Trương Thị An Na

Năm 2014, tôi đến Grand Palais, Paris xem triển lãm tranh của họa sĩ người Nhật tên là Hokusai (1760 – 1849). Ở đó, tôi được chiêm ngưỡng series tranh 36 cảnh núi Phú Sĩ mà ông đã vẽ trong khoảng thời gian từ năm 1830 đến năm 1834 dưới dạng tranh khắc gỗ của Nhật. Từ quan sát thực tế và bằng mẫn cảm nghệ sĩ cũng như sự tinh tế của mình, ông đã chớp được những thay đổi màu sắc của núi Phú Sĩ qua những khoảnh khắc khác nhau để sau đó tái hiện chúng một cách hoàn hảo trong series này.
Xem 36 cảnh núi Phú Sĩ, tôi nhận ra Hokusai đã sử dụng màu xanh Phổ (còn gọi là xanh Prussia, xanh Berlin hay xanh Paris) để tạo nên sự độc đáo và tươi mới cho các bức tranh của mình. Đây có thể coi là một đột phá quan trọng và táo bạo trong hội họa. Qua phần giới thiệu của triển lãm, tôi được biết màu xanh này xuất hiện ở Nhật vào năm 1829 do một thủy thủ người Hà Lan mang đến. Màu sắc đẹp, mạnh mẽ và có chiều sâu này đã tạo ra một bước ngoặt trong sáng tác của Hokusai, mà Kajikazawa dans la province de Köshu, (1830-1834) (Kajikazawa ở tỉnh Köshu) đang ở trước mặt tôi là một trong những bức tranh như thế.

Kajikazawa dans la province de Köshu (183-1834)
Cảm nhận đầu tiên của người xem là sự êm ả của ngọn sóng màu xanh mực phía ngoài khơi, tiếp đến là hình ảnh núi Phú Sĩ nổi bật ngay trung tâm của bức tranh, giữa bốn bề màu trắng của mây, nước, trời. Trong khung cảnh đó, xuất hiện một ngư dân đang đứng trên một mỏm đá cao chênh vênh, lưng khom xuống, chân bám chặt vào đá, dồn toàn bộ sức mạnh vào cánh tay để giữ chặt dây lưới, phía dưới là những con sóng lớn đập liên tục vào ghềnh đá làm cho nước biển bắn tung tóe. Đằng sau ông là một cậu bé ngồi ở phần thấp hơn của tảng đá, đang lúi húi trước một chiếc giỏ.
Núi Phú Sĩ vươn lên giữa làn sương mờ phía sau và gần như được vẽ bằng một nét. Ngọn núi được miêu tả dịu dàng qua vài đường nét tối giản, phần đỉnh núi lộ ra bằng một sự chuyển màu tinh tế giữa bầu trời xanh mù sương. Ta thấy tác giả vô cùng tài hoa khi chỉ sử dụng hai màu chủ đạo là trắng và xanh được pha trộn với tỉ lệ hoàn hảo, tạo nên sự tương phản đan xen hài hòa đối xứng. Đỉnh núi màu xanh hiện lên giống như màu của bầu trời và màu của sương mù. Bố cục của bức tranh được sắp xếp theo một chuỗi hình học, mỏm đá kết hợp với bốn sợi dây của tấm lưới tạo thành những hình tam giác song song với đường viền của núi Phú Sĩ phía xa. Chuỗi hình học này tiếp tục được xuất hiện giữa vị trí phần đầu của đứa con với tư thế khom lưng của người cha và các ngọn sóng tạo nên các hình tam giác khác.
Chỉ với một vài chi tiết như con sóng bạc đầu, dáng đứng, động tác ghì chân hay trạng thái không giao tiếp giữa hai cha con đã nói lên được nỗi nhọc nhằn vất vả, những nguy hiểm khôn lường và sự cố gắng của hai cha con để vượt qua sóng gió dữ dằn. Bởi với họ, chính nơi khởi nguồn của những sức mạnh và những hiểm nguy này lại là nơi mang đến nguồn thu nhập, kế sinh nhai để có thể tiếp tục sinh sống và tồn tại, cũng từ đó cho thấy sự kiên cường của con người trước sức mạnh ghê gớm của thiên nhiên.
Rời bức tranh với hình ảnh hai cha con ngư dân và những ngọn sóng cùng núi Phú Sĩ, tôi đến với bức Ejiri dans la province de Sunshü (1830-1834) (Ejiri ở tỉnh Sunshü). Trước mắt tôi là một con đường màu trắng, uốn lượn quanh co hiện lên giữa một vùng đầm lầy rộng lớn, hoang vắng và đầy cỏ.
Bảy người bộ hành đang đi thì gặp một cơn lốc bất ngờ ập đến. ǫuá đột ngột nên mọi người hoảng hốt, oằn mình chống chọi với gió, họ cúi gập người quay mặt đi cố giữ chặt khăn và mũ để che gió. Người phụ nữ ở gần hai cái cây bị cơn gió thổi tung chiếc khăn màu nâu trùm kín lên mặt. Những tờ giấy trắng từ hành lý của cô ấy cùng những chiếc lá của hai cái cây rụng xuống bay tứ tung trên khắp cánh đồng. Trong khi đó một người đàn ông giơ tay bất lực trước chiếc mũ của mình đang bị gió cuốn bay ra khỏi đầu hất lên cao. Ông thật sự ngơ ngác khi thấy trên đầu mình chỉ còn sót lại phần chóp mũ. Trong sự quay cuồng hung dữ của cơn lốc, bất chợt người ta thấy ngọn núi Phú Sĩ hiện ra có màu trắng sáng như màu của bầu trời, giản dị, khiêm nhường nhưng lại dũng mãnh, vững vàng trong xoáy lốc. Sự mạnh mẽ này đối lập hoàn toàn với sự yếu ớt của những con người đang vật lộn và hứng chịu gió lốc ở phía dưới ngọn núi lửa huyền thoại này. Trước sức mạnh của thiên nhiên thì con người thật sự quá bé nhỏ và mong manh. Ejiri ở tỉnh Sunshü đã mang đến cho tôi một xúc cảm vô cùng mạnh về con người, về thiên nhiên, thấy mình như đang bị cuốn đi nhưng đôi bàn chân thì lại chôn chặt bất động trước những gì mà mình đang nhìn thấy.

Ejiri dans la province de Sunshü (1830-1834)
Nếu Ejiri ở tỉnh Sunshü cho người xem thấy được sức mạnh của thiên nhiên qua cơn lốc bất chợt, thì có một bức tranh khác trong series 36 cảnh núi Phú Sĩ của Hokusai lại cho người xem một sức mạnh khác của thiên nhiên, đó là những con sóng. Bức tranh này được coi là một kiệt tác làm nên tên tuổi của ông, đó là bức Dans le creux d’une vague aularge de Kanagawa (1830-1834) (Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa). ǫuả thật khi xem xong bức tranh này, đã có nhiều người thốt lên, đây chính là “con sóng cả” của họa sĩ Hokusai! Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa mô tả cảnh một ngọn sóng lớn đang đổ ập xuống những chiếc thuyền và những ngư dân bé nhỏ. Thoạt nhìn, người xem có cảm giác như những con sóng lớn hung dữ đang ở ngay trước mặt mình vậy. Nếu chỉ lướt qua, rất có thể người xem không chú ý đến bức tranh này, bởi nó không có gì nổi bật ngoài hình ảnh những con sóng. Tuy nhiên, càng xem lâu Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa sẽ khiến chúng ta phải kinh ngạc, trầm trồ và say mê. Chỉ với ba hình ảnh sóng, thuyền và núi cùng những màu sắc đơn giản là trắng, ba tông màu xanh, xám và nâu mà tác giả đã đặc tả được sức mạnh dữ dội của thiên nhiên một cách chân thực đến không ngờ.

Dans le creux d’une vague au large de Kanagawa (1830-1834)
Khi nhìn bức tranh này, tôi nhớ lại mình đã từng nghe nói rằng, chính hình ảnh này đã giúp Debussy có cảm hứng để sáng tác nên bài hát La Mer. Đồng thời, ông cũng sử dụng hình ảnh trong bức tranh này làm ảnh bìa cho bản giao hưởng La Mer của mình. Tôi đã có một bài viết nói lên những cảm xúc sâu lắng khi nghe bản nhạc này trong một cuốn sách về nhạc cổ điển. Lần này được nhìn tận mắt bức tranh, tôi lại càng hiểu hơn đằng sau cái vẻ bề ngoài tưởng như đơn giản này lại ẩn chứa một cấu trúc vô cùng quan trọng không thể thay thế, mang đến cho người xem cảm giác rùng mình, sợ hãi trước sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên.
Để đặc tả được hình ảnh con sóng dữ một cách chân thực như thế, chắc chắn tác giả phải có quá trình quan sát thực tế rất tỉ mỉ cùng một sự chiêm nghiệm sâu sắc về những thay đổi của sóng trong nhiều thời điểm khác nhau. Hình ảnh bọt biển tỏa ra vô cùng đặc biệt, giống một bàn tay khổng lồ đầy móng vuốt như đang cố quặp chặt vào con thuyền làm người xem cảm giác như đang diễn ra một trận đấu khủng khiếp giữa những cơn sóng và ba con thuyền. Lúc này ngọn sóng như một vật thể siêu phàm, hung dữ lao về phía con mồi là những con thuyền. Vậy mà, ba chiếc thuyền nhỏ bé cùng những ngư dân đang rạp người xuống đoàn kết để đối đầu với sóng dữ, chứ không dong thuyền bỏ chạy. Có được tinh thần đó, phải chăng, họ tin rằng ngọn núi Phú Sĩ linh thiêng phủ đầy tuyết trắng vẫn hiên ngang, không hề run sợ, sẵn sàng chở che cho họ, cho dù lúc này ngọn núi như lọt thỏm vào lòng con sóng to lớn và hung dữ đang muốn nhấn chìm nó xuống lòng đại dương? Chính hình ảnh đó lại càng làm bật nổi hơn sự kiên cường, dũng cảm của những ngư dân trong cuộc mưu sinh của họ.
Ngọn sóng quá cao làm cho đường chân trời trở nên rất thấp, lúc này tầm nhìn của người xem trùng với tầm nhìn của những người đánh cá, tạo cảm giác chiều sâu của không gian giữa cảnh trước là sóng biển và cảnh sau là núi Phú Sĩ rõ nét hơn. Điểm nhấn trong bức tranh này và cũng là sức hút với người xem chính là những vệt nước màu xanh thẫm đã tạo nên vô số đường cong từ chuyển động dồn dập, gấp gáp, mạnh mẽ, quả quyết của những cơn sóng trong những ngày không êm ả. Màu được dùng trong bức tranh này đều có sắc trầm và dịu. Mức độ đậm nhạt của màu xám đã giúp người xem hình dung được cảnh chân trời trước cơn giông bão. Cách sử dụng màu sắc này cũng làm cho sự tương phản giữa màu trắng của bọt nước, màu xanh đậm và nhạt của nước biển, màu vàng của các con thuyền càng nổi bật hơn. Người xem lo lắng đến nghẹt thở trước sự giằng co, tranh đấu để giành giật sự sống của con người với thiên nhiên dữ dội trong thời khắc sinh tử. Con thuyền phía bên trái trồi lên trong một tình thế hết sức nguy hiểm, bên cạnh kích cỡ bé tí xíu của những người đánh cá đã chỉ ra rằng họ quá bé nhỏ so với sự giận dữ của thiên nhiên. Chính hình ảnh này cũng mang đến cho người xem những cảm nhận, suy tư, chiêm nghiệm khó quên về tinh thần và văn hóa đặc biệt của người Nhật.
Bức tranh ra đời đã rất lâu nhưng thông điệp mà họa sĩ muốn gửi gắm vẫn vẹn nguyên giá trị mà không hề thay đổi. Trong cuộc đời của con người, mọi khó khăn dù có lớn đến đâu rồi cũng sẽ qua đi, chúng ta hãy cứ cố gắng, hãy cứ kiên trì, hãy bước về phía trước thì chắc chắn những điều tốt đẹp sẽ đến. Hãy cứ luôn lạc quan và dũng cảm, sẵn sàng đối diện với những gian nguy bằng tinh thần tĩnh tại, đó mãi là cách để chúng ta đi tới thành công.
Ra khỏi phòng triển lãm, tôi phải hít thật sâu vào lồng ngực và đi dạo một vòng quanh đại lộ Champs Élysées trước khi xuống bến tàu điện ngầm để trở về, bởi những bức tranh trong series 36 cảnh núi Phú Sĩ đã làm tôi thực sự choáng ngợp. ǫuay trở về, tôi hào hứng kể cho bạn bè nghe những gì mà tôi cảm nhận được về vẻ đẹp của ba bức tranh trong series ấy. Thế mới hiểu tại sao tên tuổi của Hokusai vẫn sống mãi với thời gian và những tác phẩm của ông vẫn cứ làm say mê người xem tranh đến vậy.
Tưởng rằng hình ảnh núi Phú Sĩ và những xúc cảm mãnh liệt của tôi rồi cũng lắng dần theo năm tháng, thế nhưng tất cả lại trỗi dậy thêm một lần nữa khi vào một ngày của năm 2017, người bạn gọi điện cho tôi nói rằng, sắp có triển lãm tranh về núi Phú Sĩ, chuẩn bị đến xem nhé. Vừa ngạc nhiên vừa cảm động bởi không ngờ cảm xúc ngây ngô, chân thật của tôi với những bức tranh cảnh núi Phú Sĩ năm nào đã chạm được vào xúc cảm của những người bạn, để đến khi có thông tin về những bức tranh núi Phú Sĩ thì họ đã nhớ đến và giới thiệu cho tôi.
Nhưng những tác phẩm núi Phú Sĩ lần này không phải của họa sĩ người Nhật mà là của họa sĩ người Anh, David Hockney đang sống tại Mỹ, người đang có một số bức tranh được bán với giá đắt nhất hiện nay. Không bỏ lỡ dịp may hiếm có này, tháng 8 năm 2017 tôi đã đến xem triển lãm tranh Mont Fuji et fleurs (1972) (Núi Phú Sĩ và những bông hoa) của ông tại Pompidou.
Khi đến nơi, tôi nhanh chóng bị thu hút bởi bức tranh Mont Fuji et fleurs (1972). Càng ngắm nhìn tác phẩm, tôi mới hiểu rằng tại sao người xem lại bị mê hoặc trước bức tranh này, đó là vì kỹ thuật vẽ Acrylique của Hockney quá điêu luyện.

Mont Fuji et fleurs (1972)
Người xem không khỏi bâng khuâng trước một cành hoa có hai bông màu trắng và bốn chiếc lá hình ống màu xanh lá cây được cắm trong chiếc bình màu nâu đỏ, hình dáng giống như một khúc tre già đặt trên bậu cửa sổ cùng màu với bình hoa ở cảnh trước của bức tranh. Bằng nét vẽ tinh tế, những bông hoa hiện lên thanh tao nhẹ nhàng nhưng vô cùng quyến rũ. Ở cảnh sau, giữa mênh mang màu xanh da trời của nước, của cây, ngọn núi Phú Sĩ hiện ra với phần đỉnh phủ đầy tuyết trắng.
Một bức tranh đơn giản nhẹ nhàng nhưng khi ngắm nhìn nó, người xem cảm thấy tâm hồn bình yên, lòng nhẹ bẫng, lâng lâng vô cùng dễ chịu. Đó cũng là lí do vì sao bức poster hay carte postale lại bán được nhiều như vậy. Bởi giống như tôi, rất nhiều người cũng mong muốn có bức tranh này treo trong nhà để mỗi sớm mai thức dậy khi ngắm nhìn nó sẽ thấy cuộc sống này nhẹ nhàng và thanh bình hơn. Nhưng từ tận đáy lòng mình, tôi thấy lần này trái tim mình không còn bị loạn nhịp như khi đứng trước những bức tranh về núi Phú Sĩ của Hokusai vào năm 2014 nữa. Có lẽ những bức tranh của người họa sĩ Nhật đã in đậm dấu ấn quá sâu sắc trong tâm tưởng của tôi?
Rời bức tranh Núi Phú Sĩ và những bông hoa, tôi đã dừng lại khá lâu trước bức A Bigger Splash (1967) (Tóe nước). Đây là bức tranh có khổ rất lớn, là một trong những tác phẩm nổi tiếng, minh họa cho nỗ lực của Hockney trong việc dùng nguyên liệu trong suốt để thể hiện được những khoảnh khắc thoáng qua. Bức tranh này dựa trên bức ảnh gốc được in trong một tạp chí vào năm 1967 nhằm quảng cáo cho việc xây dựng hồ bơi.

A Bigger Splash (1967)
Tóe nước mô tả một hồ bơi ngập nắng nhưng lại vô cùng vắng vẻ, xung quanh lặng ngắt như tờ. Phía sau là một ngôi nhà mái bằng có tường màu hồng tương phản với bầu trời trong xanh, hai ô cửa kính rộng phản chiếu bóng của những cây cọ và những tòa nhà, chứng tỏ xung quanh vẫn còn nhiều ngôi nhà khác nữa. Đường viền của bể bơi làm cho bức tranh như bị chia làm hai nửa, lạ thay điều đó hoàn toàn không làm hỏng bố cục, thậm chí lại cho người xem cảm giác dễ chịu. Có được điều này là do vị trí của ngôi nhà hình chữ nhật phía sau đã làm lệch đường ngăn đôi đó về một bên, đồng thời chiếc cầu nhảy màu vàng nổi bật trên mặt nước xanh ở góc phía dưới bên phải đã giúp cho bức tranh có được sự cân bằng hoàn hảo. Không có bóng dáng con người, hai cây cọ thẳng tắp, cao vút giữa bầu trời trong xanh, một cái ghế nằm cô đơn trước hiên nhà vào thời điểm buổi trưa đã làm cho không gian càng trở nên rộng rãi hơn, đồng thời cũng nhấn mạnh thêm cảm giác về sự tĩnh lặng. Bỗng nhiên sự tĩnh lặng đó biến mất bởi những vệt nước bắn lên từ bể bơi, giờ đây mọi sự chú ý của người xem đều dồn vào vệt nước đầy bí ẩn đấy. Những vệt trắng của nước bắn lên từ mặt hồ trở thành chủ thể sống động duy nhất, gợi ra suy đoán có ai đó vừa nhảy từ cầu lặn xuống đáy bể. Những tia nước được ánh nắng chiếu vào trở nên trắng tinh khiết nổi bật giữa màu lam ngọc của nước và bầu trời, càng làm nổi bật vẻ chói chang của ánh nắng và một không gian yên bình, ấm áp. Chỉ là một khung cảnh bình thường nhưng bằng sự tính toán khéo léo và khả năng xử lý không gian tài tình của mình, Hockney đã mô tả chúng theo một cách tự nhiên, trực diện nhất nên đã tạo ra được một hình ảnh đẹp đến ngỡ ngàng. Một thứ vốn dĩ bình thường như nước vậy mà bỗng dưng được thăng hoa, dẫn dắt trí tưởng tượng của người xem đến tận cùng của niềm phấn khích.
Bức tranh tiếp theo cũng gây ấn tượng với tôi là bức Nichols Canyon (1980). Đây là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của ông. Ấn tượng đầu tiên với người xem là màu sắc rực rỡ vô cùng ấm áp của bức tranh. Chúng ta sẽ thấy trước mắt mình là một quang cảnh ngoạn mục với một con đường quanh co, khúc khuỷu, uốn lượn liên tục, giống như một con rắn đang trườn từ đỉnh núi xuống. Đây chính là con đường mà người họa sĩ hằng ngày đã đi từ nhà mình trên hẻm núi Nichols đến xưởng vẽ của ông ở trong thành phố. Có lần ông đã nói: “Tôi sống trên đỉnh núi và tôi vẽ ở xưởng của mình trong phố. Tôi đi đi về về từ cao xuống thấp 2, 3, 4 lần trong ngày. T ôi cảm thấy việc lái xe đường đèo và việc quay phải, quay trái hàng ngày gần như đã ăn vào trong máu thịt của tôi”.

Nichols Canyon (1980)
Hai bên con đường là những ngôi nhà, những cái cây được vẽ với nét rất đơn giản, người xem có cảm giác quang cảnh trong tranh như được tạo ra từ một sự sắp xếp có vẻ tự do và chắp vá. Nhưng đổi lại màu sắc trong tranh vô cùng tươi sáng, phần nền nổi bật bởi màu đỏ và cam, cảnh vật hai bên thì được mô tả bởi màu hồng, tím, xanh lục và xanh lam. Ta cũng dễ dàng nhận ra, Hockney tập trung chủ yếu vào chi tiết con đường, nó gần như chiếm vị trí quan trọng trong bố cục của cả bức tranh. Hình dáng quanh co của con đường mang đến cho người xem cảm giác về chiều sâu và chiều dài vô tận. Từ đó ta cũng có thể thấy qua việc mô tả vẻ đẹp của phong cảnh, tác giả đã từng bước đưa người xem trở về với ký ức, về với kỉ niệm của những nơi đã từng biết, từng qua. Đồng thời hình ảnh con đường cũng đưa người xem đến sự liên tưởng về con đường hội họa và cuộc đời mà Hockney đã, đang và sẽ đi.
Xem bức Nichols Canyon, nhiều người cũng nhận thấy Hockney chịu ảnh hưởng từ Picasso và trường phái dã thú (Fauve). Điều này cũng vô cùng dễ hiểu vì rất nhiều nghệ sĩ coi Picasso là tấm gương của mình và David Hockney cũng vậy. Vì thế, sẽ không có gì lạ nếu đâu đó trong tranh của họa sĩ người Anh này lại có bóng dáng tranh của Picasso. Mặt khác, khi mô tả về thực vật và những bụi cây rậm rạp thì ông chịu ảnh hưởng của Matisse, nhưng đến khi tác phẩm hoàn thiện thì lại có vẻ gợi cảm và đa cảm của ngôn ngữ Pop-Art. Sự hài hòa về màu sắc của quang cảnh được hoàn toàn thẩm thấu và tỏa sáng trong không gian đã làm nên những nét riêng biệt của ông. Vì vậy, khi xem tranh của Hockney, chúng ta thường cảm nhận được những ý nghĩa vô cùng sâu sắc và nhân văn được danh họa gửi gắm. Càng ngắm những hình ảnh trong tranh, ta lại càng có cảm giác như mình đang đi xuyên qua phong cảnh để đến với từng mảnh đời, cảnh vật cụ thể.
Đi hết con đường uốn lượn với cảnh quan xinh đẹp và tươi sáng của Nichols Canyon, tôi lại đến với Bigger Trees Near Warter (2007) (Cây lớn hơn gần nước). Chúng ta dễ dàng nhận ra những bức tranh về phong cảnh tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Hockney, dù đó là những bức vẽ cảnh ở California hay ở Vương quốc Anh. Ông cho rằng tranh “càng to lớn thì càng đẹp”. Bức tranh Bigger Trees Near Warter (2007) là một bức tranh như thế, nó là tác phẩm lớn nhất của Hockney cho đến ngày nay, và ông đã vẽ bức tranh này để mô tả mùa xuân trong dịp trở lại quê hương Yorkshire Dales.

Bigger Trees Near Warter (2007)
David Hockney đã ghép 50 bức vẽ lại với nhau để tạo nên bức Cây lớn hơn gần nước có chiều cao 4.5 m và rộng 12 m. Ông thực hiện bức tranh lớn nhất này của mình vào khoảng giữa tháng 2 và tháng 3 năm 2007, khi những chồi lá đang chuẩn bị bung ra dù mùa đông lạnh lẽo vẫn còn đó nhưng báo hiệu một mùa xuân ấm áp đã sắp về. Đó là quang cảnh xanh ngút ngàn trên cánh đồng quê của nước Anh, đó là một khóm rừng với những cây lớn có màu hồng của những chiếc lá non ở ngọn cây. Ở ngay bề mặt của cảnh trước, ta thấy một loạt những cây lớn và những khóm hoa thủy tiên vàng vừa nhú lên trên mặt đất. Một cây rất to có thân và cành màu đen ở trung tâm của bức tranh. Còn một hàng cây khác dày đặc hơn được nhìn thấy ở cảnh sau. Một con đường ở phía trái, hai ngôi nhà với tường màu nâu đỏ và mái màu xanh lam ở đằng sau bên phải, đây chính là những tín hiệu cho thấy có sự sống của con người. Một phần lớn nửa phía trên của bức tranh dành cho motif phức hợp của những cành cây khi chúng đang chồng lên nhau, gợi nhớ đến mạng lưới liên kết không thể rút gọn thành những đường thẳng và những góc nhọn của hình học Euclid, từ đó cũng làm rõ hơn giới hạn giữa bầu trời mùa đông nhợt nhạt và khung cảnh tươi tắn ở bên dưới.
Đúng như Martin Gayford đã viết: “Người ta ở đó, trước một bức tranh vềcái điều mà Hockney thích gọi là sự bất tận của thiên nhiên”. Cuộc sống luôn là thế, khi tôi đến triển lãm này để tìm núi Phú Sĩ của David Hockney, nhưng rồi tôi lại đắm chìm vào và nhìn không biết chán những hàng cây của Bigger Trees Near Warter, lòng thầm biết ơn bức tranh Phú Sĩ, bởi vì nó mà tôi đã đến được với tuyệt tác này.
Vì dịch Covid-19 nên đã hai năm tôi không thể quay lại Pháp để đến thăm ngôi nhà của bạn tôi ở Normandie. Hiểu được nỗi niềm đó nên bạn tôi đã gửi đường link về một cuộc triển lãm trực tuyến cho tôi. Đó là cuộc triển lãm A Year in Normandie (2020-2021), (Một năm ở Normandie). Đây là một triển lãm khá đặc biệt, bởi toàn bộ cuộc triển lãm nàyđược trải ra trên một chiều dài 90 m, chiều cao 1 m, chạy dọc theo bức tường gian phòng của bảo tàng. Những bức tranh này được David Hockney vẽ trên iPad và trưng bày ở bảo tàng Orangerie từ ngày 13 tháng 10 năm 2021 đến ngày 14 tháng 02 năm 2022 ở Paris.
Khi xem tranh trực tuyến, tôi được biết, năm 2019 David Hockney đã chuyển đến sống ở Normandie. Toàn bộ tranh trong triển lãm này được lấy cảm hứng từ tấm thảm của hoàng hậu Mathilde đang trưng bày ở bảo tàng Bayeux, Pháp, Hockney lấy cảm hứng từ tấm thảm đó và vẽ một chu trình của mùa xuân. Ông kể rằng để miêu tả về mùa xuân, ông đã vẽ liên tục trong vòng 117 ngày. Được biết, sau đó ông không chỉ vẽ mùa xuân mà còn tiếp tục vẽ các mùa trong năm với những khung cảnh tràn ngập ánh sáng và màu sắc. Chỉ trong năm 2020, năm mà thế giới phải sống trong giãn cách thì ông đã vẽ được 220 bức tranh. Đó chính là những bức tranh trong cuộc triển lãm A Year in Normandie.
Trong một cuộc phỏng vấn với báo Le Monde, ông cho biết, những ngày giãn cách xã hội ở Normandie là khoảng thời gian sung sướng nhất của ông. Không có ai đến viếng thăm, cũng không phải đón tiếp các nhà báo, ông chỉ có thiên nhiên tươi mát quanh mình và đó chính là nguồn cảm hứng để ông tập trung mô tả vẻ đẹp bất tận của chúng. Ông luôn bám sát và đồng hành rồi nắm bắt sự thay đổi theo từng giờ, từng thời khắc của thiên nhiên. Ông đã sống trọn cảm xúc trong những gì mà ông vẽ. Cùng một sự vật, một khung cảnh nhưng nó sẽ được thể hiện khác nhau với sự thay đổi theo từng mùa khác nhau và với những điều kiện thời tiết khác nhau, ví dụ như những bức mô tả về một cái cây dưới trời mưa, một cái cây đang bị rung lắc vì cơn gió mạnh…

Ngôi nhà

Nhà kho

Cây táo

Cây mận

Cây táo trụi lá
Ông là một họa sĩ rất đặc biệt bởi không chỉ “vẽ” bằng máy ảnh mà ông còn vẽ trên máy tính bảng iPad với phần mềm Brushes sau đó in ra trên giấy, như những bức tranh trong series Normandie này. Cách vẽ này giúp ông không cần đến vật liệu mà chỉ bằng một cái iPad, ông đã có thể nhanh chóng “chộp” được những sắc màu mà ông cần để vẽ những cảnh mà phải ngay lập tức mới có thể bắt được khoảnh khắc như cảnh mặt trời lặn hay khi mặt trời mọc. Cứ thế ông tự do phác họa, phóng to, thu nhỏ, lấp đầy màu sắc một cách nhanh nhất. Đến khi in những bức tranh, ông sẽ quan sát tỉ mỉ cả quá trình, rồi ông sẽ thêm, bớt những chi tiết cần thiết để bức tranh hoàn hảo hơn mà không làm mất đi vẻ tự nhiên của tác phẩm.
Cũng như Van Gogh, ông luôn cảm thấy thích thú với vẻ đẹp đơn giản và thanh bình của thiên nhiên. Theo ông, quan trọng nhất là cần phải quan sát thiên nhiên thật kỹ để cảm nhận màu sắc của các sự vật một cách chân thật nhất. Có lẽ cảm nhận được sâu sắc điều này qua tranh của Hockney nên có một người bạn của ông đã nói với ông rằng, mùa xuân thật sự đến với ông lần đầu vào lúc ông ấy ở tuổi 80. Có lẽ nhiều người trong chúng ta khi nghe điều đó cũng chợt thấy lòng mình thổn thức, bâng khuâng vì những mùa xuân tuyệt đẹp mà mình đã từng trải qua trong cuộc đời. Nhưng rồi cũng sẽ có nhiều người giật mình nhìn lại không biết đã có mùa xuân nào mà mình thực sự thưởng thức kỹ càng, trọn vẹn và cảm nhận chúng một cách thấu đáo đến tận cùng được như Hockney chưa?
Với tôi, khi xem những bức tranh đầu tiên của triển lãm A Year in Normandie chạy trên màn hình cũng chính là lúc mà mọi ký ức của những tháng năm đi đi về về Normandie bất chợt ùa đến. Nhìn ngôi nhà mái dốc có màu hồng đậm với hai ống khói cùng với quang cảnh tươi mát ở xung quanh, từ
bãi cỏ xanh, những bụi cây tốt tươi cho đến cây táo sai trĩu quả trong tranh của Hockney mà tôi thấy nhớ da diết căn nhà của bạn tôi. Nơi đấy tôi thường đến chơi và ở lại khi thì vài ba ngày, khi thì vài tuần cũng có khi cả tháng vào tất cả các thời điểm trong năm. Đó là những ngày xuân khi có vô số mầm non đâm chồi nảy lộc, là những ngày hè nắng rải vàng ươm trên cành cây, là khi cả khu vườn đỏ rực trong mùa cây thay lá hay là khoảnh khắc hiếm hoi được nhìn những bông hoa tuyết rơi trên lối đi. Dù là ở thời gian nào thì mỗi lần được ở trong ngôi nhà theo cấu trúc colombage có nền nhà được lát bằng đá, tường được xây bằng đất trộn với rơm thì tôi vẫn cảm nhận rất rõ rằng, nhờ có sự tính toán khoa học và hợp lí nên toàn thể ngôi nhà luôn được cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố như gió, thời tiết, ánh nắng và cây cối với khung cảnh xung quanh lối kiến trúc tuyệt vời này nên dù cho cửa chính và các cửa sổ đều đã được làm mới lại, bên trong thì đầy đủ tiện nghi và vô cùng hiện đại nhưng vẻ bên ngoài của ngôi nhà vẫn giữ được nét mộc mạc và nguyên sơ như cấu trúc ban đầu.
Tôi đã ngạc nhiên và vô cùng thích thú về những điều trùng hợp đến kì lạ giữa ngôi nhà của bạn tôi và khung cảnh trong bức tranh của Hockney. Không chỉ có ngôi nhà mà ngay cả nhà kho phía bên trái của bức tranh cũng giống nhà kho của gia đình người bạn tôi, cả về hình thức và vị trí, gần như giống đến từng chi tiết với tác phẩm của Hockney. Hồi ức lại đưa tôi trở về nhà kho ấy, trở lại những ngày tôi được ngắm
nhìn những cây táo và cây mận với sự thay đổi màu sắc của chúng qua cả bốn mùa. Chỉ là hai cây ấy thôi nhưng vẻ đẹp của chúng từ xuân, hạ đến thu, đông đã khiến tôi cứ mê mẩn, cứ thương nhớ, cứ ngắm nhìn mãi không chán từ năm này sang năm khác vào mỗi lần đến đây.
Nỗi nhớ về mảnh vườn của bạn càng trào dâng khi một bức tranh khác của Hockney mô tả về cây mận và cây táo không còn chiếc lá nào, chỉ trơ trụi những cành cây khẳng khiu hiện lên trên màn hình máy tính. Hai cái cây và một ngôi nhà mái đỏ ở trung tâm bức tranh nổi bật giữa màu xanh tươi của cỏ. Dù hai cái cây không còn lá, dù bầu trời màu xám xịt nhưng người xem lại không hề có cảm giác buồn mà trái lại một niềm vui nho nhỏ, một hi vọng, một sự chờ đợi những nụ mầm mơn mởn sẽ nhú ra trong một ngày không xa. Lại một lần nữa, quang cảnh trong bức tranh này giống y hệt với cảnh trong vườn của bạn tôi vào mùa đông. Tôi bỗng nhớ lại một đoạn trong cuốn sách bàn về cái nhạt của François Jullien mà tôi đã dịch sang tiếng Việt: “Chỉ có những cành cây thẳng đứng, mảnh dẻ chia mặt tranh thành những bình diện khác nhau. Không có tác động sôi nổi nào hơn đến phá quấy sự bình lặng dàn trải khắp nơi, không có nét tô vẽ nào, không có tình tiết giải trí nào đến quấy rầy sự bình lặng của tổng thể. Phong cảnh này đơn điệu giản lược nhưng chứa trong nó mọi phong cảnh khác hòa lẫn vào nhau, hấp thụ lẫn nhau”, bởi như ta thường thấy vẻ đẹp rạng rỡ nhất là vẻ đẹp đơn giản nhất, những điều đơn giản thường là cái nói lên nhiều nhất. ǫuả vậy từ khi có triết lý “cái nhạt”, những cái cây trụi lá cũng làm tôi thích thú ngắm nhìn mãi mà không chán.
Nhưng dù thế nào thì đối với Normandie, “cái nhạt” vẫn không thể đánh bại được sự rực rỡ của mùa xuân nơi đây. Mùa xuân ở Normandie quả thật kỳ diệu, Hockney đã từng trả lời trong cuộc phỏng vấn với báo chí: “Tôi đến Normandie bởi ở đây có rất nhiều hoa. Hoa của những cây sơ-ri, cây mận, cây táo. Nhiều hơn rất nhiều so với những gì tôi thấy ở Yorkshire”, và rồi ông đã tìm thấy ở Normandie một thứ ánh sáng khác, nó đã làm ông say mê để rồi ông đã cho ra đời rất nhiều bức vẽ về vẻ đẹp các loài hoa của mùa xuân.
Có phải vì vậy mà hình ảnh những cây mận, cây táo trong tranh của Hockney dù chỉ xuất hiện ở một góc rất nhỏ, trong một khu vườn ngập tràn cỏ xanh và ánh nắng nhưng vẻ đẹp của chúng cũng khiến người xem mê mẩn. Cây mận và cây táo trong vườn của bạn tôi cũng thế, cứ mỗi độ xuân về khi hàng nghìn bông hoa bung nở phủ đầy trên tán cây. Ngoài vẻ đẹp tinh khôi, chúng còn tỏa ra mùi hương dịu dàng, quyến rũ khắp nơi. Còn nhớ những ngày cuối hè, chúng tôi thường ngồi chơi dưới gốc cây và ngắm nhìn những cành táo, cành mận trĩu quả rồi cùng nhau thưởng thức vị thơm ngon của chúng, để đến bây giờ tôi cứ tưởng như vị ngọt lành đó vẫn như còn thấm đẫm trong mình vậy. Chúng tôi còn cùng nhau làm bánh tartes, làm mứt, làm sirô và vô cùng thích thú khi phải chạy đua, phải “giành ăn” với lũ chim đang bay đến bởi
mùi hương quyến rũ của những quả chín mọng. Nhìn cây táo trĩu quả trong tranh Hockney, tôi càng khao khát được trở lại Normandie, để được gặp lại những cảnh vật đã từng gắn bó với mình, để xòe bàn tay hứng một chút tuyết hiếm hoi rơi như những gì Hockney đã kể khi ông vẽ bức tranh tuyết ở Normandie, một trong những bức tranh mô tả bốn mùa đẹp hút hồn của ông: “Tôi thức dậy lúc 9 giờ 15 phút, tôi nghĩ là tôi sẽ quay lại giường. Nhưng tôi không làm điều đó và tôi nhìn qua cửa sổ, tôi thấy tuyết. Tuyết đã rơi trong vòng 45 phút nhưng tôi đã vẽ được nó. Và rồi thì mặt trời xuấthiện và tất cả đám tuyết biến mất. Nếu tôi ở lại giường đến trưa thì tôi đã không tận hưởng được cái cảnh tuyết đó”.
Vừa định rời triển lãm trực tuyến A Year in Normandie từ chiếc máy tính của mình, tôi bất chợt nhìn thấy bức tranh với bốn bông hoa thủy tiên vàng rực rỡ như những mặt trời nhỏ. Những bông hoa nhỏ nhắn, dịu dàng, khiêm nhường nhưng lại khiến lòng tôi nao nao đến lạ. Nghe nói, ông vẽ bức tranh này để động viên tinh thần mọi người vượt qua thời gian giãn cách xã hội, với tiêu đề “Bạn hãy nhớ là bạn không thể hủy bỏ mùa xuân”. Tôi tin rằng, những bức vẽ của Hockney cũng như mùa xuân sẽ luôn mang đến hy vọng, sẽ giúp con người lạc quan khi thế giới đang bị đại dịch hoành hành. Giống như loài hoa thủy tiên luôn mang trong mình ý nghĩa của sự chờ đợi, với niềm khích lệ rằng hãy kiên nhẫn, mùa xuân sẽ trở lại với những ngày tốt đẹp hơn. Hockney còn cho biết từ rất lâu rồi, hoa thủy tiên đã có vị trí đáng kể trong lòng người dân quê ông qua bài thơ của nhà thơ William Wordsworth:
I wandered lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills
When all at once I saw a crowd
A host, of golden daffodils
Beside the lake, beneath the trees
Fluttering and dancing in the breeze.
Tôi tạm dịch như sau qua bản tiếng Pháp:
Lang thang cô đơn như một đám mây
Bay trên những thung lũng và những ngọn đồi
Khi bất thần tôi thấy một khóm
Một khóm hoa thủy tiên vàng
Ở bên cạnh hồ, dưới những cái cây
Uốn lượn và nhảy múa
Dưới ngọn gió lành.
Hockney dẫn dắt người xem bắt đầu cuộc hành trình này từ mùa xuân, vắt qua mùa hè để đến mùa thu và gặp mùa đông với ngập tràn cảnh sắc tươi đẹp. Những bức tranh trong triển lãm này đã đưa đến cho người xem một lời nhắc nhở về sự đổi mới không ngừng, sự kỳ diệu của thiên nhiên. Chúng ta hãy tận hưởng vẻ đẹp của chúng bằng cách ngắm nhìn thật kỹ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; hãy tận hưởng những mầm non vừa hé nụ khi mùa xuân đến; hãy tắm mình trong ánh nắng rực rỡ khi mùa hè ấm áp ùa về; hãy nhẹ nhàng nắm tay nhau khi mùa thu còn lãng đãng; hãy cùng xuýt xoa trước vẻ đẹp của những bông tuyết đầu mùa. Hãy cùng nhau chạm tay vào tất cả để chúng hòa quyện vào ta để cùng ta lan truyền những cảm xúc tích cực, và thấy cuộc sống này còn vô số những điều đẹp đẽ. Rồi một ngày, thế giới sẽ không còn dịch bệnh và chiến tranh, cuộc sống sẽ trở lại bình thường và mọi người có thể đi đến nước Nhật của Hokusai để ngắm nhìn ngọn núi Phú Sĩ, đến Normandie để hái một bó hoa thủy tiên tặng cho người mà ta yêu thương, hay lên ô tô đi một vòng quanh những hốc núi Nichols ở Los Angeles, thỏa thích vẫy vùng trong hồ bơi của David Hockney.