Nguyễn Đức Lực

Tấm meme ghép mặt Mbappé vào chân dung Mao Trạch Đông (trái) và Mbappé lúc trả lời phỏng vấn (phải). Nguồn ảnh: mạng xã hội.
Mấy hôm nay Mbappé phải xin lỗi bằng ba thứ tiếng, chỉ vì bảo tấm meme ghép mặt mình vào ảnh “Một ông nào đó, hình như là nhà độc tài Trung Quốc” là tấm buồn cười nhất.
Clip ấy là cảnh hậu trường quay từ đầu năm, anh không hề nhắc tên Mao. Vậy mà hôm sau CCTV ngừng phát mọi trận có anh, ba hãng sữa, phô mai, nước uống Trung Quốc cắt hợp đồng, Real Madrid và La Liga cũng xin lỗi theo. Báo nhà nước chỉ gọi đó là “phát ngôn không phù hợp”, không nhắc tới một chữ Mao nào [1].
Đùa về Mao mà bị phạt thì ai cũng đoán được. Có điều ở cạnh Mao, đến người ca ngợi Mao cũng có lúc mang tội.
Năm 1970, Mao đánh đổ Trần Bá Đạt, người viết thuê cho mình hơn 30 năm. Tội của Trần là soạn một tập trích dẫn chứng minh Mao là thiên tài.
Mao gọi Trần là “Marx giả”. MacFarquhar, sử gia Harvard chuyên viết về thời Mao, hỏi lại: Trần cộng tác với Mao về lý luận hơn 30 năm, nếu Trần là Marx giả thì Mao là gì? Rồi ông viết tiếp: “Không lãnh đạo nào của Đảng Cộng sản Trung Quốc đủ gan để hỏi” [2].
Trước Trần còn mấy người nữa. Người đưa “tư tưởng Mao Trạch Đông” vào Điều lệ Đảng, người viết lời tựa Sách đỏ, đều ngã ngựa đúng ở chỗ mình từng tung hô Mao.
Thử hỏi Mao giữ ghế gần 30 năm bằng cái gì?
I – Ở DIÊN AN, AI CŨNG PHẢI VIẾT KIỂM ĐIỂM
Ở Diên An đầu thập niên 1940, ai từng chống Mao đều phải viết kiểm điểm, xin lỗi trước đám đông. Chu Ân Lai phải tự gọi mình là “kẻ lừa đảo chính trị” không có nguyên tắc, từ đó quyết không bao giờ chống Mao nữa. Dikotter (giáo sư sử ở Đại học Hồng Kông, nghiên cứu viên Viện Hoover ở Mỹ, viết nhiều sách về Trung Quốc thời Mao) viết: “khác Stalin, Mao hiếm khi xử bắn đối thủ, ông biến họ thành đồng lõa, lúc nào cũng trong thời gian thử thách, phải làm việc không ngừng để chứng tỏ mình” [3].
Tức là với những người ngồi quanh mình, Mao bắt họ tự viết ra tội của mình rồi ký tên vào. Ông bà mình bảo lời nói gió bay, chứ lời đã viết vào bản kiểm điểm thì nằm đó, muốn rút lại cũng chả được.
Cái tên “tư tưởng Mao Trạch Đông” cũng ra đời từ đấy. Theo Jung Chang (nhà văn gốc Trung Quốc, tác giả cuốn Thiên nga hoang nổi tiếng thế giới), tháng 7/1943 Mao nhờ Vương Gia Tường viết một bài nhân dịp Đảng tròn 22 tuổi, còn gợi ý khá lộ liễu bài nên viết gì, thế là cụm từ ấy xuất hiện lần đầu. Bà kết luận Mao “tự đạo diễn những lời ca tụng ấy” [4]. Lưu ý là kết luận này của bà còn bị nhiều người tranh cãi.
Đại hội 7 năm 1945, giữa chủ tịch đoàn treo ảnh Mao, băng đỏ phía trên ghi “tiến lên giành thắng lợi dưới ngọn cờ Mao Trạch Đông”. Lưu Thiếu Kỳ đọc báo cáo sửa Điều lệ, đưa “tư tưởng Mao Trạch Đông” làm kim chỉ nam cho mọi công tác của Đảng. Cuốn tiểu sử chính thức của Mao, do chính Đảng Cộng sản Trung Quốc soạn, dẫn lời Hồ Kiều Mộc, thư ký của Mao, giải thích: Không nêu tư tưởng Mao thì khó thống nhất tư tưởng toàn Đảng, “nêu tư tưởng Mao Trạch Đông chính là nhằm vào Liên Xô” [5].
Lưu Thiếu Kỳ sau này còn nói thẳng hơn: “Hồi ấy có người chống Mao Trạch Đông, nên tôi phải làm sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông”. Có điều câu này Đường Đức Cương dẫn từ một tờ báo Hồng vệ binh năm 1967, đúng lúc người ta đang đấu tố Lưu, nên phải đọc dè dặt [6].
II – TUNG HÔ LÀ VÉ VÀO CỬA
Năm 1956 Khrushchev hạ bệ Stalin, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng bỏ “tư tưởng Mao Trạch Đông” khỏi Điều lệ ở Đại hội 8. Đặng Tiểu Bình đứng lên nói Đại hội 20 Liên Xô đã “cảnh báo chúng ta rằng sùng bái cá nhân có thể dẫn tới đủ mọi hậu quả tai hại” [7]. Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao, kể Mao tức tối vì những đề nghị ấy [8]. Tân Tử Lăng thì ghi chính Mao chỉ thị bỏ cụm từ ấy, vì sợ bên ngoài hiểu lầm [9]. Hai nguồn vênh nhau, tôi ghi lại cả hai.
Hai năm sau, ngày 16/1/1958 ở Nam Ninh, Mao giơ bài của Kha Khánh Thi, bí thư Thượng Hải, ra trước mặt mọi người hỏi Chu Ân Lai: “Này Ân Lai, anh là thủ tướng, anh có viết nổi bài nào hay như thế này không?”. Chu lí nhí: “Tôi không viết nổi”. Mao tiếp luôn: “Anh chẳng phản đối nóng vội à? Còn tôi thì phản đối việc phản đối nóng vội!” [10].
Thủ tướng của một nước hơn 600 triệu dân bị hỏi như hỏi học trò, ngay trước mặt các đồng chí. Tân Tử Lăng kể Chu tính đủ các đường, tính kỹ ra phết. Đường cuối cùng là “kiểm điểm trái với lòng mình, lấy Mao làm tiêu chuẩn đúng sai, theo sát Mao” [9]. Chu chọn đường ấy. Tháng 5/1958, Chu đứng trước 1.360 đại biểu nhận mình suýt thành hữu khuynh (tức là lệch sang phía bảo thủ, chống đường lối của Mao), bài kiểm điểm ấy Chu mất 10 ngày mới viết xong [4]. Chu gọi Mao là “hiện thân của chân lý” [10].
Cũng năm ấy ở hội nghị Thành Đô, Mao bảo có sùng bái đúng và sùng bái sai, lãnh tụ đứng về phía chân lý thì phải thần tượng hóa. Kha Khánh Thi hưởng ứng ngay: “Phải tin Chủ tịch đến mức mù quáng, phải phục tùng Chủ tịch đến mức quên mình”. Lưu Thiếu Kỳ nói với đại biểu: “Chủ tịch sáng suốt hơn chúng ta nhiều. Về mọi mặt, tư duy, tầm nhìn, nhìn xa và phương pháp, chúng ta đều kém xa” [11].
Tháng 4/1959, ở một buổi khiêu vũ tại Thượng Hải, Mao hỏi một nữ giáo sư đại học có để ý chính trị không. Cô đáp: “Không phải là không để ý, mà là không dám để ý”. Mao hỏi Kha Khánh Thi thế nào, cô bảo “Càng không dám kể”. Mao hỏi: “Tôi thế nào?”. Cô nói: “Chủ tịch sáng suốt vĩ đại” [12].
Chính Mao kể lại chuyện ấy. Theo Thiên Đảo Hồ, Mao nghĩ tới cả Lưu Thiếu Kỳ, bạn chiến đấu bao nhiêu năm, “trước mặt mình cũng không dám nói!” [12]. Tức là Mao biết thừa câu “Chủ tịch sáng suốt vĩ đại” là câu người ta nói khi không dám nói gì khác. Đi làm bây giờ cũng vậy thôi, sếp hỏi “em thấy anh thế nào”, nhân viên nào cũng biết đường mà trả lời.
Mấy tháng sau ở Lư Sơn, Bành Đức Hoài viết thư góp ý về Đại nhảy vọt. Lâm Bưu đứng lên: “Chỉ có Mao là đại anh hùng, vai trò ấy không ai khác được mơ tới. Chúng ta đều kém ông rất xa, đừng có nghĩ tới chuyện đó!” [10]. Vậy mà trong nhật ký riêng, mấy năm sau Hồng vệ binh lục ra, chính Lâm lại viết Đại nhảy vọt “dựa trên ảo tưởng, là một mớ hỗn độn” [10].
Cũng ở Lư Sơn, theo gợi ý trước của Mao, Lưu Thiếu Kỳ đứng lên phê phán Bành Đức Hoài vì từ năm 1956 Bành đã phản đối sùng bái cá nhân, mấy lần đề nghị đừng hát “Đông phương hồng”, phản đối hô “Mao Chủ tịch muôn năm”. Lưu còn nói “Xưa nay ông vẫn đề xướng sùng bái cá nhân”, trước Đại hội 7 đã tuyên truyền vai trò của Mao, nay vẫn tiếp tục [9]. Tám năm sau, chính Lưu bị đấu tố bằng đúng cái tội Lưu gán cho Bành.
Tân Tử Lăng so sánh: “Mao nói 100, Chu quyết không nói 99, cũng không nói 101. Lưu thường nói quá đi, 101 thậm chí 102” [9]. Còn Đường Đức Cương tả cảnh hội nghị: Một người nịnh hót thì hai người kia buộc phải nịnh theo, Chu, Lưu, Lâm dẫn đầu cùng vỗ tay, “hơn trăm người dự họp còn lại, ai dám không vỗ?” [6].
Tháng 1/1962, Đại hội 7.000 người, lúc uy tín của Mao xuống thấp nhất sau nạn đói. Lâm Bưu lại đứng lên: “Tư tưởng của Mao Chủ tịch luôn luôn đúng đắn. Nếu chúng ta gặp phải một khó khăn hay một vấn đề nào đó, điều đó có nghĩa rằng, chúng ta đã không thực hiện đúng chỉ thị của Chủ tịch” [8]. Lâm nói xong, Mao đứng dậy vỗ tay, “Lưu Thiếu Kỳ và các uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị chần chừ một lát rồi đứng lên theo” [9]. Lý Chí Thỏa ngồi ngay sau diễn đàn, nghe Mao khen: “Tại sao các cán bộ lãnh đạo khác của đảng không thể phát biểu như vậy?” [8].
Ba năm sau, tháng 1/1965, nhà báo Mỹ Edgar Snow (nhân tiện, chính ông này năm 1936 được Mao mời lên Diên An, viết cuốn Ngôi sao đỏ trên đất Trung Hoa làm Mao nổi tiếng khắp nơi [3]) hỏi Trung Quốc có nuôi tệ sùng bái cá nhân không. Mao nhận “có thể có một số”, rồi hỏi lại: “Có thể nào, chính vì không có được sự sùng bái cá nhân mà Khrushchev bị thất sủng không?” [13]. Delia Davin, người viết tiểu sử Mao, đọc câu ấy là Mao coi sùng bái như một tấm khiên [7].
III – LỜI TUNG HÔ THÀNH TỘI
Ngày 18/5/1966, Lâm Bưu nói trước Bộ Chính trị mở rộng: Mao sống tới 90, 100 tuổi vẫn là lãnh tụ tối cao, ai chống Mao thì cả Đảng, cả nước cùng đánh dẹp, “mỗi câu bằng một vạn câu của chúng ta”. Mao cho in bài ấy thành văn kiện của Trung ương [14].
Ngày 8/7/1966 Mao viết cho vợ là Giang Thanh: “Anh đoán bản ý của họ là để trừ ma nên phải nhờ Chung Quỳ. Vậy là ở những năm 60 của thế kỷ 20 anh đã làm Chung Quỳ của Đảng Cộng sản”. Rồi: “thổi lên càng cao, thì ngã sẽ càng đau” [12]. (Chung Quỳ là ông thần chuyên bắt quỷ trong truyện dân gian Trung Quốc, người ta hay dán tranh ông lên cửa để trừ tà.) Tân Tử Lăng viết đó là “lần đầu tiên trong đời” Mao “tán thành ý kiến tâng bốc của người khác, trái với lòng mình”, vì “sự tâng bốc này có hiệu quả nếu dùng làm một sách lược, một thủ đoạn để tấn công Lưu Thiếu Kỳ” [9].
Chung Quỳ thì phải có ma. Con ma đầu tiên lại là người đưa tư tưởng Mao vào Điều lệ. Năm 1967 cuốn Bàn về tu dưỡng của người cộng sản của Lưu Thiếu Kỳ bị gọi là “cỏ độc lớn chống chủ nghĩa Mác-Lênin, chống tư tưởng Mao Trạch Đông” [14]. MacFarquhar viết bản báo cáo năm 1945 của Lưu là một khúc ca tụng tư tưởng Mao, đánh dấu sự khởi đầu của sùng bái Mao, thứ sùng bái mà về sau Chủ tịch dùng để đánh đổ chính Lưu “một cách tàn khốc” [2].
Tháng 10/1968 Trung ương biểu quyết khai trừ Lưu vĩnh viễn khỏi Đảng, cả hội trường giơ tay, chỉ có một người không giơ tay là bà Trần Thiếu Mẫn. Tháng 10/1969 Lưu bị cáng lên máy bay đưa tới Khai Phong, giam trong một kho bạc cũ cửa thép dày. Ông mất ngày 12/11/1969, ngày thứ 27 ở đó, không ai cấp cứu, tóc bạc dài gần hai gang tay. Người ta hỏa táng ông dưới cái tên “Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp”. Năm 1972 các con ông xin thăm cha mẹ, Mao phê vào báo cáo: “Bố đã chết, có thể thăm mẹ” [9].
Người đọc báo cáo đưa tư tưởng Mao vào Điều lệ, cuối đời không còn cả cái tên.
Đặng Tiểu Bình thì bị Hồng vệ binh gom góp lại các “tư tưởng phạm tội”, trong đó có đúng bài phát biểu chống sùng bái cá nhân năm 1956. Mà năm 1956, đó là đường lối của cả Đảng [7].
Năm 1970 tới lượt những người dựng tượng to nhất. Ở Lư Sơn, Lâm Bưu nói chắc nịch: “Chúng ta nói Mao Chủ tịch là thiên tài, tôi vẫn giữ quan điểm này”. Trần Bá Đạt cùng vợ Lâm là Diệp Quần soạn vội một tập Mấy đoạn Engels, Lenin, Mao Chủ tịch nói về thiên tài phát cho phe mình. Tổ Hoa Bắc ra bản tin đòi lôi kẻ dám phủ nhận Mao là thiên tài ra mà “thiên đao vạn quả” [15]. Tức là phe Lâm cầm đúng con dao “chống Mao” để chém người khác.
Mao chặn lại: “Đừng nhắc chuyện đặt chủ tịch nước nữa. Ai khăng khăng đặt thì người ấy đi mà làm, dù sao tôi không làm!”, rồi phê vào tập trích dẫn: “Tài liệu này do đồng chí Trần Bá Đạt làm, đã lừa nhiều đồng chí” [15]. Tân Tử Lăng gọi đó là cái bẫy “thuyết thiên tài” Mao gài cho phe Lâm [9]. Mao còn bảo Trần làm đặc vụ Quốc dân đảng từ tận năm 1931 [2]. Chả nhẽ Chủ tịch sáng suốt vĩ đại ngồi cạnh một tay đặc vụ ngần ấy năm mà không biết?!
Hồi bị giam trong Cách mạng Văn hóa, Bành Đức Hoài được một người lính cắt tóc hỏi có phải ngày trước chức vụ của ông cũng to ngang Lâm Phó Chủ tịch không. Ông bảo Lâm giỏi hơn ông nhiều: “Ông ấy hơn tôi vì biết hô muôn năm!” [12].
Bành thì không hô muôn năm. Cuối năm 1972 cháu gái Bành viết thư hỏi tung tích bác, tổ chuyên án báo lên: Bành “qua nhiều năm được Đảng giáo dục” mà vẫn không nhận tội, tạm thời chưa cho gặp người thân. Tháng 4/1973 Bành được xác nhận ung thư trực tràng giai đoạn cuối, vẫn trong tay tổ chuyên án [12].
Lâm Bưu hô giỏi thế mà tháng 9/1971 cũng chết, trong một chuyến máy bay rơi mà tới giờ vẫn còn nhiều chỗ bí ẩn [3]. Ở nhà tù Tần Thành, người ta gom hết Sách đỏ về để xé trang lời tựa của Lâm, tù chính trị nhìn thế là đoán ra người kế vị đã ngã ngựa [7]. Lúc đầu Lâm bị gọi là “kẻ dã tâm tư sản” đã “thao túng sùng bái Mao” [16].

Mao Trạch Đông và Lâm Bưu trên lễ đài Thiên An Môn năm 1966. Nguồn ảnh: Wikimedia Commons.
IV – NGƯỜI SỐNG SÓT
Cuối năm 1973 Mao bảo Chu tự phê bình chừng 40-50 phút, Chu tự phê bình 7 tiếng [16]. Phải thấy rằng Chu sống được bên Mao tới cuối đời là nhờ lần nào cũng nhận lỗi nhiều hơn Mao đòi.
Đặng Tiểu Bình thì được Mao giữ lại. Tháng 10/1968, khi nhiều người đòi khai trừ Đặng khỏi Đảng, Mao bảo: “Các anh đều muốn khai trừ Đặng Tiểu Bình. Tôi thì có ý kiến khác… Ông ta sẽ không làm phản” [2]. Ngày 8/11/1971, hai ngày sau khi nghe tin Lâm chết, Đặng viết thư ca ngợi “sự lãnh đạo tài tình” của Mao trong vụ Lâm, rồi xin được “làm chút việc cho Đảng” [2].
Lý Chí Thỏa kể năm 1970 Mao nói với Snow có ba loại người: đa số “chỉ theo đuôi cái gì mà đám đông kêu lên”, còn có loại “hô vang khẩu hiệu Chúc Mao Chủ tịch trăm tuổi” mà “trong thực tế họ lại muốn tôi chóng chết” [8]. Nghĩa là Mao biết rõ người ta hô khẩu hiệu vì cái gì, vậy mà vẫn để người ta hô tiếp .
Teiwes và Sun, hai sử gia đọc rất nhiều hồi ký của lãnh đạo Trung Quốc, thì kết luận giới lãnh đạo “muốn tin Mao”. Đặng lúc bị đày ở Giang Tây còn mắng con cái vì chê bai Cách mạng Văn hóa, bảo chúng phải tin Chủ tịch [16].
Đúng một phần. Tin hay không thì ai cũng thấy cái giá của việc không hô muôn năm. Tân Tử Lăng kể lại đám tang Mao năm 1976: “Đại đa số kính sợ hơn mến yêu, song kính sợ không phải để chúc phúc, mà để tránh tai hoạ” [9].
Tháng 10/1974, Thi Vân Phong, một công nhân ở Trường Xuân, rải truyền đơn: “Phản đối mê tín cá nhân! Phản đối sùng bái cá nhân! Đảng Cộng Sản không được có hoàng đế của Đảng!”. Hơn 6.600 nhân viên an ninh truy lùng, cứ tưởng tác giả là một cán bộ bất mãn, ai ngờ chỉ là một công nhân [2].
Ngày 19/12/1976, ba tháng sau khi Mao mất, ông bị xử bắn vì tội phản cách mạng hiện hành. Trước khi bắn, người ta chuốc thuốc và khâu môi ông bằng chỉ phẫu thuật, để ông khỏi hô “Mao Chủ tịch muôn năm!” [2].
Gần 50 năm sau, một cầu thủ đá bóng ở Madrid đùa một câu về tấm ảnh ghép mặt mình vào ảnh Mao. Hôm sau anh viết lời xin lỗi bằng ba thứ tiếng, có cả tiếng Trung, nhận câu nói của mình là “thiếu suy nghĩ” [1]…
[1] – TIME, bài về vụ Mbappé và meme Mao Trạch Đông ngày 28/10/2026; Al Jazeera, bài về vụ Mbappé và Trung Quốc ngày 28/10/2026.
[2] – Mao’s Last Revolution – Roderick MacFarquhar và Michael Schoenhals, phần mở đầu, chương 16 Dispatching Liu Shaoqi, chương 19 The Defection and Death of Lin Biao, chương 20 Mao Becalmed, chương 21 Zhou under Pressure.
[3] – How to Be a Dictator – Frank Dikotter, chương Mao.
[4] – Mao: het onbekende verhaal (bản tiếng Hà Lan của Mao: The Unknown Story) – Jung Chang và Jon Halliday, chương 25 và chương 39.
[5] – Mao Trạch Đông truyện 1893-1949 (毛泽东传) – Phòng Nghiên cứu Văn kiện Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bàng Tiên Tri chủ trì, Kim Xung Cập chủ biên, chương 29.
[6] – Mao Trạch Đông chuyên chính thủy mạt (毛澤東專政始末) – Đường Đức Cương, bài 1.
[7] – Mao: A Very Short Introduction – Delia Davin, chương 4, chương 6 và chương 7.
[8] – Đời tư Mao Trạch Đông – Lý Chí Thỏa, Nguyễn Học và Lâm Hoàng Mạnh dịch, chương 20, 50 và 73.
[9] – Mao Trạch Đông ngàn năm công tội – Tân Tử Lăng, bản dịch Thông tấn xã Việt Nam, chương 8, 11, 17, 20, 24, 30, 31 và 39.
[10] – Mao’s Great Famine – Frank Dikotter, chương 3 Purging the Ranks, chương 12 The End of Truth và chương 13 Repression.
[11] – Mao’s Crusade – Alfred Chan, chương 2 Policy Formulation Under a Dominant Mao.
[12] – Cách mạng Văn hóa liệt truyện – Thiên Đảo Hồ, Nguyễn Duy Chiếm dịch, các phần Giang Thanh xé rào nổi dậy, Oan hồn của công thần và Giang Thanh trở giáo đánh lại.
[13] – Phỏng vấn Mao Trạch Đông – Edgar Snow, đăng trên The New Republic ngày 27/2/1965, Song Vũ và Tiểu Phi dịch.
[14] – Historical Dictionary of the Chinese Cultural Revolution – Guo Jian, Yongyi Song, Yuan Zhou, mục Lin Biao: May 18 Speech và mục Liu Shaoqi.
[15] – Mao Trạch Đông 7 năm cuối đời (毛泽东最后七年风雨路) – Cố Bảo Tư viết, Đỗ Tu Hiền chụp ảnh, phần năm 1970.
[16] – The End of the Maoist Era – Frederick Teiwes và Warren Sun, chương 1 và phần kết luận.