành một thứ quyền lực tàn bạo. Sự tự do phát ngôn mà không có trách nhiệm đạo đức sẽ nhanh chóng biến thành công cụ lăng mạ, bôi nhọ và tước đoạt nhân phẩm của người khác. Một xã hội thừa nhận thứ tự do tách rời nhân tính như vậy sẽ tự biến mình thành một môi trường hoang dã, nơi kẻ mạnh về ngôn từ hoặc số lượng sẽ chà đạp lên kẻ yếu.

*

Mạng xã hội ra đời với lời hứa hẹn về một không gian dân chủ tuyệt đối, nơi mọi rào cản truyền thống bị phá bỏ và mọi tiếng nói đều có cơ hội vang lên ngang nhau. Tuy nhiên, sự bình đẳng mà các nền tảng này kiến tạo chỉ là một thứ BÌNH ĐẲNG CƠ HỌC. Về mặt kỹ thuật, một tài khoản của một học giả dành cả đời nghiên cứu và một tài khoản ẩn danh chuyên ngụy biện đều có cấu trúc giao diện như nhau, sở hữu các công cụ tương tác giống nhau và chịu sự chi phối của cùng một thuật toán. Sự cào bằng này XÓA NHÒA CÁC MÀNG LỌC TRI THỨC và các TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG vốn được xây dựng qua nhiều thế kỷ.

Nghịch lý ở chỗ, sự bình đẳng cơ học về mặt công cụ lại dẫn đến sự SUY THOÁI NGHIÊM TRỌNG VỀ MẶT NHẬN THỨC. Bản chất của các thuật toán mạng xã hội là tối ưu hóa thời gian chú ý của người dùng để trục lợi kinh tế. Để đạt được mục tiêu này, thuật toán ưu tiên phân phối những nội dung ngắn gọn, kích thích thị giác, tạo cảm giác mạnh và dễ gây tranh cãi. Chiều sâu nhận thức đòi hỏi một tiến trình ngược lại hoàn toàn, đó là sự chậm rãi, cô tịch, khả năng ĐỌC SÂU và TƯ DUY ĐA CHIỀU. Khi không gian công cộng bị thống trị bởi các định dạng thông tin nông cạn, tư duy của đại chúng cũng bị phẳng hóa. Những bài phân tích dày dặn, những lập luận logic phức tạp bị nhấn chìm bởi các luồng thông tin giật gân, hời hợt nhưng áp đảo về mặt số lượng.

Hệ quả nghiêm trọng hơn của cơ chế này là sự TRIỆT TIÊU NĂNG LỰC CHỊU ĐỰNG SỰ THẬT. Sự thật khách quan vốn dĩ phức tạp, nhiều góc khuất, thường gây đau lòng và đòi hỏi con người phải thừa nhận sự giới hạn hoặc sai lầm của bản thân. Trong khi đó, mạng xã hội vận hành dựa trên cơ chế tạo ra các phòng tiếng vang. Bằng cách liên tục cung cấp những thông tin trùng khớp với định kiến và sở thích sẵn có của người dùng, thuật toán vuốt ve cái tôi và tạo ra một ảo tưởng về sự toàn tri. Khi con người được nuôi dưỡng quá lâu trong một môi trường tinh thần tiện nghi và giả tạo như vậy, năng lực đề kháng trước các quan điểm trái chiều sẽ bị thui chột. Họ không còn khả năng dung nạp sự thật khách quan mà chỉ tìm kiếm những thông tin thỏa mãn cảm xúc cá nhân. Bất kỳ một tiếng nói phản biện hay một sự thật gồ ghề nào xuất hiện cũng bị coi là một mối đe dọa, kích hoạt phản ứng thù ghét và chối bỏ ngay lập tức.

*

Khi CHIỀU SÂU NHẬN THỨC bị triệt tiêu và NĂNG LỰC THẤU CẢM suy giảm, không gian mạng trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự lan rộng của TÂM LÝ BẤT TÍN VỊ KỶ. Đây không phải là sự hoài nghi khoa học lành mạnh nhằm tìm kiếm chân lý, mà là một trạng thái mất lòng tin triệt để vào mọi giá trị cao đẹp và mọi động cơ tốt đẹp của con người. Kẻ bất tín vị kỷ luôn nhìn thế giới qua lăng kính cá nhân ích kỷ. Họ không tin vào sự thuần khiết của lòng trắc ẩn hay tính chân thực của công lý. Trước một hành động từ thiện, họ nhìn thấy mưu đồ đánh bóng tên tuổi. Trước một tiếng nói bảo vệ lẽ phải, họ nhìn thấy sự trục lợi truyền thông. Tâm thức này biến mọi mối quan hệ xã hội thành một cuộc trao đổi lợi ích lạnh lùng.

Sự bất tín vị kỷ phối trộn với khả năng ẩn danh và khoảng cách vật lý của màn hình đã biến không gian mạng thành một vũng lầy cấu xé. Con người khi đứng sau bàn phím được giải phóng khỏi các ràng buộc xã hội trực tiếp, từ đó dễ dàng rũ bỏ trách nhiệm đạo đức. Họ nhìn nhau qua lăng kính nghi ngờ và hằn học. Bất kỳ hành vi sơ hở nào của một cá nhân cũng có thể trở thành mồi ngon cho đám đông xâu xé. Văn hóa hủy diệt xuất hiện như một biểu hiện cực đoan của cơ chế này, nơi người ta nhân danh những giá trị đạo đức giả tạo để thỏa mãn khoái cảm quyền lực của cái tôi cô lập. Những cuộc thanh trừng nhân phẩm trên mạng xã hội không nhằm mục đích giáo dục hay sửa sai, mà thực chất là sự giải tỏa những xung năng bạo lực bẩm sinh được công nghệ hóa.

Vũng lầy độc hại này có tính chất lây lan rất mạnh. Trong một môi trường mà sự thù hận và nghi kỵ chiếm thế thượng phong, các cá nhân dù muốn giữ sự ôn hòa cũng dần bị cuốn vào vòng xoáy phòng thủ. Để bảo vệ bản thân hoặc để tránh bị cô lập, họ bắt đầu tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ hằn học của đám đông. Thuật toán mạng xã hội lại tiếp tục khuếch đại các tương tác tiêu cực này vì chúng mang lại lượt truy cập cao nhất. Cứ như thế, không gian mạng trượt dài trong một chu kỳ suy thoái đạo đức, nơi sự thấu cảm bị coi là yếu đuối và sự tàn nhẫn được tung hô như một sự thẳng thắn, cá tính.

*

Hệ quả cuối cùng và nguy hiểm nhất của tiến trình này là SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN KẾT XÃ HỘI THỰC CHẤT. Một cộng đồng loài người bền vững được xây dựng trên nền tảng của lòng tin xã hội, các cam kết đạo đức lâu dài và khả năng hành động tập thể vì lợi ích chung. Mạng xã hội tạo ra ảo tưởng về một thế giới siêu kết nối, nơi một cá nhân có thể có hàng ngàn bạn bè trực tuyến. Nhưng thực chất, đó chỉ là những kết nối lỏng lẻo, hời hợt và mang tính cơ học. Khi lòng tin biến mất hoàn toàn dưới tác động của sự bất tín vị kỷ, xã hội bị nguyên tử hóa thành những cá nhân cô lập.

Con người trong trạng thái cô lập này không còn được dẫn dắt bởi lý tính cao cấp, mà quay về tuân theo các xung năng cấp thấp. Họ tìm kiếm sự thỏa mãn tức thì, sống bằng những phản ứng cảm xúc ngắn hạn và chối bỏ mọi nghĩa vụ đối với cộng đồng. Một xã hội bao gồm những thực thể ích kỷ như vậy sẽ mất đi khả năng cố kết. Khế ước xã hội ngầm định bị phá vỡ, các định chế văn hóa bị vô hiệu hóa, và xã hội chỉ còn là một tập hợp các cá nhân sẵn sàng xung đột với nhau vì những lợi ích nhỏ nhặt.

Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng này là SỰ TỰ GIẢI THỂ CÁC CẤU TRÚC TINH THẦN VỐN ĐỊNH NGHĨA CON NGƯỜI. Đạo đức, triết học, nghệ thuật chân chính và tư duy phản biện là những cấu trúc phi vật chất được nhân loại xây dựng qua hàng ngàn năm để thuần hóa phần con và nâng cao phần người. ĐÁNG BÁO ĐỘNG là sự giải thể này không diễn ra dưới áp lực của một thế lực bạo quyền bên ngoài, mà là MỘT QUÁ TRÌNH TỰ NGUYỆN TỪ BÊN TRONG tâm thức con người. Khi con người sử dụng thứ TỰ DO KHÔNG NỀN TẢNG để bình phẩm vô căn cứ, COI THƯỜNG TRÍ THỨC TINH HOA, CÀO BẰNG CHÂN LÝ với NGỤY BIỆN và BÌNH THƯỜNG HÓA SỰ ĐỘC HẠI, họ đang tự tay tháo dỡ các rào dậu bảo vệ nhân tính. Sự tự do không nhân tính cuối cùng tự chuyển hóa thành sự hỗn mang, đưa con người trở lại trạng thái hoang dã về mặt tinh thần ngay trong một thế giới tràn ngập các công nghệ tối tân.

Kỷ nguyên số đã phơi bày một thực tế nghiệt ngã rằng sự tiến bộ về mặt kỹ thuật không đi đôi với sự tiến hóa về mặt nhân tính. Khi các nền tảng công nghệ trao cho con người một thứ tự do vật lý tối đa nhưng lại tước đoạt đi năng lực tự nhận thức và trách nhiệm đạo đức, nó sẽ tạo ra một nền dân chủ mạt pháp nơi bầy người kỹ thuật số tự xâu xé lẫn nhau. Nếu mỗi cá nhân không tự thiết lập lại kỷ luật lý tính và khôi phục mỏ neo đạo đức trong chính tư duy của mình, các cấu trúc tinh thần định nghĩa con người sẽ tiếp tục tan rã, để lại một khoảng trống hoang tàn trong đời sống tinh thần của nhân loại.

René Magritte, Le Paysage de Baucis,1966

This entry was posted in Vấn đề hôm nay and tagged . Bookmark the permalink.