Đoản khúc về đoản thoại của Carson

Nguyễn Quốc Chánh

1

Nếu Anne Carson chưa được trao Nobel, người ta có thể xem bà chỉ là một mụ gàn, kẻ điên khảo cổ chữ nghĩa, lục lọi những mảnh văn bản cổ như đi tìm xương khủng long trong đống tro tàn ngôn ngữ.

Nhưng khi được Nobel công nhận, chính những chữ nghĩa ấy bỗng trở thành văn chương lớn, những trò chơi trí thức trở thành thi pháp cách tân, sự lạnh lẽo là chiều sâu, cái kỳ quặc trở thành táo bạo.

Vậy Nobel phát hiện giá trị có sẵn hay tạo ra giá trị mà nó tuyên bố khi công nhận? Nếu giá trị chỉ trở thành giá trị trong cái nhìn của kẻ khác, liệu chủ thể có còn tự do trước cái nhìn ấy?

2

Thử đặt bài thơ Những đoản thoại của Carson ở hai thời điểm, trước và sau khi được công nhận, người đọc có thể xem nó là một mớ chữ lạnh lẽo, những trích dẫn đứt đoạn, một trò chơi trí thức của người đàn bà lập dị.

Sau khi được công nhận, cũng bài thơ ấy có thể được đọc như một thành tựu của thi pháp “thế giới”, một cuộc đối thoại giữa khảo cổ học và thơ. Từ một văn bản không đổi tới cái nhìn đã thay đổi. Từ danh còm đến vang danh.

Hay nói đúng hơn, khi vị trí văn bản trong thế giới thay đổi, kéo theo cách người ta nhìn nó trở nên thần kỳ.

3

Sartre giúp ta hiểu tha nhân không đơn giản là một người đứng bên ngoài, mà là một chủ thể có khả năng nhìn ta, khiến ta xuất hiện trước chính mình dưới một phương diện mà ta không hoàn toàn kiểm soát.

Khi Carson viết thơ, bà có thể trải nghiệm sáng tạo như một khả thể đang mở với những thử nghiệm, phá vỡ, tìm kiếm, thất bại rồi tiếp tục.

Nhưng khi người khác nhìn vô, họ có thể đóng khung bà thành một nhà thơ lớn, cổ điển học lập dị, trí thức lạnh lùng hay người đàn bà gàn đi tìm xương khủng long trong đống chữ nghĩa tiệt chủng.

4

Những danh tính ấy không hoàn toàn nằm trong quyền quyết định của Carson. Bà có thể phản đối cách người ta đọc mình, nhưng không thể xóa bỏ sự kiện rằng người ta đã đọc mình như thế.

Bởi cái nhìn của tha nhân không chỉ giam giữ, nó cũng có thể mở ra những chiều kích mà chính tác giả chưa nhận biết.

Một người đọc có thể phát hiện trong tác phẩm những khả năng mà người viết không ý thức được khi mày mò.

Nhưng khi cái nhìn ấy đóng cứng thành một phán quyết, kẻ sáng tạo bị đồng nhất với hình ảnh mà người khác gán cho mình thì sự công nhận bắt đầu có nguy cơ trở thành một cái lồng.

5

Nobel không thể chứng minh rằng mọi câu thơ của bà đều có giá trị. Nhưng nó thay đổi vị trí của bà trong trường văn chương, từ một tác giả có thể bị bỏ qua thành một tác giả xuất chúng, nhà phê bình và các thiết chế bị gây mê.

Trước giải thưởng, người ta hỏi, bài thơ này có gì nhưng sau giải thưởng, người ta thường không hỏi, bài thơ này sâu sắc đến mức nào, mà hay hô hào về chiều sâu “thế giới” của bài thơ.

Đó là quyền lực của sự công nhận, nó không chỉ phân phối danh tiếng, mà còn định hướng cách người ta nhìn thấy giá trị. Nói theo Bát Nhã, giá trị là do duyên khởi.

6

Giá trị của tác phẩm không nằm trong khả năng mà nó thực sự tạo ra từ cấu trúc, ngôn ngữ, sức gợi, độ phức tạp do cách đọc mà nó bất quyết.

Do đó giá trị được xã hội thừa nhận nằm trong sự lưu hành của những phán đoán về tác phẩm, không có tính tự thân.

Nobel không tạo ra giá trị của tác phẩm. Nó chỉ có thể tạo ra một thế giới trong đó giá trị được nhìn thấy, tin tưởng và lưu truyền.

7

Trước Nobel, Carson có thể bị xem là một người đàn bà gàn. Sau Nobel, bà có thể bị xem là một thiên tài.

Hai hình ảnh trái ngược nhau nhưng có một điểm chung, cả hai đều có thể biến một con người sáng tạo thành một thứ bản chất hoàn tất.

Người chê có thể nói bà chỉ là mụ điên. Người tán dương thì nói bà là thiên tài.

Một bên hạ một bên nâng nhưng cả hai, đừng quên rằng với nhà thơ, không thể đồng nhất bất kỳ danh tính nào trong số đó.

8

Con người không chỉ là cái đã trở thành. Con người còn là một dự phóng, là khả năng vượt qua tình trạng hiện tại.

Nếu Carson đồng nhất mình với danh hiệu thiên tài, bà bắt đầu bị Nobel biến thành con tin, rồi viết hoặc chết để duy trì hình ảnh ấy.

9

Nếu người đọc đồng nhất bà với hình ảnh một kẻ điên, họ cũng làm điều tương tự từ phía ngược lại. Một bên dựng tượng, một bên ném đá. Cả hai đều có thể biến con người thành vật thể.

Tuy nhiên, nếu cho rằng giá trị phải hoàn toàn tự thân, không cần tha nhân, cũng gặp một khó khăn khác. Con người không phải một ý thức cô lập, tự tạo ra toàn bộ ý nghĩa từ bên trong mình.

10

Bởi vậy, giá trị nghệ thuật không nhất thiết là một vật thể thuần túy nằm bên trong tác phẩm, chờ được phát hiện như bộ xương khủng long đã nằm nguyên vẹn dưới lòng đất.

Giá trị còn được hình thành trong quan hệ giữa văn bản, người đọc và lịch sử. Nhưng điều đó không có nghĩa mọi phán đoán đều ngang nhau.

Một bài thơ có thể được công nhận rộng rãi mà vẫn tầm thường. Một bài thơ bị bỏ quên có thể chứa những khả năng nghệ thuật mà thời đại chưa đủ điều kiện nhận ra.

Sự đồng thuận xã hội không phải tiêu chuẩn tuyệt đối của giá trị, cũng như sự khinh miệt của đám đông không phải bằng chứng rằng một tác phẩm vô giá trị.

11

Nobel không phải tiếng nói của toàn thể tha nhân. Nó là tiếng nói có trọng lượng đặc biệt của một thiết chế trong trường văn chương. Nhưng quyền lực của một thiết chế không đồng nghĩa với chân lý.

12

Nếu không ai đọc Carson, không ai phản ứng với thơ bà, sự tồn tại xã hội của bà với tư cách một nhà thơ có thể rất mong manh.

Sự công nhận giúp tác phẩm đi vào thế giới chung, giúp những khả năng riêng tư trở thành đối tượng của một cuộc đối thoại công cộng.

Cần cái nhìn của tha nhân để biết mình xuất hiện như thế nào trong thế giới, nhưng không thể buộc cái nhìn ấy phải đúng với điều mình nghĩ về mình.

Cần người khác, đồng thời không thể trao cho họ toàn quyền quyết định mình là ai.

Đó là bi hài của liên chủ thể trong Sartre: tôi không thể hoàn toàn thoát khỏi tha nhân, nhưng cũng không thể hoàn toàn kiểm soát ý nghĩa mà tha nhân gán cho tôi.

13

Carson cuối cùng vẫn trở lại với thơ.

Có thể một bài thơ thất bại vì chỉ trưng bày tri thức. Cũng có thể một bài thơ cố tình từ chối sự bộc lộ cảm xúc trực tiếp để khảo sát cách cảm xúc được tạo ra bởi ngôn ngữ, ký ức và lịch sử.

Nhưng ai công nhận người công nhận? Nếu Nobel công nhận Carson, ai công nhận Nobel? Nếu giới phê bình công nhận Nobel, ai bảo đảm giới phê bình không sai?

Nếu lịch sử đảo ngược phán quyết hôm nay, giá trị có thay đổi hay chỉ có vị trí của tác phẩm trong lịch sử thay đổi? Nhưng lịch sử làm gì còn ai để phán quyết.

Chỉ còn con mụ điên đi tìm xương khủng long có thể vẫn đang đào. Chỉ có điều, sau Nobel, cả thế giới bắt đầu nhìn cái hố bà đào, rồi tranh nhau giải thích bộ xương ấy thuộc về loài nào.

Vũng Tàu 19/10/2026

* nơi này thời gia long bị nguyễn huệ rượt, gọi là gành rái. con rái biến mất, vũng tàu biến dạng, sài gòn biến thể, tôi ngồi đây biếng tánh, chỉ cây bàng là mãi mãi hăng tươi.

NHỮNG ĐOẢN THOẠI (SHORT TALKS)

Anne Carson

Đoản thoại về VIỆC ĐI GIẬT LÙI

Mẹ cấm chúng tôi đi giật lùi. Người chết đi như thế, mẹ thường nói. Mẹ nghe ý tưởng ấy từ đâu? Có lẽ từ một bản dịch tồi. Rốt cuộc, người chết không đi giật lùi, nhưng họ đi phía sau chúng ta. Họ không có phổi và không thể gọi với theo, nhưng họ rất muốn chúng ta quay đầu lại. Nhiều người trong số họ là những nạn nhân của tình yêu.

Đoản thoại về HẠNH PHÚC ĐƯỢC YÊU THƯƠNG

Ngày qua ngày, ngay khi thức dậy, tôi đã nghĩ về em. Ai đó đã đặt tiếng chim hót lên không trung như những viên ngọc quý.

Đoản thoại về BRIGITTE BARDOT

Brigitte Bardot đang rình rập. Cô ấy muốn gì, một nô lệ? Để thỏa mãn cơn khát của mình và chụp những bức ảnh đẹp. Nô lệ của ai? Cô ấy không quan tâm, cô ấy không bao giờ tự trách mình. Cô ấy sẽ dùng dầu để làm cho nô lệ sáng bóng. Hoàn hảo. La folie, cô ấy sẽ nghĩ thầm.

Đoản thoại về SỰ CHỈNH SỬA

Kafka thích để đồng hồ của mình chạy nhanh hơn một tiếng rưỡi. Felice cứ chỉnh lại cho đúng. Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta đều yêu người kia như chính con người họ, ông đã viết trong nhật ký của mình cùng với một vài nhận xét về hàm răng vàng của cô, thứ mà đối với ông vào năm 1912 có một vẻ lấp lánh thực sự kinh khủng. Và trong năm năm, họ gần như đã kết hôn. Ông lập danh sách các lập luận ủng hộ và phản đối việc đó, bao gồm cả việc không thể chịu đựng được sự tấn công vào chính cuộc sống của mình (ủng hộ) và cảnh tượng những chiếc áo ngủ được đặt trên giường của cha mẹ ông lúc 10:30 (phản đối). Xuất huyết đã cứu sống ông. Khi được các bác sĩ trong bệnh viện điều dưỡng khuyên không nên nói chuyện, ông đã để lại những câu nói bằng thủy tinh khắp sàn nhà. Một trong số họ nói rằng Felice vẫn còn quá nhiều sự trần trụi. Răng khỏe mạnh? Cũng thật kinh khủng theo cách riêng của chúng.

Đoản thoại về VAN GOGH

Lý do tôi uống rượu là để hiểu bầu trời vàng, bầu trời vàng rộng lớn, Van Gogh nói. Khi nhìn vào thế giới, ông thấy những chiếc đinh gắn màu sắc vào mọi vật và ông thấy rằng những chiếc đinh ấy đang đau đớn.

Đoản thoại về ĐÁ NGỦ

Camille Claudel đã sống ba mươi năm cuối đời trong một trại tâm thần, tự hỏi tại sao, và viết thư cho người anh trai là nhà thơ, người đã ký vào giấy tờ. “Hãy đến thăm em,” bà nói. “Hãy nhớ rằng em đang sống ở đây với những người phụ nữ điên, ngày dài lắm.” Bà không hút thuốc hay đi dạo. Bà từ chối điêu khắc. Mặc dù họ đưa cho bà những viên đá ngủ – đá cẩm thạch, đá granit và đá porphyry – bà đã đập vỡ chúng, rồi thu thập các mảnh vỡ và chôn chúng bên ngoài bức tường vào ban đêm. Ban đêm là lúc bàn tay bà ngày càng to lớn, cho đến khi trong bức ảnh, chúng giống như hai phần cơ thể của một người khác được đặt lên đầu gối bà.

Đoản thoại về CHỐNG THẤM NƯỚC

Franz Kafka là người Do Thái. Ông có một người em gái, Ottla, cũng là người Do Thái. Ottla kết hôn với một luật gia, Josef David, không phải người Do Thái. Khi Luật Nuremberg được áp dụng tại Bohemia-Moravia năm 1942, Ottla trầm lặng đề nghị Josef David ly hôn. Ban đầu ông từ chối. Bà nói về những hình thù ban đêm, về tài sản, về hai cô con gái của họ và về một cách tiếp cận hợp lý. Bà không nhắc đến từ “Auschwitz” vì lúc đó bà chưa biết đến nó, nơi bà sẽ chết vào tháng 10 năm 1943. Sau khi dọn dẹp căn hộ, bà đóng gói hành lý và được Josef David đánh bóng giày. Ông bôi một lớp mỡ lên giày. “Giờ thì chúng không thấm nước rồi”, ông nói.

Đoản thoại về MONA LISA

Mỗi ngày ông đều trút câu hỏi của mình vào nàng, như người ta rót nước từ bình này sang bình khác, rồi nước lại chảy ngược trở lại. Đừng nói với tôi rằng ông đang vẽ mẹ mình, dục vọng, v.v. Có một khoảnh khắc nước không ở trong bình này hay bình kia – cơn khát thật khủng khiếp, và ông cho rằng khi bức tranh hoàn toàn trống rỗng, ông sẽ dừng lại. Nhưng phụ nữ rất mạnh mẽ. Nàng biết về những chiếc bình, nàng biết về nước, nàng biết về cơn khát của con người.

Đoản thoại về SYLVIA PLATH

Bạn có thấy mẹ cô ấy trên truyền hình không? Bà ấy nói những điều đơn giản, cháy bỏng. Bà ấy nói tôi nghĩ đó là một bài thơ xuất sắc nhưng nó làm tôi đau lòng. Bà ấy không nói về nỗi sợ hãi rừng rậm. Bà ấy không nói về sự căm ghét rừng rậm, tiếng khóc than của rừng rậm hoang dã, hãy chặt nó đi. Bà ấy nói về tự quản, bà ấy nói về điểm cuối của con đường. Bà ấy không nói về tiếng ngân nga giữa không trung, điều bạn đến để làm, hãy chặt đi.

Đoản thoại về BỘ SƯU TẬP TOÀN TẬP

Từ thời thơ ấu, ông đã mơ ước có thể giữ bên mình tất cả những đồ vật trên thế giới được xếp hàng trên kệ và tủ sách của mình. Ông phủ nhận sự thiếu thốn, sự lãng quên, hay thậm chí là khả năng thiếu một mảnh nào đó. Mệnh lệnh tuôn ra từ Noah trong những hình tam giác màu xanh lam, và khi cơn thịnh nộ thuần túy của những phân loại của ông dâng lên xung quanh, nhấn chìm cuộc đời ông, chúng được những người khác gọi là sóng, những người đã chết đuối, cả một thế giới của chúng.

Đoản thoại về CHỖ NGỒI

Ngày nay, ông ta bị trói vào một chiếc ghế trong một căn phòng với ba kẻ điên, nhưng trong chiến tranh, cha tôi là một hoa tiêu và bay thấp trên nước Pháp để thả bưu kiện cho gián điệp—từng là những chiếc vớ nylon, thật khó giải thích với người Đức khi họ bắn hạ máy bay. “Wo ist sie?” (Nó ở đâu?) , họ cứ hỏi mãi, nhưng cha tôi không biết tiếng Đức và ba người kia đã chết trên ghế của họ.

Đoản thoại về BÀI HỌC GIẢI PHẪU CỦA TIẾN SĨ DEYMAN

Một mùa đông lạnh đến nỗi, khi đi bộ trên phố Breestraat, từ chỗ nắng đến chỗ râm mát, bạn có thể cảm nhận sự khác biệt chảy xuống đầu như nước. Đó là mùa đông đói kém năm 1656 khi Black Jan cặp kè với một gái điếm tên là Elsje Ottje và trong một thời gian họ sống sung túc. Nhưng vào một ngày tháng Giêng lạnh giá, Black Jan bị phát hiện đang cướp nhà của một thương gia buôn vải. Hắn chạy, ngã, đâm một người đàn ông và bị treo cổ vào ngày 27 tháng Giêng. Chuyện gì đã xảy ra với hắn sau đó chắc hẳn bạn đã biết: thời tiết lạnh giá cho phép bác sĩ Deyman dùng con mắt y học đích thực để mổ xẻ Black Jan trong ba ngày. Người ta tự hỏi liệu Elsje đã từng nhìn thấy bức tranh của Rembrandt, bức tranh miêu tả kẻ trộm tình yêu của cô trong một phối cảnh trực diện dữ dội, đến nỗi lòng bàn chân thuần khiết của hắn dường như chạm vào não bộ bị mổ xẻ. Cắt và cắt sâu để tìm ra nguồn gốc của vấn đề, bác sĩ Deyman đang nói, khi ông tách não ra hai bên như tách tóc. Nỗi buồn mò mẫm thoát ra từ đó.

Đoản thoại về CẢM GIÁC MÁY BAY CẤT CÁNH

Bạn biết đấy, tôi tự hỏi, có lẽ đó là tình yêu đang chạy về phía cuộc đời tôi với vòng tay giơ lên và hét lên : “Hãy mua lấy nó, thật là một món hời!”

Đoản thoại về HOA LAN

Chúng ta sống bằng cách đào hầm vì chúng ta là những người bị chôn sống. Đối với tôi, những đường hầm mà bạn tạo ra sẽ trông thật kỳ lạ, vô định, như những bông lan bị nhổ rễ. Nhưng hương thơm thì bất diệt. Một cậu bé đã bỏ trốn khỏi Amherst vài ngày trước, Emily Dickinson viết trong một bức thư năm 1883, và khi được hỏi cậu bé đi đâu, cậu trả lời: Vermont hoặc châu Á.

Đoản thoại về NƠI TRÚ ẨN

Bạn có thể viết lên tường bằng tim cá, đó là vì phốt pho. Chúng ăn nó, có những túp lều như vậy dọc theo con sông. Tôi viết điều này để càng sai với bạn càng tốt. Hãy đóng cửa lại khi bạn rời đi, nó nói, giờ bạn hãy nói cho tôi biết điều đó sai đến mức nào. Nó phát sáng trong bao lâu. Hãy nói cho tôi biết.

(thơ Nobel, 2026, ChatGPT dịch)

This entry was posted in Văn and tagged , . Bookmark the permalink.