Lợi Phan Mai
I. CON DỐC THIÊN ẤN VÀ NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ RÂU TÓC NHƯ MÂY
Khoảng mười năm trước, khi dẫn dắt một lớp báo chí điều tra cho Hội Nhà báo Quảng Ngãi, tôi thường cùng các nhóm học viên lùng sục thực địa. Đó là kiểu đào tạo tôi ưa nhất: không bục giảng, không PowerPoint. Lý thuyết buổi sáng, buổi chiều lên xe đi tác nghiệp. Học viên cầm máy, cầm bút, gặp người thật, viết bài thật.
Hôm đó chúng tôi lên núi Thiên Ấn.
Mục đích ban đầu chỉ là một bài tập về phóng sự địa danh, loại bài mà phóng viên tỉnh hay làm nhưng thường viết khá tẻ vì họ biết quá ít về nơi mình đang đứng, nếu có thì dựa theo báo cáo. Tôi muốn học viên học cách “nghe” một vùng đất trước khi viết về nó. Thiên Ấn là nơi lý tưởng: ngọn núi hình ấn trời, soi bóng xuống sông Trà Khúc, ngàn năm gắn với phong thủy và huyền thoại xứ Quảng.
Nhưng Thiên Ấn còn là nơi yên nghỉ của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Và chính điều đó đã dẫn chúng tôi đến người đàn ông kỳ lạ ấy.
Ông ngồi trên một tảng đá gần khu mộ, mặt hướng về phía sông. Tóc bạc dài đến vai, râu phủ ngực, áo nâu bạc màu như đất. Quắc thước và tĩnh lặng đến mức ban đầu tôi tưởng ông là một bức tượng ai đó đặt nhầm chỗ. Nhưng khi chúng tôi đến gần, ông quay lại, đôi mắt sắc, không có vẻ gì của người bị làm phiền.
“Lên thăm cụ Huỳnh à?” – ông hỏi, giọng Quảng đặc, nhẹ như gió.
Tôi gật. Ông gật lại, như thể điều đó là hoàn toàn tự nhiên. Rồi không đợi ai hỏi, ông bắt đầu nói. Và trong cái nắng chiều trên đỉnh Thiên Ấn, chúng tôi đứng nghe, không ai lấy máy quay, không ai ghi âm, như thể bản năng nghề nghiệp đã tự biết đây là khoảnh khắc cần nghe bằng tai và ghi bằng tim trước.
Sau này, khi được nhắc về ngày 3/5 – Ngày Tự do Báo chí Thế giới – tôi lục lại ký ức và với những tư liệu về báo Tiếng Dân, cụ Huỳnh Thúc Kháng, câu chuyện của ông cụ trên Thiên Ấn cứ ùa về.
Không phải vì ông nói gì đặc biệt xuất chúng. Mà vì ông nói như người đã ở đó, ở bên cụ Huỳnh, từ rất lâu rồi.
II. “MUỐN KHẢO SÁT TRÌNH ĐỘ MỘT DÂN TỘC, HÃY XEM NGƯỜI ĐỌC BÁO NHIỀU HAY ÍT”
Ông cụ bắt đầu bằng một câu mà tôi sau này mới biết là của chính cụ Huỳnh. Ông đọc như thuộc lòng, không nhìn vào đâu:
“Muốn khảo sát trình độ một dân tộc cao hay thấp thì chỉ xem người đọc báo nhiều hay ít”. (Huỳnh Thúc Kháng, phát biểu về tôn chỉ báo Tiếng Dân).
“Câu đó ổng nói từ hồi 1927. Mà bây giờ vẫn đúng”, ông bình thản nói thêm rồi im lặng, như để cho câu chữ ngấm.
Tôi hỏi ông biết nhiều về cụ Huỳnh vậy sao. Ông nhìn về phía mộ: “Ở gần người ta, lâu dài, thì biết thôi. Chứ đọc sách cũng không đủ đâu.”
Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là một trong những trí thức Hán học cuối cùng ở Việt Nam đi qua cuộc chuyển giao dữ dội từ thế giới khoa cử sang thế giới hiện đại. Tiến sĩ năm 1904, lãnh tụ phong trào Duy Tân, tù nhân Côn Đảo 13 năm (1908–1921) – khi ra tù, thế giới đã thay đổi hoàn toàn. Báo chí quốc ngữ đang bùng nổ. Hà Nội đã có những tờ nhật báo lớn. Huế thì chưa.
Cụ nhận ra rằng trong một thế giới đang biến đổi, báo chí và nghị trường là hai lợi khí sắc bén nhất để khai dân trí mà không phải đổ máu. Và cụ chọn cả hai: năm 1926 làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, năm 1927 ra tờ Tiếng Dân.
III. HÀNH TRÌNH RA HÀ NỘI MUA MÁY IN VÀ NGƯỜI ĐÃ NHƯỜNG
“Ông biết tờ Tiếng Dân ra đời nhờ cái gì không?”, dị nhân hỏi, giọng như đang thử.
Học viên nhìn nhau. Một người rụt rè: “Nhờ cụ Huỳnh?”
“Đúng. Nhưng còn nhờ một ông ở Hà Nội nữa. Ít ai nhắc đến ông đó lắm.”
Câu chuyện mà ông kể hôm đó, tôi về sau tìm lại được trong tư liệu lịch sử được công bố qua Bảo tàng Lịch sử Thành phố Huế và kết quả của nhà nghiên cứu Trần Đình Hằng ở Huế:
“Đến Hà Nội, mọi việc giao dịch mua các dụng cụ in và thuê công nhân đều có những người nhiệt tình tự nguyện đứng ra lo liệu. Lúc bấy giờ ông Mai Du Lân, Chủ nhiệm báo Thực Nghiệp tại Hà Nội, có nhã ý nhường lại cho Cụ Huỳnh một máy in còn mới. Nhà in Nghiêm Hàm cũng ủng hộ bằng cách đưa thợ nhà in vào Huế trợ lực. Đây cũng là dịp để Cụ Huỳnh tiếp xúc với các nhân sĩ Bắc Hà, mở rộng quan hệ xã hội.” (Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Thành phố Huế).
Mai Du Lân – Chủ nhiệm báo Thực nghiệp dân báo, một trong hai nhật báo lớn nhất Hà Nội thập niên 1920 – đã nhường cho cụ Huỳnh một chiếc máy in còn mới. Không có hợp đồng, không có điều kiện đi kèm. Một người làm báo nhường máy cho người muốn làm báo. Đơn giản vậy thôi.
Nhưng hệ quả thì không đơn giản chút nào. Chiếc máy in ấy đã trở thành trái tim kỹ thuật của tờ Tiếng Dân – tờ báo hoạt động suốt 17 năm (1927–1943), ra được 1.766 số, và trở thành tiếng nói dân quyền dài hơi nhất ở Trung Kỳ.
“Mấy anh em ở Hà Nội đó”, dị nhân nói, “họ làm báo ở Hà Nội nhưng giúp cho miền Trung có tờ báo. Kiểu như rót lửa sang bếp nhà người khác. Rót xong thì mình vẫn còn lửa mà người kia cũng có lửa.”
Tôi chưa nghe ai dùng hình ảnh ấy bao giờ. Nhưng nó chính xác đến lạ.
IV. BỐN NGUYÊN TẮC VÀNG VÀ MÔ HÌNH “CÔNG NGHIỆP TRI THỨC”
Dị nhân không chỉ kể chuyện máy in. Ông biết cả nội dung tờ báo – như người đã đọc từng số một.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hằng, trong bài Di sản Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân đăng trên Tạp chí Văn hóa Xứ Quảng, đã hệ thống hóa điều mà ông già trên Thiên Ấn kể theo kiểu riêng của mình: cụ Huỳnh đã thiết lập bốn nguyên tắc vàng cho nội dung tờ báo:
Phản ánh nguyện vọng dân; minh bạch hóa quyền lợi chung; hỗ trợ chính trị cởi mở; giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, kinh tế – (Trần Đình Hằng, Di sản Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân, Tạp chí Văn hóa Xứ Quảng, số 4-2026).
Tiếng Dân được định vị không chỉ là tờ báo, mà là “cơ quan ngôn luận quốc ngữ đầu tiên tại Kinh đô Huế”. Trong một thị trường văn hóa đang bị xâm lấn bởi các luồng tư tưởng Âu hóa, tờ báo xuất hiện như một “thương hiệu” nội địa cao cấp – chủ động từ khâu nguyên liệu (tư tưởng, bài viết) đến sản xuất (in ấn) và phân phối.
Tòa soạn đặt tại số 123 đường Đông Ba – nay là số 193 đường Huỳnh Thúc Kháng, Huế – ra đời ngày 10/8/1927. Nhịp độ sản xuất được giữ ổn định hai số mỗi tuần (thứ Tư và thứ Bảy), mọi hoạt động từ soạn thảo đến in ấn đều được chuẩn hóa theo quy trình kiểm duyệt yêu cầu nộp bản dịch tiếng Pháp trước hai ngày.
Những cây bút làm nên lịch sử
“Ai viết cho tờ đó vậy ông?”, một học viên hỏi.
“Thì đủ người. Mấy ổng chọn người giỏi lắm, không phải ai muốn viết cũng được đâu.”
Đó là sự thật. Qua các giai đoạn khác nhau, Tiếng Dân quy tụ những ngòi bút lớn nhất miền Trung và cả nước: Phan Bội Châu viết từ Bến Ngự, Đào Duy Anh phụ trách biên tập, Nguyễn Chí Diểu tham gia từ những ngày đầu. Từ năm 1930, hai cây bút trẻ Võ Nguyên Giáp và Hải Triều cũng xuất hiện trên trang báo – hai người sau này trở thành những tên tuổi lớn theo những con đường hoàn toàn khác nhau.
Sự chịu đựng của Tiếng Dân dưới sự giám sát trực tiếp của Sở Liêm phóng là một kỳ tích. 16 năm, 1.766 số – trong điều kiện ngặt nghèo nhất của nền báo chí Việt Nam dưới ách thuộc địa.
V. “TIẾNG DÂN” VÀ BÀI TOÁN TỰ DO BÁO CHÍ
Trời bắt đầu về chiều. Học viên ngồi xuống quanh tảng đá – không ai muốn về. Tôi hỏi dị nhân điều khiến tôi tò mò nhất:
“Ông nghĩ tờ báo đó có gì mà sống được lâu vậy?”
Ông im lặng một lúc, nhìn xuống thung lũng sông Trà Khúc:
“Vì cụ Huỳnh không làm báo để làm vừa lòng ai. Ổng làm báo để nói thật. Mà nói thật thì lâu bền hơn nói hay.”
Câu đó theo tôi suốt mười năm nay. Và nhân ngày 3/5 hôm nay, tôi thấy nó cần được nhắc lại, không phải như một câu trích dẫn hoài cổ, mà như một câu hỏi đặt thẳng vào thực tại.
Trần Đình Hằng nhận xét sắc bén khi gọi mô hình của cụ Huỳnh là “công nghiệp tri thức” – nơi tư tưởng được sản xuất, đóng gói và phân phối như một loại thượng phẩm nội hóa nhằm chấn hưng mục tiêu chân hưng dân tộc và dân chủ văn minh.
Nhìn lại mô hình đó vào năm 2026, ta thấy nó không hề lỗi thời, thực ra nó vẫn đang là thứ mà báo chí đang chật vật đi tìm lại sau nhiều thập kỷ trôi dạt.
VI. THIÊN ẤN VÀ NGỌN LỬA KHÔNG TẮT
Chúng tôi xuống núi khi mặt trời đã gần chạm đỉnh núi phía tây. Dị nhân vẫn ngồi trên tảng đá, không tiễn, không quay lại nhìn. Như thể ông đã ở đó từ trước khi chúng tôi đến và sẽ còn ở đó sau khi chúng tôi đi lâu lắm.
Một học viên đi bên tôi hỏi nhỏ: “Thầy nghĩ ông đó là ai vậy?”
Tôi không trả lời. Thực ra đến bây giờ tôi cũng không biết. Tôi chỉ biết rằng có những người chọn cách ở gần một ngọn lửa – không phải để sưởi, mà để đảm bảo nó không tắt.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã làm vậy với tiếng nói của dân tộc suốt 16 năm làm báo. Và có lẽ người đàn ông tóc bạc trên Thiên Ấn, theo cách của riêng ông, cũng đang làm vậy.
Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5 năm nay, khi đọc lại nghiên cứu của Trần Đình Hằng về di sản Tiếng Dân, tôi nhớ đến câu cụ Huỳnh nói – và câu ông già trên Thiên Ấn nhắc lại theo kiểu của ông:
“Nói thật thì lâu bền hơn nói hay”.
Đó là câu mà bất kỳ người làm báo nào cũng nên dán lên tường tòa soạn. Không phải vì nó khó thực hiện – mà vì nó dễ bị quên đúng vào những lúc áp lực nhất.
Và có lẽ vì vậy mà cần có những người như ông, ngồi trên một tảng đá cao, nhìn xuống sông Trà Khúc, nhớ thay cho tất cả chúng ta.
———
Tư liệu sử dụng trong bài:
(1) Trần Đình Hằng – Di sản Huỳnh Thúc Kháng từ Tiếng Dân, Tạp chí Văn hóa Xứ Quảng, số 4-2026;
(2) Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Thành phố Huế về báo Tiếng Dân.


