Lebanon: Thơ, họa dưới trời mưa bom

Phan Tấn Hải

Lebanon sẽ trở thành một kiểu tro bụi như Gaza sau khi không quân Israel tung ra nhiều đợt dội bom ngay giữa thủ đô Beirut nhiều tuần lễ qua, bất kể Hoa Kỳ và Iran đang ngưng bắn và đàm phán? Có nên hy vọng vào cuộc đàm phán ngập ngừng đương hữu giữa Israel và Lebanon hay không, sau nhiều thập niên họ vẫn nhìn nhau qua họng súng? Chúng ta không thể biết đất nước xinh đẹp này tương lai có thể bị xóa sổ hay không, trong khi Lebanon trải qua gần một thế kỷ trở thành một chiến trường khi nhiều nền văn minh hội ngộ, và cũng là nơi đã khai sinh ra nhiều nhà thơ và họa sĩ tuyệt vời.

Một nhà thơ lớn của Lebanon là Kahlil Gibran (1883–1931), người để lại tập thơ bất tử The Prophet trong đó có bài thơ Love (Tình yêu) với những dòng bất tử, như dường đang nói với người tình, và cũng có thể hiểu là Đấng Tối Cao, trích:

…Thà là, hãy để cho tôi đói,

Và hãy để tim tôi khô héo vì khát,

Và hãy để cho tôi chết và tan rã

Còn hơn phải đưa tay

Chạm vào cái tách mà người chẳng rót đầy,

Hay cái chén mà người chẳng ban phước. (ngưng trích)

Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó  95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1%  Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác.

Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước – dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái – ban đầu đã kiến ​​tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính.

Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài suốt 15 năm, được châm ngòi bởi những căng thẳng giáo phái nội bộ và sự hiện diện của các phe phái vũ trang Palestine. Cuộc chiến kết thúc vào năm 1990 bằng Hiệp ước Taif, nhưng lại để lại đất nước dưới sự chiếm đóng kéo dài của Syria cho đến tận cuộc Cách mạng Cây tuyết tùng năm 2005.

Thế kỷ 21 đã chứng kiến ​​những biến động cực độ: một cuộc chiến tranh tàn khốc với Israel vào năm 2006, những hệ lụy lan sang từ cuộc Nội chiến Syria, và một cuộc sụp đổ kinh tế thảm khốc vào năm 2019. Vụ nổ tại Cảng Beirut năm 2020 đã trở thành một biểu tượng bi thương cho sự tắc trách của bộ máy nhà nước. Ngày nay, Lebanon đang phải đối mặt với thách thức sống còn lớn nhất từ ​​trước đến nay – bị kẹp giữa một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện và nguy cơ chiến tranh vào năm 2026 – trong khi vẫn phải chật vật bảo vệ chủ quyền của mình giữa bối cảnh những xung đột ủy nhiệm khu vực đã ăn sâu bám rễ.

June Jordan (1936–2002), một nhà thơ Hoa Kỳ gốc Jamaica, đã viết bài thơ tựa đề Apologies to All the People in Lebanon (Lời xin lỗi gửi tới tất cả người dân Lebanon) với lời ghi là “Dành tặng cho 600.000 người nam, nữ và trẻ em Palestine đã sinh sống tại Lebanon từ năm 1948 đến 1983” trong đó có những dòng thơ, trích:

…Họ nói rằng quý vị đã bắn vị Đại sứ London

và khi điều đó không đúng sự thật

thì họ vẫn cứ nói thế

thì sao nào?

Họ nói rằng quý vị đã pháo kích các ngôi làng phía bắc của họ

và khi lực lượng Liên Hợp Quốc báo cáo rằng điều đó không đúng

bởi vì phía của quý vị vẫn đang tuân thủ lệnh ngừng bắn

đã hơn một năm trước đó rồi

thì họ vẫn cứ nói thế

thì sao nào?

Họ nói rằng họ chỉ đơn thuần muốn thiết lập

một vùng đệm rộng 25 dặm, và rồi

họ tàn phá nguồn

nước, nguồn điện của quý

các bệnh viện, trường học, mọi xa lộ và lối mòn của quý vị

dọc suốt lên tận phía bắc tới Beirut; bởi họ nói rằng đây

chính là cuộc tìm kiếm hòa bình của họ

Họ cho nổ tung nhà cửa của quý vị, san phẳng các cửa hàng thực phẩm

chặn đường Hội Hồng Thập Tự, bắt giam các bác sĩ

và họ ném bom chùm xuống những bé trai, bé gái

mà thân thể các em

sưng tấy bầm tím, đen sạm, phình to gấp đôi kích thước ban đầu

và xé toạc phần mông của một em bé mới bốn tháng tuổi…

(ngưng trich)

Mới tuần trước là là một đợt không kích quy mô lớn của Israel đã giết hơn 350 người chỉ trong vài phút, nhằm thẳng vào khu vực trung tâm Beirut và các vùng phía nam mà không hề có lời cảnh báo trước. Hiện tại, bộ binh của Israel đã tiến sâu vào miền nam Lebanon, cho phá hủy các cây cầu dọc theo sông Litani và kêu gọi di tản toàn bộ người dân khỏi phía nam Lebanon. Hơn 1,5 triệu người (chiếm 20% tổng dân số Lebanon) đã phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn, và hệ thống y tế đang đứng bên bờ vực sụp đổ do các cuộc tấn công có chủ đích nhằm vào các cơ sở y tế.

Trong hoàn cảnh gần một thế kỷ khói lửa mưa đạn kiểu như thế, lịch sử nghệ thuật Lebanon là một chuỗi dài kham nhẫn, kiên cường. Những người sống sót cùng cộng đồng Lebanon hải ngoại đã ghi lại nỗi đau thương vào một nền nghệ thuật đầy những nạng chống và băng bột. Và trong những năm như thế, nhiều nghệ sĩ bỗng nhiên biến mất trên cõi đời này. Nhiều nghệ sĩ không chết trong những vụ ám sát chấn động dư luận, mà chỉ đơn thuần “biến mất” tại các trạm lính chận kiểm soát hoặc trong những đợt pháo kích vào các khu dân cư. Nghệ thuật cũng phải gánh chịu những “cái chết mang tính biểu tượng” – sự tàn phá Nhà hát Piccadilly Theatre cùng nạn cướp bóc vô số xưởng vẽ và phòng tranh tư nhân, những sự kiện đã xóa sổ hàng thập niên lịch sử nghệ thuật thị giác.

Đối với nhiều nghệ sĩ Lebanon, nghệ thuật không đơn thuần là một sự theo đuổi về mặt thẩm mỹ, mà còn là một phương tiện thiết yếu để kiến ​​tạo hòa bình, phản biện xã hội, cũng như gìn giữ ký ức tập thể – thứ mà chiến tranh thường tìm cách xóa nhòa.

Một nhân chứng chiến tranh nổi bật là họa sĩ Nabil Kanso (1940–2019). Có lẽ rất ít nghệ sĩ nào lột tả sự tàn bạo trần trụi của xung đột một cách đầy ám ảnh và đau đớn như Kanso. Loạt tác phẩm đồ sộ của ông, The Split of Life (Sự chia cắt của Cuộc sống), bao gồm hơn 80 bức tranh sơn dầu khổ lớn (tương đương tranh tường), được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1974 đến 1994. Kanso đã sử dụng phong cách “tân biểu hiện” (neo-expressionist) – với những gam màu cam rực rỡ, đỏ thẫm và đen hỗn loạn – để khắc họa nỗi thống khổ của cuộc Nội chiến Lebanon. Tranh của ông không phải để tôn vinh chiến trận, mà là khơi dậy một “lời hiệu triệu mới cho sự thức tỉnh”, biến tranh thành một lời tự vấn đạo đức nhằm đòi hỏi hòa bình.

Theo Wikipedia, họa sĩ Nabil Kanso sinh tại Beirut, Lebanon vào ngày 26/9/1940; ông là người con thứ sáu trong gia đình có tám người con của ông bà Melhem Kanso và Munira Saab. Cha ông là một thương nhân buôn bán vải lanh thành đạt đến từ vùng Mukhtara. Năm 1958, khủng hoảng chính trị tại Lebanon đã buộc trường học của ông đóng cửa, và Kanso rời khỏi đất nước này. Ông theo học tại Trường Bách khoa Regent Street, và sau khi tốt nghiệp, ông chuyển đến Thành phố New York. Năm 1966, ông nhập học tại Đại học New York (NYU), nơi ông học lịch sử nghệ thuật, triết học và khoa học chính trị; ông nhận bằng Thạc sĩ (M.A.) năm 1971. Ông bắt đầu cầm cọ vẽ từ năm 1967. Các nhà phê bình nghệ thuật thường liên hệ những chủ đề mang tính tận thế xuất hiện trong các tác phẩm của Kanso với cuộc Nội chiến Lebanon.

Các tranh về đề tài Kuwait của ông vẽ hình ảnh các phụ nữ đau khổ khi mất con, trở thành những nạn nhân của chiến tranh. Một số nhà phê bình nhận định rằng chủ đề tình mẫu tử đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các tác phẩm về phụ nữ của Kanso; người xem có thể bắt gặp hình ảnh những người mẹ trong khoảnh khắc sinh nở, cũng như trong khoảnh khắc cái chết ập đến khi họ vẫn đang ôm chặt những đứa con trong vòng tay. Những song sắt – ​​chi tiết thường xuyên lặp lại từ tác phẩm này sang tác phẩm khác — đôi khi được đặt ngay tại cửa mình của người phụ nữ. Màu xanh lá cây gần như vắng bóng trong các tác phẩm của Kanso được xem là một dấu ấn cho thấy sự phê phán của ông đối với vấn nạn hủy hoại môi trường. Chẳng gì có thể sinh sôi nảy nở giữa thời chiến. Thịt xương dường như hiện diện khắp chốn. Nước sinh ra chỉ để nhấn chìm, hoặc để đóng băng. Những cột băng trông tựa như những chiếc chân côn trùng đầy lông lá, hay những cuộn dây thép gai. Bầu trời – vốn hiếm khi được nhìn thấy – thỉnh thoảng lại hé lộ thoáng qua hình bóng của những bậc tiền nhân, tựa như những bóng ma xanh nhạt đang dõi mắt nhìn xuống hậu thế.

Họa sĩ Ayman Baalbaki (sinh năm 1975) cũng có nét vẽ nhân chứng chiến tranh. Baalbaki tập trung vẽ những tàn tích sau trận bom từ các cuộc giao chiến. Ông nổi danh với các tranh vẽ các tòa nhà đổ nát cùng những nhân vật đội khăn kaffiyeh. Thông qua việc tái hiện những “đài tưởng niệm của sự mất mát” này, Baalbaki buộc người xem phải đối diện với tình trạng ly tán xã hội do chiến tranh gây ra, nét vẽ là một lời kêu gọi hòa bình và công bằng xã hội cho người chết và những người lưu vonTrong cuộc phỏng vấn của tạp chí Lebanon Traveler ngày 4/4/2022, họa sĩ Ayman Baalbaki được hỏi “Lớn lên trong cuộc nội chiến tại Lebanon đã ảnh hưởng như thế nào đến các tranh vẽ của ông?” đã trả lời:

Việc tôi chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến là điều tất yếu, bởi lẽ gia đình tôi sinh sống ngay trên “ranh giới xanh” (Green Line). Thư viện của cha tôi chứa đầy những cuốn sách về chính trị và nghệ thuật; và mọi cuộc trò chuyện của ông với bạn hữu cũng đều xoay quanh hai chủ đề này. Điều đó đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc và bền vững. Cuộc chiến khép lại vào năm 1989 với Hiệp ước Ta’if, và đến năm 1991, một đạo luật ân xá đã được ban hành để miễn trừ mọi tội danh chính trị xảy ra trước thời điểm đó. Người ta ra sức xóa bỏ mọi dấu vết  chiến tranh: những tòa nhà chằng chịt vết đạn ở khu trung tâm Beirut bị xe ủi san phẳng hoàn toàn, còn thân nhân của người mất tích thì buộc phải chính thức từ bỏ quyền đòi hỏi thông tin về người thân của mình. Cho đến tận ngày nay, vẫn chưa hề có một bản tường thuật chính thức nào về những gì đã thực sự diễn ra trong suốt thời kỳ chiến tranh. Tất cả những điều này, đối với tôi—cũng như đối với những người từng trực tiếp nếm trải nỗi đau thương và chứng kiến ​​những cuộc thảm sát ấy—chẳng khác nào một sự khiêu khích. Chính điều đó đã thôi thúc tôi—cùng với biết bao nghệ sĩ và văn sĩ khác thuộc thế hệ mình—thực hiện một “bổn phận ghi nhớ”, nhằm kiến ​​tạo sự hòa giải với lịch sử thông qua một sứ mệnh lưu trữ đầy trách nhiệm.”

Dùng nghệ thuật để hàn gắn, chữa lành nổi bật có nhà thơ và là họa sĩ Etel Adnan (1925–2021). Là một người đa tài, luôn chuyển mình giữa hội họa và thi ca, bà Adnan tin rằng: “Nếu tôi khẳng định sự sống và vẻ đẹp của thế giới, thì tôi càng trở nên gần gũi hơn với những người chủ trương hòa bình.” Những bức tranh phong cảnh trừu tượng nhỏ nhắn, rực rỡ sắc màu của bà – thường lấy núi Tamalpais làm chủ đề – chính là những lời phản kháng thầm lặng chống lại sự hỗn loạn của chính trị. Đối với Adnan, màu sắc là một ngôn ngữ của hòa bình, có khả năng vượt qua mọi biên giới và sự chia rẽ phe phái.

Theo Wikipedia, bà Etel Adnan sinh năm 1925 tại Beirut, Lebanon. Mẹ của Adnan, bà Rose “Lily” Lacorte, là người Hy Lạp Chính thống giáo đến từ Smyrna; còn cha bà, ông Assaf Kadri, là một người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi giáo Sunni và là một sĩ quan cấp cao của Đế chế Ottoman, sinh ra tại Damascus thuộc vùng Syria dưới quyền cai trị của Ottoman.

Những tác phẩm trừu tượng đầu tay của bà Adnan được sáng tác bằng cách dùng dao để phết sơn dầu lên canvas. Trọng tâm bố cục thường là một hình vuông màu đỏ; bà đặc biệt quan tâm đến “vẻ đẹp tức thời của màu sắc”. Adnan từng nhắc đến họa sĩ Paul Klee (1879–1940) như một người có ảnh hưởng quan trọng đối với nét vẽ thời kỳ đầu của bà. Khi nói về Klee, bà nhận định: “Klee thuộc về dòng dõi những thiên tài mà đối với họ, bất kỳ một danh xưng đơn lẻ nào – dù là ‘họa sĩ’, ‘nhạc sĩ’ hay ‘kiến trúc sư’ – đều trở nên quá chật hẹp. Mỗi bức tranh của Klee tựa như một hành trình khám phá, được hiện thực hóa thông qua một quá trình tìm tòi, tựa như một con thuyền đang lênh đênh giữa đại dương bao la.”

Vào thập niên 1960s, bà bắt đầu ghép nghệ thuật thư pháp Ả Rập vào các tác phẩm nghệ thuật cũng như các cuốn sách của mình – điển hình là bộ sách Livres d’Artistes [Sách Nghệ sĩ]. Bà kể lại rằng mình từng ngồi hàng giờ liền để chép lại các từ ngữ từ một cuốn ngữ pháp tiếng Ả Rập, mà không hề cố gắng tìm hiểu ý nghĩa thực sự của những từ đó.

Etel Adnan cũng là nhà thơ nổi tiếng, với nhiều bài về chiến tranh ở Lebanon. Trong bài thơ tựa đề XXXIX from The Arab Apocalypse của Etel Adnan, chúng ta trích một đoạn như sau:

Khi kẻ sống thối rữa trên thân xác kẻ chết

Khi răng của các chiến binh hóa thành dao bén

Khi chữ mất đi ý nghĩa và biến thành độc dược thạch tín

Khi móng tay kẻ xâm lược hóa thành vuốt nhọn

Khi những bạn cũ vội vã lao vào cuộc tàn sát

Khi ánh mắt kẻ chiến thắng hóa thành các quả đạn pháo đang nổ

Khi hàng giáo sĩ cầm búa lên và đóng đinh kẻ khác

Khi các quan chức mở toang cửa đón kẻ thù

Khi bước chân của dân miền núi nặng trĩu tựa voi rừng

Khi hoa hồng chỉ còn mọc nơi nghĩa địa

Khi chúng ăn gan người Palestine ngay cả khi các anh chưa trút hơi thở cuối cùng

Khi chính mặt trời cũng chẳng còn mục đích nào khác ngoài việc trở thành một tấm vải liệm

thì dòng thác nhân loại vẫn cứ tiếp bước…

(ngưng trích)

Để có thể hình dung nỗi đau đớn trong các cuộc nội chiến ở ebanon, chúng ta có thể nói về nhà thơ Khalil Hawi (1919-1982): ba ngày sau khi chứng kiến quân Israel xâm lược Lebanon và sự bất lực của thế giới Ả Rập, nhà thơ đã tự sát ngay trên ban công nhà mình tại Beirut như một lời phản kháng cuối cùng đầy bi tráng.

Wikipedia ghi rằng Khalil Hawi lớn lên tại Shwayr, Lebanon. Ông học triết học và văn học Ả Rập tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut (AUB), nơi ông nhận bằng Nghệ thuật vào năm 1955. Sau vài năm giảng dạy, ông nhận được học bổng để theo học tại Đại học Cambridge (Anh), và tại đây ông được trao bằng Tiến sĩ vào năm 1959. Sau đó, ông trở thành giáo sư văn học Ả Rập tại Đại học Hoa Kỳ ở Beirut. Thơ của ông sử dụng đậm đặc các biểu tượng, ẩn dụ và hình ảnh, đồng thời thường mang những âm hưởng chính trị và xã hội sâu sắc. Là một người theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập từ tận đáy lòng, ông nhiều lần bày tỏ nỗi hổ thẹn và sự phẫn nộ trước việc đánh mất Palestine vào năm 1948, cũng như trước những thất bại liên tiếp của khối Ả Rập dưới tay Israel sau đó. Ông vô cùng phẫn nộ khi Lebanon bất lực trong việc chống trả quân đội Israel tới xâm lược vào ngày 3 tháng 6/1982. Ông đã tự kết liễu đời mình vào ngày 6 tháng 6 năm 1982.

Một bài thơ Khalil Hawi để lại có tựa đề Lebanon và chỉ vài dòng:

Chúng ta như các bức tường đối diện nhau

Thật đau đớn khi cất lời

Thật đau đớn khi cảm nhận cách xa

Nghẹt thở giữa bi kịch

Thật đau đớn khi cất lời.

  

Họa sĩ Nabil Kanso trước tấm tranh của ông để kêu gọi hòa bình. (Photo: Wikipedia)

Họa sĩ Ayman Baalbaki ngồi trước tranh của ông (Photo: Tạp chí Lebanon Traveler)

Tranh của Etel Adnan, chi tiết từ ‘Explosion Florale’. (Photo: báo KQED của thông tấn PBS. Nguồn hình từ chính họa sĩ Adnan và bảo tàng Sfeir-Semler Gallery ở Beirut)

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.