Hoàng Dũng
Trường tiểu học của tôi ở làng Vĩ Dạ có tên là trường Thế Dạ, đặt theo tên của hai thôn kế cận nhau: thôn Vĩ Dạ và thôn Lại Thế. Ngôi trường thời thơ ấu của tôi đó bây giờ đã bị phá hủy không còn dấu vết.
Nhưng chiếc cầu nho nhỏ xinh xinh nối thôn Vĩ Dạ và thôn Lại Thế thì vẫn còn, được cải tạo thành một cây cầu bê tông chắc chắn hơn xưa và vẫn “chết danh” Cầu Ông Thượng, cái tên quen thuộc của thuở nhỏ thằng bé mũi dãi thò lò là tôi qua cầu tìm bạn. Là gọi theo cụ Hình bộ Thượng thư Tôn Thất Đàn, nhà cách cầu vài trăm mét, thuộc thôn Lại Thế.
Con cụ Tôn Thất Đàn là thầy Tôn Thất Lôi, nghe nói từng là hiệu trưởng trường Thế Dạ (từ năm 1973-1975 thầy là hiệu trưởng trường Sư phạm Huế, dạy môn Sư Phạm – trường Sư phạm Huế chuyên đào giáo viên tiểu học). Thằng bé là tôi vào học lớp Năm (tức lớp Một bây giờ) thì thầy không còn là hiệu trưởng. Nhưng tôi vẫn biết thầy qua bộ sách địa lý bậc tiểu học – bìa ghi tên nhóm tác giả, trong đó có Tôn Thất Lôi. Đôi khi tình cờ gặp thầy, mấy anh lớn bảo nhỏ: “Thầy Tôn Thất Lôi đó!”, tôi thì chỉ dám đứng xa xa nhìn thầy.

Sách Địa lý lớp Nhì của Hoàng Chương, Tôn Thất Lôi, Tạ Thúc Thọ và Nguyễn Cáng
Thầy Tôn Thất Lôi suốt đời đau đáu với giáo dục. Năm 1954 ở Huế có phong trào vận động thành lập các lớp bình dân học vụ. Đứng đầu các lớp bình dân học vụ này là cụ Bửu Đáp, còn người phó là thầy Tôn Thất Lôi. 60 năm sau, một hôm anh Tương Lai, em thầy, gửi cho tôi một bài viết nhan đề “Ý kiến ngắn về dạy tiếng Việt ở các lớp mầm non”, tác giả là Tôn Thất Lôi. Mà lúc đó thầy đã hơn 90 tuổi! Tôi đưa bài của thầy tham dự Hội thảo khoa học “Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông” do Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 25/4/2014. Anh Tương Lai nói thầy biết tin, vui lắm lắm!!! Chỉ ba năm sau thầy Tôn Thất Lôi qua đời.
Ai là hướng đạo sinh ở Huế đều biết thầy Tôn Thất Lôi. Hươu Hiền Lành Tôn Thất Lôi từng là Đạo trưởng Hướng đạo Huế, đào tạo dìu dắt nhiều thế hệ Trưởng Hướng đạo cùng Hướng đạo sinh Thừa Thiên Huế. Làm huynh trưởng hướng đạo cũng là làm giáo dục. Chẳng vậy mà khi tham gia giảng dạy Đại học Sư phạm Huế, thầy Tôn Thất Lôi phụ trách môn Du ngoạn Học sinh!

Hươu Hiền Lành Tôn Thất Lôi
Ai lên đỉnh Bạch Mã ngày xuân có thể ngạc nhiên bắt gặp hai cây anh đào bung hoa. Hoa của thầy Tôn Thất Lôi đó. Hai cây anh đào này là “di sản” từ 300 cây năm 1960 thầy lên Đà Lạt mua, rồi chuyên chở bằng tàu lửa xuống Tháp Chàm, sau đó sang tàu ra đến ga xép Cầu Hai, từ đó dùng xe chở lên núi Bạch Mã. 300 chỉ còn hai! Nhưng sâu thẳm trong ký ức vẫn còn đó người trồng cây!

Cây anh đào Bạch Mã do thầy Tôn Thất Lôi trồng (ảnh đăng trên báo Tuổi trẻ)
Gia đình cụ Tôn Thất Đàn theo cụ Hồ ra Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp; để tránh những phiền phức không đáng có do cái họ “Tôn Thất” đem lại, về sau đều phải nhất loạt đổi thành “Nguyễn”: Nguyễn Thị Ngọc Toản, Nguyễn Thị Ngọc Trai và cả cậu út Nguyễn Phước Tương (Tương Lai, sinh năm 1936, đúng năm cụ Tôn Thất Đàn qua đời); chỉ trừ một người: giáo sư Tôn Đức Lang, Chủ tịch đầu tiên Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam – giữ được chữ “Tôn” nhưng chữ “Thất” thì thành “Đức”; Tôn Đức thì ít người nghĩ đến Tôn Thất, mà nếu vẫn tò mò, thì có khả năng liên tưởng đến những vị như Tôn Đức Thắng chẳng hạn!
May cho thầy Tôn Thất Lôi, do phải ở lại Huế để lo hương khói cho tổ tiên, thầy không phải đổi họ, thầy vẫn là Tôn Thất Lôi!
Còn nhớ Nguyễn Văn Tiến lúc là Phó Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, nhờ tôi liên hệ với anh Tương Lai để xin phép đăng Lạc Viên tiểu sử. Chẳng là tôi vốn thân thiết với anh Tương Lai và ở Sài Gòn, nhà anh cách nhà tôi chỉ hơn 1 km. Nhờ đó, lần đầu tiên công chúng được biết một tài liệu quý. Lạc Viên tiểu sử là hồi ký của cụ Tôn Thất Đàn, bản gốc được thầy Tôn Thất Lôi gìn giữ, được viết theo lối hành thảo. Anh Trần Đại Vinh nổi tiếng giỏi chữ Hán, đảm nhận công việc dịch thuật.
Lại nhớ cụ Tôn Thất Đàn bị báo chí chính thống gán cho cái tội tày đình: chính cụ là tác giả câu “Hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” để biện minh cho những hành động của chính quyền thời đó đàn áp phong trào xô viết Nghệ Tĩnh.
Tuy thế, đến nay chưa có một tư liệu nào dẫn nguồn để chứng minh sự khẳng định này. Trái lại, có người – nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường – nói rõ ĐÓ LÀ LỜI CỦA VUA TỰ ĐỨC:
“Một bài chiếu của vua Tự Đức có phê rằng “có Nghệ Tĩnh cũng không giàu thêm, không có Nghệ Tĩnh cũng không nghèo bớt” cho đất nước, ý chỉ sự thừa thải [sic!] của Nghệ Tĩnh, và bãi bỏ chương trình cứu trợ cho Nghệ Tĩnh” (Hoàng Phủ Ngọc Tường, 2001. Miền gái đẹp. Huế: NXB Thuận Hoá, trang 22).

Trong cuốn “Những gợn sóng trên dòng hồi ức” (ba tập, gần 2000 trang, lưu hành nội bộ trong gia đình), anh Tương Lai có nói phần nào nguồn cơn sự tùy tiện sử học này gắn với ứng xử bất xứng của một “giáo sư” tên tuổi.
Còn nếu căn cứ vào Lạc Viên tiểu sử thì chính cụ Tôn Thất Đàn đã soạn thảo một chương trình gồm 12 điểm để giải quyết tình hình bất ổn tại vùng này. Trong đó nêu rõ:
– Việc đánh dẹp không nên dựa vào bắn giết, quan quân gặp đoàn biểu tình chỉ được bắn lên trời để thị uy;
– Nếu người biểu tình chỉ cầm cờ không dùng khí giới thì không được tự tiện nổ súng, chỉ dùng roi gậy để giải tán;
– Quan quân bắt được cộng sản chỉ được giao cho quan trên tra xét kết án, không được tự tiện đánh chết hoặc làm bị thương;
– Quan quân lỡ bắn chết hoặc bị thương người nào đều tùy theo nặng nhẹ cấp tiền tuất để tránh oan uổng;
– Những mệnh lệnh gần đây của chính quyền có điều gì bất tiện cho dân như các loại thuế bị thu lạm đều cho bàn bạc lại để thay đổi;
– Những người bị bắt giam phải cứu xét cẩn thận nếu có oan uổng lập tức phóng thích…
Anh bạn Phạm Xuân Nguyên từng ngâm nga cho tôi nghe câu thơ của nhà giáo Nguyễn Hùng Vĩ: “Sử ta là sử nhà tùy con ơi!”. Nhà tùy ở đây không phải nhà Tùy một ngàn rưởi năm trước bên Tàu, mà nhà tùy bên ta! Tùy ý người viết! Gì cũng được, miễn có lợi!