Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng
THÀNH CỔ CỘT CỜ
Sống trong thành cổ những tháng ngày trước chiến tranh, bình yên, thong thả và đi lại khá thoải mái trong thênh thang cho tôi cơ hội đến được nhiều ngóc ngách thành cổ. Làm việc theo ca kíp bảo đảm thông tin 24/24. Giữa hai ca làm việc cho tôi thời gian vào thư viện Quân Đội trên gác hai toà nhà câu lạc bộ Quân Nhân ở khoảng giữa sân vận động Cột Cờ và đường Hoàng Diệu, lục tìm đọc tất cả sách viết về Hà Nội. Từ sách kí sự lịch sử xưa cũ như Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái, Thượng Kinh Kí Sự của Lê Hữu Trác, Vũ Trung Tuỳ Bút của Phạm Đình Hổ,… Rồi kí sự về chiến tranh cách mạng như Hà Nội 60 Ngày Đêm Khói Lửa của Vương Thừa Vũ. Đến tiểu thuyết hiện đại Trong Lòng Hà Nội của Hà Minh Tuân, Sống Mãi Với Thủ Đô của Nguyễn Huy Tưởng,… Cả sách được sở Văn Hoá Hà Nội in ấn phát hành cho riêng Hà Nội như Ca Dao Tục Ngữ Hà Nội, không nhớ tác giả, Đường Phố Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá,… Sau này cuốn Đường Phố Hà Nội mới được nhà xuất bản Hà Nội xuất bản và phát hành rộng rãi cả nước.
Chân bước dọc ngang trong không gian đất cổ kinh kì, hồn theo trang sách ngược xuôi trong thời gian quá vãng Hà Nội cho tôi thấy không phải chỉ “đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt” như nỗi hoài cổ Thăng Long của Bà Huyện Thanh Quan mà từ không khí, từ ngọn gió, từ hơi may, từ ngọn cỏ… cũng bền bỉ đoạn trường cho tôi cảm nhận được cả hồn thu thảo kinh kì.
Thành cổ Hà Nội là đại bản doanh Bộ Tổng Tư Lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam được giới hạn bởi năm đường phố bao quanh. Sài Gòn không gọi phố. Tất cả đều là đường. Hà Nội phân biệt rạch ròi đường và phố. Con đường trong đô thị, nhà cửa hai bên có hoạt động kinh doanh và sinh hoạt dân cư thì được gọi là phố. Nơi chủ yếu chỉ để dòng người và xe lưu thông dù có nhà cửa hai bên nhưng chỉ là công sở hành chính uy nghiêm, lặng lẽ, chỉ là biệt thự kín cổng cao tường, không có hoạt động kinh doanh kẻ chợ thì chỉ là đường. Có kinh doanh buôn bán, có sinh hoạt dân cư nhưng là dòng chảy giao thông dẫn ra khỏi thành phố, nối với những ngả đường xa thì cũng là đuòng.
Thời tôi ở trong thành cổ Cột Cờ, bao quanh thành cổ dù là năm phố Tây sang trọng bậc nhất Hà Nội nhưng chỉ có những biệt thự im lìm, trầm lắng, không kinh doanh buôn bán, không sinh hoạt dân cư nhộn nhịp của đô thị nên chỉ là năm con đường. Sau mấy chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, đời sống kinh tế bị hành chính hoá, kế hoạch hoá, duy ý chí, xa rời thực tế cuộc sống dẫn đến tận cùng nghèo đói, tận cùng sự chịu đựng của người dân, buộc phải trở lại dòng chảy kinh tế thị trường của đời sống tự nhiên, kinh doanh nở rộ. Nhiều nhà trên ba đường quanh thành cổ mở tiệm buôn bán, mở văn phòng công ty, ba đường im lìm trở thành phố tấp nập kinh doanh, dập dìu buôn bán là phố Phan Đình Phùng, phố Lý Nam Đế, phố Trần Phú.
Phía tây thành cổ là đường đôi Hoàng Diệu với ba hàng xà cừ cổ thụ vạm vỡ chia con đường thành hai dòng lưu thông từ sáng đến chiều tối lúc nào cũng rợp mát bóng xà cừ sum suê. Thành cổ phía Tây chỉ còn một đoạn tường cổ rêu phong với cổng cửa Tây cuốn vòm tò vò bên trên có ba lớp mái cong. Bên kia đường là những tòa biệt thự hai tầng, ba tầng trầm tư giữa vườn cây cổ thụ của kiến trúc Pháp tinh tế và lịch lãm, uyển chuyển và hài hoà với thiên nhiên. Con đường có từ trước thời nhà Nguyễn, chạy dọc phía ngoài tường thành hoàng cung phía Tây. Còn đường chạy bên ngoài tường thành hoàng cung phía Đông nay là đường Nguyễn Tri Phương nối cổng Cửa Nam với cổng Cửa Bắc thành cổ.
Chiếm được Hà Nội năm 1886, Pháp phá lầu son gác tía trong hoàng thành, xây trại lính. Vì vậy nay tường thành phía Tây chỉ còn một đoạn tường cổ cùng cổng cuốn vòm Cửa Tây, còn lại là tường mới xây thời Phát thuộc. Trong thành, sau đoạn tường cố còn lại là điện Kính Thiên, nơi vua thiết triều, Pháp cũng san bằng và xây trên nền cao điện Kính Thiên sở chỉ huy pháo binh Pháp. Nay điện Kính Thiên chỉ còn chín bậc thềm đá xanh nguyên khối. Bốn con rồng đá, chia thềm đá thành ba lối lên. Lối giữa dành cho vua. Lối hai bên dành cho quan. Mỗi rồng đá dài 5 mét mang nét đặc trưng của rồng thời Lê. Toà nhà hai tầng Pháp xây trên nền điện Kính Thiên nay là cơ quan đầu não của Bộ Tổng Tư Lệnh, nơi làm việc của Tổng Tư Lệnh, Bộ Tổng Tham Mưu và cục Tác Chiến.
Làm chủ Hà Nội, Pháp lấy tên nhà văn Victor Hugo gọi tên đường phía Tây thành cổ. Năm 1934, toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier chết trong tai nạn máy bay, Pháp liền lấy tên quan cai trị Đông Dương Pierre Pasquier thay tên nhà văn Victor Hugo. Tháng chín, 1945, khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Hồ Chí Minh liền giao cho một trí thức Hà Nội, bác sĩ Trần Duy Hưng làm thị trưởng thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Vị bác sĩ quê gốc làng Canh Diễn ngoại thành Hà Nội và sinh ra ở phố Hàng Bông – Thợ Nhuộm trung tâm thủ đô, hiểu rõ cội nguồn, sự kiện từng con đường, từng hồ nước Hà Nội. Con đường mang tên Pierre Pasquier ngang qua trước cổng Cửa Tây thành cổ nơi quân Pháp phá được tường thành, tràn vào chiếm điện Kính Thiên cũng ngang qua Võ Miếu nơi Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Hà Nội mất vào tay quân Pháp. Thị trưởng Trần Duy Hưng liền lấy tên vị Tổng đốc trung trinh với nước, trung trinh với Hà Nội, lấy tên vị Tổng đốc quê Quảng Nam nhưng gửi hồn ở góc thành cổ Hà Nội thay cho tên quan cai trị Pierre Pasquier. Tên đường Hoàng Diệu có từ đó cho đến nay.
Trong năm tên đường bao quanh thành cổ Hà Nội thì hai tên đường mang hồn kinh thành Hà Nội, mang giá trị lớn lao và linh thiêng nhất của lịch sử kinh thành Hà Nội là Hoàng Diệu và Cột Cờ nay chỉ còn tên đường Hoàng Diệu. Đường Cột Cờ đã bị quyền lực chính trị công nông, hẹp hòi và nông cạn, chỉ biết đến lịch sử chiến tranh cách mạng vừa diễn ra mà không biết đến lịch sử sâu thẳm và linh thiêng của mảnh đất kinh kì Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, chỉ biết ngạo nghễ tự hào về những chiến công được khuếch đại của đội quân công nông mà không biết đến bề dày tinh hoa văn hoá Việt Nam và hào quang lấp lánh của mảnh đất kinh kì đã đổi tên đường Cột Cờ thành đường Điện Biên Phủ! Đoạn sau tôi sẽ kể về buổi chiều buồn tên Cột Cờ bị xoá bỏ thay bằng tên Điện Biên Phủ.
Phía Bắc là đường Phan Đình Phùng với ba hàng sấu cổ thụ. Đường Phan Đình Phùng chỉ một dòng người, xe xuôi ngược lưu thông nhưng có ba hàng sấu vạm vỡ, vòm lá quanh năm rậm rì xum xuê tạo ra vòm xanh như động ngàn xưa dẫn về thời tiền sử vì phía bên kia thành cổ, trước những biệt thự trầm tư mang số nhà chẵn, vỉa hè rộng cả chục mét có tới hai hàng sấu. Sấu cũng như xà cừ không thay lá theo mùa mà lác đác thay lá quanh năm. Cuối thu, hơi may xao xác vòm trời, xao xác trong lòng người như cũng xao xác cả vòm sấu, lá sấu xao xác rụng nhiều hơn. Ngọn gió heo may lùa vào vòm lá trên cao, bứt những chiếc lá sấu vàng hoe trải kín mặt đường. Những lá sấu rụng nhuộm vàng cả con đường, run rảy lay động trong hơi may. Bất chợt ngọn gió heo may thoảng đến. Những mảnh vàng mùa thu xao xác lùa theo ngọn gió làm xao xác cả hồn người. Mùa thu Hà Nội đấy. Tháng mười, người Hà Nội dập dìu tìm đến đường Phan Đình Phùng để thấy, để cảm, để chạm tay vào mùa thu Hà Nội, để hồn người giao hoà với hồn thu Hà Nội.
Cũng như xà cừ, lá sấu có màu xanh lâu bền, có sức sống mạnh mẽ, quanh năm rậm rì, xanh tươi. Sấu xanh bền bỉ đưa đường Phan Đình Phùng vào thăm thẳm. Xà cừ rậm rạp đưa đường Hoàng Diệu vào quá vãng xa xưa. Đường Phan Đình Phùng và đường Hoàng Diệu là hai con đường có tán cây quanh năm rậm rạp, râm mát nhất Hà Nội và cũng mang nét sang trọng cổ điến nhất Hà Nội. Thời kinh thành Đông Đô nhà Lê và thành Hà Nội nhà Nguyễn, đường Phan Đình Phùng là hào sâu và một đoạn sông Tô Lịch lượn sát mé ngoài bức tường phía Bắc kinh thành Thăng Long. Đường phố Phan Đình Phùng hình thành thời Pháp thuộc và có tên Pháp là boulevard Carnot. Con đường, vỉa hè, hàng cây, biệt thự hai bên đường Phan Đình Phùng mang phong cách kiến trúc Pháp đậm đặc nhất và mang nét đẹp cổ điển nhất Hà Nội.
Phía đông là đường Lý Nam Đế với những tòa nhà âm thầm sau bức tường dài và cánh cổng sắt lúc nào cũng khép im lìm là các cơ quan quân sự, là nhà riêng các vị tướng cùng những khu gia đình sĩ quan cấp tá. Trụ sở các cơ quan văn hoá văn nghệ quân đội trực thuộc Tổng cục Chính trị đều trên đường Lý Nam Đế. Nhà số 2 là báo Ảnh Quân Đội. Nhà số 4 là tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, nơi đã mở ra con đường văn chương cho tôi hăm hở và miệt mài bước vào khi Văn Nghệ Quân Đội đăng truyện ngắn đầu tiên của tôi trong số tạp chí tháng sáu, năm 1967. Nhà số 8, báo Quân Đội. Bảng tên báo Quân Đội Nhân Dân treo ở toà nhà số 7 Phan Đình Phùng, góc Lý Nam Đế nhưng ở đó chỉ là văn phòng hành chính, trị sự. Cả ban biên tập báo làm việc ở toà nhà ba tầng số 8 Lý Nam Đế.
Thời là lính thông tin ở trong thành cổ, rồi là sĩ quan ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và Xưởng Phim Quân Đội ở ngay phố Lý Nam Đế, thường xuyên có bài đăng báo Quân Đội, tôi cũng thường xuyên lui tới nhà số 8. Đến phòng Văn Nghệ gặp những tên tuổi: nhà thơ Xuân Miễn trưởng phòng và các nhà báo Dân Hồng, Khánh Vân, Linh Cảm. Đến phòng chính trị, phòng quân sự gặp những nhà báo thế hệ đầu tiên của quân đội là những học sinh, sinh viên của nền giáo dục Pháp, xếp bút nghiên đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp trở thành nhà báo quân đội: Vũ Quế, Vũ Hồ, Trần Ngọc, Đỗ Trí, Bùi Biên Thuỳ, Hàn Thuỵ Vũ, Phạm Phú Bằng, Tô Ân . . . những tên tuổi đó đều làm việc trên gác hai toà nhà số 8. Nhà báo quân đội, đại tá Bùi Tín trước khi chuyển ra dân sự làm phó tổng biên tập báo Nhân Dân rồi sang Pháp định cư cũng làm việc nhiều năm ở gác hai toà nhà này.
Nhà 17, Xưởng Phim Quân Đội, nơi tôi làm việc mười năm. Nhà 23, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân, nơi đã xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên của tôi vào năm 1981, tập truyện ngắn Rừng Và Biển. Nhà 25, Tòa Án Quân Sự trung ương. Tôi có dịp được nhiều lần ra vào rất nhiều toà nhà ở phố Lý Nam Đế, từ nhà số 4 tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đến nhà 83 thư viện Quân Đội và rất may mắn là chưa một lần phải bước vào cổng toà nhà mang số 25, Toá Án Quân Sự này. Nhà 37 gồm hai dãy nhà hai tầng, dãy mặt phố và dãy sâu phía trong sau mảnh sân là khu gia đình sĩ quan quân đội, nơi có gia đinh một nhân cách lớn, một tâm hồn đẹp, đại tá Phạm Quế Dương, người đánh thức hồn tự do, dân chủ trong tôi.
Đường Lý Nam Đế ra đời trên nền móng bức tường phía Đông thành cố Hà Nội. Những biệt thự, những toà nhà hai tầng Pháp xây từ trăm năm trước hai bên đường Lý Nam Đế đều trên vệt móng tường thành, đều có vẻ đẹp nền nã, dung dị, kín đáo và tinh tế của kiến trúc cổ điển Pháp, không đồ sộ, ngạo nghễ, phô trương, chỉ người tinh tế mới nhận ra vẻ đẹp lịch lãm quí tộc của những biệt thự đó. Kiến trúc cổ điển Pháp, duyên dáng, tinh tế và hài hoà với thiên nhiên, điểm xuyết cho thiên nhiên rất gần gũi với kiến trúc phố thị và đình chùa cổ điển Việt Nam. Nhưng những biệt thự duyên dáng Pháp xây đang mất dần, có còn cũng bị biến dạng và khuất lấp sau những toà nhà kệch cỡm vênh váo, ngạo nghễ chen lấn nhô ra mặt đường, chênh vênh, ngất ngưởng năm, sáu tầng xây phía trước và len lách xen vào giữa các biệt thự cũ từ khi có nền kinh tế lắp ghép khiên cưỡng, quái dị: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xô bồ, nhốn nháo và chắp vá như những mụn vá tội nghiệp trên tấm áo gấm của thời vàng son xa xưa, những ngôi nhà bon chen, hợm hĩnh mới mọc lên chen chúc trước những biệt thự mang vẻ đẹp cổ điển đã phá nát, xoá mất nét đẹp vừa cổ điển, vừa hiện đại của con đường do lịch sử trầm luân để lại cho Hà Nội, đường Lý Nam Đế.
Khi tôi viết những dòng này, nhiều đường phố Hà Nội mang dáng vẻ tiêu biểu của kiến trúc kinh kì Việt Nam và mang phong cách phong lưu quí tộc của kiến trúc đô thị cổ điển Pháp không còn nữa. Năm 1954, gần nửa dân số Hà Nội ở tầng lớp trên, công chức, tư sản, trí thức, những người có đời sống kinh tế dư dả, có vốn trí tuệ sâu rộng và có đời sống tâm hồn tinh tế mang hồn Hà Nội, mang văn minh công nghiệp và mang văn hoá đô thị sấp ngửa di cư vào Nam, chạy trốn chính quyền công nông, chạy trốn những cuộc cải cách tước đoạt mạng sống người dân như cải cách ruộng đất, chạy trốn những cuộc cải tạo cướp đoạt tài sản người dân như cải tạo tư sản. Từ đó, suốt mấy chục năm, ồ ạt nhất là sau 1975, lớp lớp bần cố nông nghèo khổ đi theo cách mạng vô sản chỉ để thoát kiếp nghèo đói và trở thành cốt cán của cách mạng vô sản từ miền Trung đất cày lên sỏi đá và hầm hập gió Lào khô kiệt sự sống, từ rừng xanh núi đỏ Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên tràn vào làm chủ Hà Nội đã giáng cho những đường phố sang trọng quí phái Hà Nội một đòn chí tử. Và phố Lý Nam Đế vừa mang nét đẹp kiêu sa kinh kì vừa mang vẻ lịch lãm phố Tây bị giáng đòn nặng nề nhất.
Phố Lý Nam Đế với những biệt thự chỉ hai, ba tầng xinh xắn, duyên dáng của kiến trúc Pháp giữa thảm cỏ và vườn cây, sau bức tường thấp với hàng song sắt, song bê tông thông thoáng. Trước năm 1954, chủ sở hữu những ngôi biệt thự đó đều là những sĩ quan cấp tá của đội quân Pháp chiếm đóng Hà Nội. Từ khi thành cổ Cột Cờ trở thành đại bản doanh bộ Tổng Tư Lệnh quân đội công nông, một trong hai công cụ bạo lực nhà nước của đảng cộng sản, biệt thự trên những phố bao quanh thành cổ được cấp cho một hoặc hai ông tướng, tuỳ biệt thự lớn nhỏ. Thảm cỏ và cây xanh trong khuôn viên biệt thự đường Lý Nam Đế bị phân lô, chia nền, mỗi nền chỉ bốn, năm chục mét vuông, cấp cho các ông đại tá xuất thân từ nông dân nay trong biên chế bộ Tổng Tư Lệnh. Những ông sĩ quan nông dân chủ những lô đất vài chục mét vuông liền hối hả xây lên những ngôi nhà nhỏ hẹp và cao ngất ngưởng năm, sáu tầng chen chúc nhau, nhô ra mặt phố, ban công trên cao ôm cả cành nhánh xà cừ cổ thụ. Tầng trệt cho dân buôn bán thuê mở tiệm kinh doanh. Phố thủ đô sang trọng Lý Nam Đế của thành cổ Hà Nội trở thành phố chợ nhốn nháo, thành chốn bon chen, xô bồ. Một không gian cổ điển kinh kì vĩnh viễn mất đi, thay bằng một không gian phố huyện, một thẩm mĩ phố huyện.
Thời là lính thông tin bảo đảm thông tin chỉ huy cho Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi ở trong thành cổ Cột Cờ. Sau chiến tranh, từ mặt trận Tây Nguyên sống sót trở về trong biên chế tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và đi học trường viết văn Nguyễn Du rồi tham gia viết bộ kí sự lịch sử quân sự tôi ở Vân Hồ Ba, cạnh hồ Bảy Mẫu. Về làm biên kịch Xưởng Phìm Quân Đội, tôi về ở một khoang nhỏ của dãy nhà mái tôn, cột thép, tường xây, dài như một đoàn xe lửa trong cơ quan xưởng Phim, 17 Lý Nam Đế. Đây là nhà lính Pháp cùng tuổi đời với toà nhà trong thành cổ tôi đã ở thời là lính thông tin. Thời Hà Nội trở thành chiến trường của cuộc chiến tranh giữa đất và trời, Xưởng Phim Quân Đội phải rời khỏi phố nhà binh Lý Nam Đế sơ tán ra ngoại thành thì dãy nhà dài như đoàn xe lửa ngăn ra nhiều gian trở thành trại giam phi công Mỹ sống sót từ những chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc. Nhà 17 Lý Nam Đế cách đầu phía nam cầu Long Biên chỉ hơn trăm mét. Có phải những người làm chiến tranh phía Việt Nam đưa mạng sống phi công Mỹ đến sát đầu cầu để người Mỹ chùn tay huỷ diệt cây cầu yết hầu của thủ đô Hà Nội? Cuối thế kỉ hai mươi tôi đã ở mười năm trong dãy nhà mái tôn, cột thép, dài như đoàn xe lửa có tuổi đời cả thế kỉ mà đầu thế kỉ hai mươi lính Pháp đã ở và giữa thế kỉ hai mươi phi công Mỹ đã tá túc.
Dù ở Vân Hồ Ba hay Lý Nam Đế chúng tôi vẫn thường xuyên ra vào cổng Cửa Đông ở khoảng giữa đường Lý Nam Đế, vào Tổng cục Chính Trị trong thành cổ tham dự những cuộc họp, những đợt học nghị quyết, những lớp học chính trị. Dịp nghỉ lễ, nghỉ tết trên hai, ba ngày thì cắt cơm ở bếp xưởng Phim, nhận số gạo những ngày cắt cơm, nhận cân thịt, gói trà, bao thuốc là hương hoa ngày lễ, ngày tết ngoài tiêu chuẩn tem phiếu, tay xách nách mang vào mảnh sân xi măng phía sau cơ quan Tổng Cục Chính Trị đi xe tuyến, những tuyến xe do phòng Hậu cần – Kinh tế Tổng Cục Chính Trị tổ chức đưa những cán bộ không có gia đình ở Hà Nội về quê trong mấy ngày nghỉ.
Ngay trước cổng Cửa Đông là nhà 61 phố Cửa Đông, một cơ sở của cục Quân Nhu, Tổng Cục Hậu Cần. Lễ phục của sĩ quan trung, cao cấp được cắt may theo số đo. Tôi đã nhiều lần đến 61 Cửa Đông góc đường Lý Nam Đế để người ở đó lấy số đo may lễ phục cho tôi.
Những năm tháng dài ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và Xưởng Phim Quân đội cho tôi sự gắn bó, thân thuộc, để lại trong tôi kí ức không phai mờ về phố nhà binh Lý Nam Đế như tình cảm, như kí ức tôi đã có với hai con đường trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây trong thành cố Hà Nội.
Trước năm 1975, ngoài những biệt thự cấp cho những ông tướng Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Mậu, Lê Quanh Hoà, đường Lý Nam Đế chỉ có hai khu gia đình sĩ quan mang số 16 và số 37. Những ngôi nhà hai tầng và những dãy nhà một tầng ngăn ra nhiều gian có chung một cổng mang số 16 sát cổng cửa Đông thành cố. Mỗi gia đình sĩ quan chỉ được cấp một gian trên dưới hai mươi mét vuông trong những ngôi nhà đó. Thời chiến tranh nghèo khổ, từ cái kim, sợi chỉ đều phải mua phân phối theo định mức nhỏ giọt. Chẳng nhà nào có nhiều của nả. Có gian nhà vài mét vuông đã là may mắn, hạnh phúc lớn, đã sung sướng, thoả mãn rồi. Không ai thấy chật chội. Không ai thấy cần mở rộng diện tích gian nhà đã quá hạnh phúc, quá mãn nguyện. Nhưng sau 1975, nhất là sau đổi mới, đời sống xã hội đi vào kinh tế thị trường, gian nhà trên dưới hai chục mét vuông xây mộc mạc, đơn sơ vừa không tương xứng với những tiện nghi hiện đại, vừa không đủ sức chứa những tiện nghi sang trọng ngày càng nhiều. Gian nhà trở thành tấm áo quá chật với một cơ thể đang phát phì. Thế là diễn ra hai bước mở rộng không gian riêng tư ở những khu tập thể nhà binh. Bước đầu tiên là cơi nới mở rộng không gian sống, lấn chiếm những khe, những mảnh đất trống cạnh nhà. Bước tiếp theo là đập bỏ gian nhà cấp bốn chật chội, xây lên toà nhà ngất ngưởng bốn năm tầng lầu. Hai dãy nhà hai tầng số 37 thời Pháp xây kiên cố không thể đập bỏ, chỉ có cơi nới. Dãy nhà trệt cấp bốn số 16 thì rầm rộ phá cũ, xây mới.
Phụ trách lớp nhà văn quân đội đi học trường viết văn Nguyễn Du là nhà văn Hồ Phương và nhà văn Xuân Thiều lúc đó mang hàm trung tá. Lớp nhà văn quân đội duy nhất được Tổng Cục Chính Trị tập hợp, quản lí gửi đi học trường viết văn Nguyễn Du kết thúc khoá học, được biên chế về các cơ quan văn học nghệ thuật quân đội, hai nhà văn Hồ Phương và Xuân Thiều trở về làm phó chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội do đại tá, nhà văn Dũng Hà tên khai sinh là Phạm Điệng là chủ nhiệm. Mấy năm sau, nhà văn Dũng Hà, nhà văn Hồ Phương có hàm thiếu tướng, nhà văn Xuân Thiều có hàm đại tá. Gia đình nhà văn Hồ Phương ở 15 phố Văn Miếu. Khi lên tướng, ông được cấp một biệt thự xinh xắn, riêng biệt trong khu gia binh Nam Đồng phố Tây Sơn, nay là nhà 57 ngõ 119 phố Hồ Dắc Di, quận Đống Đa. Gia đình nhà văn Xuân Thiều ở gian nhà mặt tiền đường Lý Nam Đế mang số 16 liền nâng cấp lên nhà tầng.
Vì đã thường gặp gỡ, chuyện trò ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, số 4 Lý Nam Đế, tôi rất ít đến nhà riêng nhà văn Xuân Thiều nhưng lại thường xuyên ra vào cổng khu gia binh 16 Lý Nam Đế, đến nhà anh chị Ngọc Diệp – Khắc Tuế là nghệ sĩ thuộc thế hệ đầu tiên của đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị, đến nhà vợ chồng cô du kích Thái Binh trong kháng chiến chống Pháp trở thành anh hùng quân đội Nguyễn Thị Chiên, chồng là trung tá Vũ Anh Tài, phó giám đốc bảo tàng Quân Đội.
Bên kia đường, chếch trước cổng nhà 16 là hai lớp nhà hai tầng đi chung một cổng số 37. Người lính lớn hơn tôi cả cuộc kháng chiến chống Pháp và vô cùng thân thiết với tôi là đại tá Phạm Quế Dương, Tổng biên tập tạp chí Lịch Sử Quân Sự. Vợ chồng đại tá Phạm Quế Dương và ba cô con gái xinh đẹp ở gian trên gác hai, dãy phía trong nhà 37 do Pháp xây từ trăm năm trước. Ba cô con gái đi lấy chồng, có người theo chồng sang Pháp sinh sống. Gian nhà trở nên quá rộng với cặp vợ chồng già, chẳng cần cơi nới.
Góc Đông Nam thành cố là đường Trần Phú nửa quân sự, nửa dân sự. Thời thành Hà Nội nhà Nguyễn trở về trước, đây là bức tường thành dài tới gần Văn Miếu, có cổng ra vào thành ở góc đường Trần Phú – Cột Cờ, nay là toà nhà của mấy gia đình sĩ quan quân đội cấp tá, trong đó có gia đình đại tá Hoàng Vượng, tân tộc Tày, Phó Tư lệnh binh chủng Thông Tin Liên Lạc.
Sum suê bóng sấu, tĩnh lặng những villa duyên dáng và xinh xắn, con đường dài gần cây số thời Pháp thuộc, người Pháp cắt thành hai đại lộ, đại lộ Galliéni và đại lộ Félix Faure, tiếng Pháp viết là boulevard Galliéni, boulevard Felix Faure. Trước khi rời thủ đô lên chiến khu Việt Bắc kháng chiến chống Pháp, thị trưởng Trần Duy Hưng gộp hai đường Félix Faure và Galliéni thành đường Tôn Thất Thuyết. Hồi Hà Nội bị Pháp trở lại chiếm đóng, đường mang tên Hàm Nghi. Tôn Thất Thuyết hay Hàm Nghi đều là hai cái tên trầm luân của tinh thần yêu nước, của khí phách Việt Nam lẫm liệt chống Pháp xâm lược, đều rất tương xứng với con đường bên thành cổ trầm luân trong lịch sử. Năm 1954, từ rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, thị trưởng Trần Duy Hưng lại huỷ bỏ cái tên đẹp Hàm Nghi, gán cho con đường góc Đông Nam thành cổ một cái tên lạc lõng, bất xứng, đường Trần Phú.
Phía nam thành cổ là đường Cột Cờ. Phân chia theo chủ sở hữu nhà trên đường Cột Cờ thì đường Cột Cờ có hai khu vực. Đầu đường, từ vườn hoa Bách Việt, nơi gặp của các phố Hàng Bông, Tràng Thi, Thợ Nhuộm cũng là nơi khởi đầu đường Cột Cờ. Từ đầu phố đến ngã tư Cột Cờ – Trần Phú là khu dân sự. Nhà thơ Xuân Diệu ở nhà mang số 24 đoạn phố dân sự đó. Từ Trần Phú đến đường Hoàng Diệu là lãnh địa nhà binh với hai khu gia đình quân đội. Lần lượt theo tiệm tiến của số nhà là: Toà nhà gia đình quân đội góc đường Trần Phú – Cột Cờ mang số 28 A. Viện Quân y 354 là một toà nhà hai tầng bề thế ngay mặt đường Cột Cờ nhưng không có số nhà. Tiếp đến lối vào khu gia đình quân đội mang số 28 B. Rồi lần lượt cổng Cửa Nam thành cổ. Viện bảo tàng Quân đội. Tháp Cột Cờ lịch sử. Toà biệt thự hai tầng 28 C góc đường Cột Cờ – Hoàng Diệu là nhà riêng của hai ông tướng chính trị làm công tác đảng trong quân đội. Toà nhà bề thế mặt đường Cột Cờ một thời là viện quân y cấp cơ sở, viện quân y 354. Sau 1975, dù bề thế, toà nhà cũng quá chật chội với viện quân y tương đương bệnh viện cấp quận huyện ở dân sự, viện Quân y 354 chuyển đến khu đất thênh thang, xây cất nguy nga cạnh sân vận động Quần Ngựa.
Năm đường phố bao quanh thành cổ của kinh kì ngàn năm, bốn đường được mang những tên vàng son của lịch sử Việt Nam, tương xứng với thành cổ. Cột Cờ. Hoàng Diệu. Phan Đình Phùng. Lý Nam Đế. Chỉ có con đường trải dài từ góc thành cổ, cuối đường Lý Nam Đế, qua nhiều villa sang trọng của kiến trúc Pháp nay là những tòa đại sứ của nhiều nước trên thế giới mang tên đường Trần Phú, một cái tên lạc lõng không tương xứng với thành cổ, không tương xứng với đường phố trầm tĩnh ở góc thành cổ, không tương xứng với đường phố duyên dáng, thanh lịch của kinh kì Hà Nội.
Có một tên tuổi trong lịch sử Việt Nam là Nguyễn Trường Tộ rất xứng đáng với đường phố đi từ kinh thành cổ đến các toà đại sứ, đi từ phong kiến đến tư bản, đi từ văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp, đi từ dân tộc đến nhân loại mang nét thanh lịch, hào hoa Hà Nội hoà nhập với thế giới. Nhưng Nguyễn Trường Tộ lại là tên một phố ở phía Bắc thành cổ Hà Nội, phố Nguyễn Trường Tộ nối phố Cửa Bắc với hồ Trúc Bạch. Còn đường phố đi từ góc thành cổ đến các toà đại sứ lại mang tên đường Trần Phú, tên một ông cộng sản cuồng tín sắt máu đấu tranh giai cấp. Một con người chỉ có hồn giai cấp, không có hồn dân tộc được nhà độc tài khát máu Stalin tin cậy đưa lên đứng đầu đảng cộng sản Đông Dương nhưng yểu mệnh, chưa có sự nghiệp gì đã chết ở nhà thương Chợ Quán, Sài Gòn vì bệnh lao năm 1931, khi vừa 27 tuổi, khi vừa phát động cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh, kích động hận thù giai cấp sắt máu, tiêu diệt tinh hoa của một vùng Nghệ Tĩnh nhân kiệt: Trí – Phú – Địa – Hào đào tận gốc, trốc tận rễ! Áp đặt cho xã hội Việt Nam một hình mẫu ngoại lai, một nền chuyên chính vô sản tàn bạo, với những tiếng gào thét man rợ: Nước Nga Xô Viết muôn năm! Tất cả chính quyền về tay Xô Viết! Phát động cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh tháng chín, năm 1930, thường vụ đảng cộng sản Đông Dương Trần Phú đã để lại món nợ máu lớn với dân tộc, với lịch sử Việt Nam!
Đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô và đứng đầu quốc tế cộng sản, sắt máu đưa quốc tế cộng sản vào bạo lực đấu tranh giai cấp, Stalin coi Nguyễn Ái Quốc là người thuộc dòng dõi quan lại, bản thân Nguyễn Ái Quốc chỉ là con người dân tộc, không phải người của giai cấp vô sàn. Nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc chỉ có lí tưởng giải phóng dân tộc, không có lí tưởng giải phóng giai cấp, giành quyền làm chủ thế giới cho giai cấp vô sản của quốc tế cộng sản, Stalin không tin dùng Nguyễn Ái Quốc mà tin dùng Trần Phú.
Say mê với con đường máu bạo lực cách mạng vô sản thế giới, Trần Phú được đảng cộng sản Liên Xô đưa vào học trường đại học cộng sản Phương Đông, được nạp lí luận đấu tranh giai cấp và được huấn luyện phát động quần chúng công nông làm cách mạng vô sản thế giới. Tháng 4.1930 mang lí luận bạo lực cách mạng về nước, Trần Phú được đưa vào thường vụ đảng cộng sản Đông Dương. Ý chí cách mạng bạo lực liền được bộc lộ trong Luận cương cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do Trần Phú soạn thảo theo bài bản cướp chính quyền của cách mạng tháng mười Nga năm 1917. Ý chí cách mạng bạo lực của Trần Phú lại được chứng minh bằng cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh đẫm máu tháng chín năm 1930, cuộc tập dượt của những người cộng sản Việt Nam thực hiện cướp chính quyền theo khuôn mẫu cách mạng vô sản tháng mười Nga năm 1917. Một tháng sau cuộc tắm máu trí, phú, địa, hào ở Nghệ Tĩnh, Trần Phú được đưa lên tổng bí thư đảng cộng sản Đông Dương trong cuộc họp nhóm lãnh đạo đảng cộng sản Đông Dương ở Hương Cảng. Từ Hương Cảng, Trần Phú vừa về Sài Gòn thì bị Pháp bắt rồi chết trong nhà thương Chợ Quán ở Sài Gòn. Một con người chỉ là công cụ bạo lực của quốc tế cộng sản và bàn tay ròng ròng máu Xô Viết Nghệ Tĩnh làm sao xứng với con đường “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”!
Thành cổ Hà Nội chỉ còn giữ được hai cổng thành cổ là cổng Cửa Tây và cổng Cửa Bắc. Cổng Cửa Tây hướng nội nên nhỏ bé như ngôi miếu cổ, như cổng làng. Hướng nội, hướng về xứ Đoài nơi có thần Tản Viên ngự trên đỉnh Ba Vì quanh năm mây trắng, nơi có làng cổ Đường Lâm, làng quê của hai khí phách Đại Việt lẫm liệt. Làng quê Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng phất cờ khởi nghĩa chống quân Đường phương bắc xâm lược. Làng quê Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, dựng nền độc lập cho nước Đại Việt sau ngàn năm bắc thuộc. Nhìn lên đê Yên Phụ bờ nam sông Hồng hướng vào mối đe doạ thường trực từ phương bắc với nền độc lập nước Đại Việt, cổng Cửa Bắc có vóc dáng lừng lững, uy nghi, mới thực sự là cổng của một kinh thành có cả ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm. Tường thành cổ phía Bắc song song với sông Hồng và gần sông Hồng nhất. Chính vì vậy năm 1882 nổ súng hạ thành Hà Nội, thuyền chiến Pháp từ sông Hồng cấp tập nã đạn pháo vào cổng Cửa Bắc. Nhìn vết đạn pháo từ chiến thuyền Pháp khoét những hố nông choèn trên vách sừng sững cổng thành càng thấy sự kiên cố, vững chãi của tường thành cổ Hà Nội. Thành kiên cố vững chãi nhưng triều đình nhà Nguyễn đến hồi suy tàn, nhu nhược không có ý chí chống giặc, không có sẵn lực lượng đủ mạnh sẵn sàng đương đầu với giặc thì thành vững chắc đến đâu cũng mất. Trên cổng thành cao vòi vọi có tòa lầu cổ là nơi ở của gia đình ông thiếu tướng Trần Quý Hai, một hạt nhân lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Ba Tơ chống Pháp ở Quảng Ngãi tháng ba, năm 1945, nay là phó Tổng Tham mưu trưởng.
Các tướng lĩnh làm việc ở tổng hành dinh trong thành cổ đều có nhà riêng ở năm đường bao quanh. Đường Hoàng Diệu phía tây có nhà của các tướng quân sự Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái và Cửa Tây thành chỉ mở cho các vị tướng này vào ra nơi làm việc ở tòa nhà trên mặt đất và dưới hầm sâu bên điện Kính Thiên. Nhà riêng của các tướng chính trị Nguyễn Chí Thanh, Lê Quang Hòa, Phạm Ngọc Mậu là những biệt thự lặng lẽ, im lìm bên đường Lý Nam Đế phía Đông thành cổ. Sau năm 1975, tướng chính trị Nguyễn Nam Khánh, Lê Khả Phiêu cũng được cấp căn hộ hơn sáu trăm mét vuông ở toà nhà cao tầng mới xây trên đường Lý Nam Đế. Góc đường Cột Cờ – Hoàng Diệu, sát tường bao chân Cột Cờ có tòa biệt thự hai tầng vuông vức, bề thế, im lìm khuất trong tán cây xanh là nhà riêng của hai tướng chính trị Song Hào và Lê Quang Đạo.
Thành cổ Hà Nội cũng là đại bản doanh của quân đội Pháp thời Pháp chiếm đóng Đông Dương và các tòa nhà trong thành cố đều được xây cất từ thời Pháp bắt đầu củng cố bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa Đông Dương, cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Các tòa nhà đều có tuổi đời hơn một thế kỉ, cùng thế hệ tuổi tác với cầu Long Biên, đều mang nét kiến trúc Pháp. Nền cao. Tường dày. Hành lang rộng. Khi tôi vào ở ngôi nhà trong thành cổ có tuổi đời cả thế kỉ mà tường quét vôi vàng không một vết tróc lở, nền lát gạch vuông đỏ Bát Tràng phẳng lì không một vết nứt, lún. Mái ngói xỉn màu thời gian trăm năm nhưng không một viên xô lệch. Ngôi nhà không chút suy xuyển, vững chãi, nguyên vẹn như lúc mới xây từ trăm năm trước.
Trước khi cuộc chiến tranh từ miền nam lan rộng ra cả nước, Bộ Tổng Tư Lệnh quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ có ba cơ quan cấp tổng cục đều ở trong thành cổ Hà Nội. Bộ Tổng tham mưu làm việc ở những tòa nhà trong hoàng cung giáp bức tường phía Tây được gọi là khu A. Khu B là lãnh địa của Tổng cục Hậu cần, những tòa nhà dưới tán xà cừ vâm váp, rậm rạp, xanh tốt quanh năm phía Bắc thành. Hai tòa nhà hai tầng dài do Pháp xây, lớn nhất, bề thế nhất trong thành cổ, nối tiếp nhau song song với con đường từ cổng Cửa Đông đi vào là hành dinh của Tổng cục Chính trị, khu C.
Cục Thông Tin Liên Lạc có phiên hiệu là C53, bên cạnh các phiên hiệu như C52 là cục Quân Báo, C56 là cục Quân Lực, C59 là cục Quản lí Giáo dục, cơ quan quản lí hành chính toàn khu thành cổ Cột Cờ. Các cục này cùng với cục Tác Chiến, cục Quân huấn, cục Dân quân . . . đều thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. C 59 có đội xe com mang ca và cửa hàng cantin ở cạnh hai nhà ăn, nhà ăn đại táo cho lính và nhà ăn trung táo cho sĩ quan và hai nhà ăn này đều do C 59 tổ chức, quản lí.
Năm 1965 hàng hoá đáp ứng nhu cầu đời sống của người dân đã vô cùng khan hiếm nhưng ở cantin của C59 thỉnh thoảng lại có những mặt hàng quí hiếm như kẹo Hải Châu, thuốc là Điện Biên bao bạc, thuốc lá Thăng Long, áo dệt kim, áo len Trung Quốc . . . bán tự do không phân biệt quân hàm cấp bậc vì trong cơ quan bộ tổng Tư lệnh hầu hết là sĩ quan, lính rất ít. Những mặt hàng này ở các cửa hàng mậu dịch quốc doanh ngoài phố chỉ là hàng bầy mẫu, không bán. Có bán cũng chỉ bán cho khách mua đặc biệt, có giấy, có lệnh từ cấp cao. Các cửa hàng mậu dịch quốc doanh chỉ bán thuốc lá Tam Đảo, ba hào một bao. Trong khi một bao thuốc lá Điện Biên là năm hào rưỡi, bao Thăng Long một đồng. Để biết giá trị đồng tiền, xin dẫn giá bát phở bò, phở gà là ba hào. Năm 1965 Hà Nội còn có phở bò, phở gà. Từ 1966 trở đi ở ngay thủ đô Hà Nội cũng không còn phở bò, phở gà, chỉ có phở thịt lợn và phở chỉ có bánh phở chan nước lèo mà không có thịt. Sơn Tây, nơi có nông trường bò Ba Vì, nơi anh hùng lao động Hồ Giáo chăn thả những đàn bò phủ vàng những đồi có xanh cũng không có phở bò mà có phở thịt chó.
C 59, cục Quản Lí Giáo dục với chức năng quản lí hành chính cả khu thành cổ có cơ ngơi khá rộng, quân đông và tài sản vật chất khá lớn mà cục trưởng chỉ có hàm trung tá. Đám lính chúng tôi chỉ nghe tên trung tá cục trưởng Ngô Tấn Văn mà chưa một lần thấy mặt nhưng lại rất quen mặt, quen tên và thường gặp hàng ngày hai người phụ nữ ở C 59, cục Quản lí Giáo dục bộ Tổng Tham mưu. Trong tổng hành dinh bộ Tổng tư lệnh rất ít phụ nữ. Ngoài mấy chị nhà bếp chỉ khi cầm bát đến nhà ăn chúng tôi mới thấy mặt và ba cô gái ở tổ in ấn của cục Cơ yếu đều còn trẻ và chưa chồng thì hai phụ nữ ở C 59 chúng tôi thường gặp đều đã ở tuổi làm mẹ và có phong thái điềm đạm, có gương mặt hiền hậu của người mẹ.
Một người dáng đậm đà, gương mặt chất phác, thường xuyên quân phục, quân hàm nghiêm chỉnh là đại uý Đàm Thị Loan, người Tày, vợ trung tướng phó Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái. Trung tướng Hoàng Văn Thái và đại uý Đàm Thị Loan đều là hai nhân vật lịch sử, hai trong số ba mươi tư chiến sĩ trung đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân tập hợp trong cánh rừng ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng chiều tối ngày 22.12.1944 nghe Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số Một do Hồ Chí Minh kí thành lập lực lượng vũ trang của Việt Minh và được lịch sử cách mạng Việt Nam ghi nhận là sự kiện ra đời của quân đội Nhân Dân Việt Nam.
Trong thời gian dài, tôi cũng đinh ninh rằng ngày thành lập quân đội cách mạng của đảng cộng sản là ngày 22.12.1944. Sau này đọc hồi kí, đọc tiểu sử những người cộng sản Việt Nam thế hệ đầu tiên tôi mới nhận ra điều bất thường ở sự kiện được coi là ngày thành lập quân đội. Điều bất thường đó là ngày 14 tháng hai, năm 1941, tại rừng Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn Thụ thay mặt trung ương đảng cộng sản đã thành lập đội du kích Bắc Sơn với ba mươi tư đội viên do Lương Văn Trì chỉ huy. Đến tháng năm, 1941, hội nghị 8 trung ương đảng do Hồ Chí Minh chủ trì họp tại Pắc Bó, Hà Quảng, Cao Bằng ra quyết định chuyển đội du kích Bắc Sơn thành trung đội Cứu Quốc Quân thứ nhất do Phùng Chí Kiên là chỉ huy trưởng, Lương Văn Trì là phó. Như vậy trung đội Cứu Quốc Quân thứ nhất ra đời trước trung đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân 3 năm, 10 tháng, 8 ngày.
Đội quân đàn em với tên gọi Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân của Võ Nguyên Giáp còn ra đời sau cả trung đội Cứu Quốc Quân thứ hai với bốn mươi bảy đội viên do Chu Văn Tấn chỉ huy. Ra đời ngày 15 tháng chín, năm 1941 tại rừng Khuôn Mánh, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, trung đội Cứu Quốc Quân thứ hai có tuổi đời lớn hơn trung đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân tới 3 năm, 3 tháng, 7 ngày.
Đáp ứng đòi hỏi khẩn thiết của cách mạng giải phóng dân tộc, Cứu Quốc Quân vừa ra đời đã viết lên trang sử oanh liệt. Tháng sáu, 1941 quân Pháp tấn công vào căn cứ Bắc Sơn. Cả Lương văn Trì và Phùng Chí Kiên cùng nhiều đội viên Cứu Quốc Quân dũng cảm hi sinh bảo vệ căn cứ, bảo vệ những lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản. Cứu Quốc Quân thực sự là đội quân vũ trang đầu tiên của đảng cộng sản và trang sử mở đầu của đội quân đó cũng rất vẻ vang. Nhưng ngày thành lập quân đội cách mạng lại là ngày ra đởi đội quân đàn em Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân! Những sự kiện và con người cộng sản đều có những khoảng tối, những lắt léo, những uẩn khúc. Ngày thành lập quân đội cách mạng cũng là một khoảng tối, một uẩn khúc của lịch sử cách mạng vốn đầy rẫy khoảng tối và uẩn khúc.
Nhưng thôi, đó là chuyện của những người cộng sản. Xin trở lại chuyện của thành cổ Cột Cờ Hà Nội. Đại uý sĩ quan cục Quản Lý Giáo Dục bộ Tổng Tham Mưu Đàm Thị Loan còn là con người lịch sử khi cô gái Tày Đàm Thị Loan là một trong hai phụ nữ kéo lá cờ đỏ sao vàng của chính quyền cách mạng lên cột cờ Ba Đình, Hà Nội ngày 2.9.1945 trong sự kiện Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn khai sinh ra nhà nước của đảng cộng sản Đông Dương có tên nhà nước Việt Nam Dân Chỉ Cộng Hoà. Người phụ nữ thứ hai cùng kéo lá cờ đỏ lên vòm trời xanh Ba Đình ngày 2.9.1945 với cô gái Tày Đàm Thị Loan là cô gái Hà Nội Dương Thị Thoa, con gái nhà văn hoá lớn Dương Quảng Hàm. Với nguồn mạch trí tuệ, nguồn mạch văn hoá của gia đình, sau này Dương Thị Thoa trở thành giáo sư, viện trưởng viện Triết Học có bút danh Lê Thi, vợ đại tá công an nổi tiếng Lê Hồng Hà.
Người phụ nữ thứ hai ở cục Quản Lý, Giáo Dục, Bộ Tổng Tham Mưu có thân hình thắt đáy lưng ong luôn mặc đồ dân sự quần đen, khi áo nâu, khi áo trắng nền nã may khéo khuôn lấy thân hình óng ả, uyển chuyển tôn nét đẹp của người đàn bà phúc hậu và đầy nữ tính là bà Lan, vợ đại tá Đồng Sĩ Nguyên, năm 1964 là chính uỷ quân khu Bốn, từ năm 1966 là tư lệnh bộ Tư Lệnh Trường Sơn, có phiên hiệu là bộ tư lệnh 559.
Những năm cuối năm mươi và sáu mươi giữa thế kỉ hai mươi có hai ông đại tá tên tuổi cồn cào cả trong quân đội và trong đời sống xã hội, lừng lẫy hơn nhiều ông tướng là đại tá Hà Văn Lâu và đại tá Đồng Sĩ Nguyên.
Đại tá Hà Văn Lâu là trưởng phái đoàn quân đội Nhân Dân Việt Nam trong uỷ ban giám sát đình chiến Đông Dương theo hiệp định Genève 1954. Ngày nào báo chí và đài phát thanh miền Bắc cũng cao giọng hùng hồn xướng tên đại tá Hà Văn Lâu. Đại tá Hà Văn Lâu phản đối chính quyền Sài Gòn xây dựng sân bay quân sự trá hình dưới tên gọi xây dựng xa lộ Sài Gòn – Biên Hoà. Đại tá Hà Văn Lâu tố cáo chính quyền Sài Gòn đầu độc giết hại hơn một ngàn tù chính trị ở nhà lao Phú Lợi, Thủ Dầu Một . . . Lừng lẫy nhưng Hà Văn Lâu mãi mãi chỉ là đại tá vì từ năm 1954 ông đã là nhà ngoại giao với danh nghĩa phái viên quân sự trong phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đàm phán chấm dứt chiến tranh Đông Dương ở hội nghị quốc tế Genève. Sau Mậu Thân 1968, ông chuyển hẳn sang bộ Ngoại Giao.
Còn đại tá Đồng Sĩ Nguyên huyền thoại của đội quân huyền thoại mở và giữ con đường máu Trường Sơn. Con đường càng ngập máu thì tên Đồng Sĩ Nguyên càng được huyền thoại hoá cùng với sự huyền thoại hoá dòng sông máu Trường Sơn. Sự huyền thoại hoá cái chết bi thảm của mười cô gái trẻ ở ngã ba Đồng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, chặng đầu tiên của cung đường Trường Sơn là một dẫn chứng. Năm 1974 từ đại tá, Đồng Sĩ Nguyên được phong vượt cấp lên trung tướng.
Tuyên truyền dựng lên con người huyền thoại Đồng Sĩ Nguyên còn bọn lính chúng tôi ở Tổng hành dinh lại được nghe câu chuyện truyền miệng rằng đại tá Đồng Sĩ Nguyên vốn tên thật là Nguyễn Sĩ Đồng. Thời Nguyễn Sĩ Đồng làm tỉnh đội trưởng tỉnh đội Quảng Bình đã chỉ huy cuộc đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy chống chính quyền cộng sản của một giáo xứ vùng kháng chiến ở quân khu Bốn. Món nợ máu của Nguyễn Sĩ Đồng với giáo dân làm cho giữa giáo dân và chính quyền cộng sản không thể dung hoà. Chính quyền cộng sản liền dàn dựng một phiên toà xoa dịu lòng dân bằng bản án tử hình Nguyễn Sĩ Đồng. Bản án chỉ để mị dân còn Nguyễn Sĩ Đồng chẳng hề hấn gì, chỉ đổi tên thành Đồng Sĩ Nguyên rồi điều chuyển đi nơi khác, lên cấp cao hơn.
Đồng Sĩ Nguyên vốn có tên cha sinh mẹ đẻ là Đồng, họ Nguyễn Sĩ là sự thật. Nối tiếp dòng họ Nguyễn Sĩ, con trai cả của Đồng Sĩ Nguyên là Nguyễn Sĩ Hưng, chủ tịch hội đồng quản trị Tổng Công ty Hàng Không Việt Nam là sự thật. Chính quyền cộng sản lấy máu dân dẹp sự bất bình của dân là sự thật lịch sử hiển nhiên từ khi đảng cộng sản ra đời, đến nay đã trở thành bản chất, thành truyền thống cộng sản. Chỉ ở Tổng hành dinh tối cao của quân đội mới có thể biết sự thật về cái tên giả Đồng Sĩ Nguyên. Cũng chỉ ở Tổng hành dinh tối cao của quân đội mới có câu chuyện truyền miệng về sự thật cái tên Đồng Sĩ Nguyên. Dù câu chuyện truyền miệng về ông tỉnh đội trưởng Nguyễn Sĩ Đồng có nợ máu với dân phải đổi tên thành Đồng Sĩ Nguyên có đúng sự thật cũng không bao giờ được nhà nước cộng sản công khai nhìn nhận và ghi vào sử sách cộng sản. Nhưng câu chuyện truyền miệng về cái tên Đồng Sĩ Nguyên đã xua đi màn sương khói mờ ảo huyền thoại, giúp chúng tôi nhận ra con người đời thường của những tên tuổi được huyền thoại hoá.
Khi trong cơ quan Tổng hành dinh bộ Tổng Tư lệnh có đám lính thông tin đã tốt nghiệp trung học phổ thông thì C59, cơ quan quản lí hành chính khu thành cổ Cột Cờ liền nhạy bén khai thác vốn văn hoá của lính thông tin bằng cách tổ chức các lớp học văn hoá buổi tối từ lớp 4 đến lớp 7 cho những người lính làm việc trong thành chưa có vốn văn hoá ngang bằng với mặt bằng văn hoá xã hội lúc đó là học hết cấp hai phổ thông, nay là trung học cơ sở và mời những cậu tú, cô tú mặc áo lính thông tin đứng lớp giảng dạy.
Thời còn là học sinh cuối cấp trung học ở Hải Phòng, một tuần ba tối, thứ hai, thứ tư, thứ sáu tôi đã cầm phấn viết bảng, cầm bút mực đỏ chấm bài ở lớp bổ túc văn hoá do khu phố tổ chức. Lớp mở ở phòng học vốn là trường tư thục tiểu học của một giáo dân trong dãy phòng bên phải nhà thờ Cấm. Người học phần lớn là phụ nữ, những cô thợ may, những bà, những chị trong tổ đen len. Ở thành cổ Cột Cờ, tôi lại cùng những người lính báo vụ Đặng Thế Hùng, Nguyễn Phương Nga, Bùi Thị Thành… lại đứng lớp dạy chữ cho những người lính lái xe, nhân viên nấu ăn ở hai bếp ăn đại táo và tiểu táo và cả lính thông tin đường dây chưa có được lưng vốn căn bản về kiến thức văn hoá.
Thời đi học, dạy bổ túc văn hoá ở khu phố, hàng tháng tôi nhận được khoản tiền bồi dưỡng. Đến nay tôi không còn nhớ được mấy đồng, chỉ nhớ số tiền đó tôi đặt mua dài hạn báo Thiếu Niên Tiền Phong, báo Khoa Học Thường Thức và có tiền thỉnh thoảng đến hiệu sách Nhân Dân phố Cầu Đất mua những tập sách mà giá sách của tôi cần phải có . Dạy học cho lính chẳng có đồng nào, chỉ có niềm vui. Tồn tại được hơn hai năm. Lớp học chấm dứt vào mùa hè năm 1967 khi máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời Hà Nội. Thành cổ Cột Cờ, cơ quan quân sự đầu não tập trung lớn nhất, quan trọng nhất phải triệt để thực hiện vườn không nhà trống.
Thời chiến tranh 1960 – 1975, trung tâm của Bộ Tổng Tham Mưu là cục Tác chiến, nơi hình thành, hoạch định và tổ chức thực hiện mọi chiến dịch, mọi hoạt động quân sự của các đơn vị quân đội trên cả chiến trường Đông Dương. Cục tác chiến luôn bên cạnh hành dinh Tổng Tư Lệnh, làm việc ở toà nhà xây trên nền điện Kính Thiên, nơi vua Lê thiết triều mà toà nhà hai tầng, Pháp xây từ cuối thế kỉ 19 trên nền đất điện Kính Thiên là nơi làm việc của Tổng Tư Lệnh và Bộ Tổng Tham Mưu. Các cục khác trong Bộ Tổng Tham Mưu chỉ là cục phục vụ, chỉ là vệ tinh xoay quanh cục Tác Chiến và hai cục liên quan mật thiết nhất với hoạt động của cục Tác chiến là cục Thông tin Liên lạc bảo đảm thông tin chỉ huy và cục Quân báo giúp cục Tác chiến kịp thời nắm được ý đồ, hành động quân sự phía bên kia chiến tuyến.
Đỉnh điểm cuộc chiến, trên chiến trường Việt Nam có nửa triệu quân Mỹ, hai sư đoàn quân Nam Triều Tiên, hơn triệu quân Việt Nam Cộng Hoà. Để đương đầu được với sức mạnh quân sự khủng khiếp đó, quân Bắc Việt mang danh quân đội Nhân Dân Việt Nam và quân Giải phóng vốn thua kém quá xa về trang bị vũ khí và sức cơ động đương nhiên phải có đội quân lớn hơn tổng số quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên và quân Việt Nam Cộng Hoà, khoảng hơn ba triệu quân. Khi đó cục Quân báo chỉ mang tên là cục Nghiên Cứu bình dị, khép kín, hướng nội để giấu đi hoạt động hướng ngoại thọc mạch của cơ quan tình báo quân sự thì tên Xê Năm Hai, C52, lại càng khiêm nhường, bình dị, không lộ tung tích đúng với đòi hỏi của nghiệp vụ và tình báo quân sự trong chiến tranh với những tên tuổi Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Lê Hữu Thuý, Đinh Thị Vân… đã hoạt động thầm lặng và đầy hiệu quả.
Những cuộc chiến tranh liên miên rồi cũng kết thúc. Quân thường trực thu nhỏ lại, từ 1,5 triệu xuống còn 450.000 quân, từ 9 quân đoàn giảm xuống còn 4 quân đoàn. Nhưng bộ Quốc Phòng trong yên bình thời bộ trưởng vốn xuất thân là cai phu cao su, là chân tay giúp chủ đồn điền cao su người Pháp bóc lột mồ hôi và cả máu, cả tính mạng phu cao su người Việt, bộ trưởng Lê Đức Anh đã biến C52, cục Quân báo được dân sự hoá gọi là cục Nghiên Cứu của bộ Tổng Tham Mưu thành cục 2, cục Tình Báo quân đội trực thuộc bộ Quốc Phòng, thực chất là nằm trong tay bộ trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh. Từ bộ Tổng Tham Mưu, cục 2 Tình Báo chuyển vể bộ Quốc Phòng và bộ trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh liền dùng cục Tình Báo dựng lên vụ án Sáu Sứ vu cho tướng Võ Nguyên Giáp, tướng Trần Văn Trà đang ráo riết chi phối, cài cắm nhân sự cấp cao trong đại hội 7 đảng cộng sản sắp diễn ra, làm đảo chính đưa tướng Giáp bốn sao lên nắm giữ quyền lực đảng cộng sản, đưa tướng Trà ba sao lên bộ trưởng Quốc Phòng. Công an được giao điều tra vụ án và Võ Viết Thanh, thứ trưởng bộ Công An phụ trách an ninh đã vạch ra sự giả dối của cục 2 tình báo quân đội trực thuộc bộ Quốc Phòng, trực thuộc bộ trưởng Lê Đức Anh nguỵ tạo ra vụ án. Vụ án chỉ có trong dã tâm của bộ trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh, chỉ có trong dàn dựng của cục 2 tình báo quân đội mà không có trong thực tế.
Trong cơ cấu của Bộ Tổng Tham mưu, cục Tác chiến là nơi duy nhất hoạch định mọi hoạt động, mọi cuộc động binh lớn nhỏ của quân đội thì cục Quân báo là công cụ duy nhất theo dõi, nắm bắt ý đồ chiến dịch và hoạt động thường ngày của đối thủ, kịp thời giúp cục Tác chiến nhạy bén và tỉnh táo ứng phó, hình thành ý đồ chiến dịch thích ứng. Đặt đúng chỗ trong Bộ Tổng Tham mưu, là một đầu mối, một công cụ của bộ Tổng Tham mưu, cơ quan tình báo quân đội mới hoạt động đúng chức danh, đúng nghiệp vụ, tinh gọn, khiêm nhường nhưng hiệu quả và khai thác phát huy được tác dụng cao nhất. Không đặt đúng vị trí, cơ quan tình báo không phát huy được tác dụng và chức năng không rõ ràng, hoạt động khó kiểm soát. Không trong cơ cấu Bộ Tổng Tham mưu mà trực thuộc bộ Quốc phòng, nằm trong tay cá nhân Bộ trưởng, từ tổ chức trong cơ cấu của Bộ Tổng Tham mưu trở thành tổ chức của một chức danh, một cá nhân quyền lực, hoạt động tình báo vốn đã bí mật càng thêm bí ẩn và mờ ám.
Cuộc chiến tranh nam – bắc 1960 – 1975 giữa người Việt cộng sản và người Việt không cộng sản kết thúc liền tiếp đến cuộc chiến tranh ở hai đầu biên giới mà khốc liệt nhất, đẫm máu nhất ở biên giới phía bắc từ 1979 đến 1989. Cuộc chiến ở biên giới phía bắc là nối tiếp những cuộc chiến từ trong lịch sử mấy ngàn năm trước, cuộc chiến giữ nước chống Đại Hán bành trướng xâm lược. Là bộ trưởng bộ Quốc Phòng từ cuối cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, nắm Tổng cục Tình báo quân đội trong tay, bộ trưởng Lê Đức Anh biến bộ Quốc Phòng thành nhịp cầu nối đảng cộng sản Việt Nam với đảng cộng sản Trung Hoa và bộ trưởng Lê Đức Anh thành anh giao liên dẫn đường đưa đầu đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh vào cuộc đi đêm chính trị đến Thành Đô, bí mật giao kèo, cam kết với đầu đảng cộng sản Trung Hoa Giang Trạch Dân, đưa Việt Nam vào thân phận chư hầu của cộng sản Trung Hoa.
Các cơ quan trong bộ Tổng tư lệnh chỉ có vài người làm phận sự lính tráng. Những cần vụ lặng lẽ và cần mẫn dù nhiều năm hầu hạ các ông tướng nhưng những cần vụ trung thành, tận tuỵ chỉ có quân hàm chuẩn uý chuyên nghiệp. Những lái xe đều có quân hàm thiếu uý, trung uý chuyên nghiệp. Chuẩn uý, trung uý chuyên nghiệp làm công việc hành chính sự vụ thì cũng là lính. Những công vụ của các cục đều là hạ sĩ, trung sĩ. Còn lại đều là sĩ quan chỉ huy từ cấp úy tới cấp tướng. Thời chiến tranh, toàn quân chỉ có ba mươi sáu ông tướng. Hai đại tướng. Đại tướng quân sự Võ Nguyên Giáp. Đại tướng chính trị Nguyễn Chí Thanh. Hai thượng tướng. Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng. Thượng tướng tư lệnh kiêm chính uỷ quân khu Việt Bắc Chu Văn Tấn. Còn lại ba mươi hai ông trung tướng, thiếu tướng. Song Hào, Chủ nhiệm tổng cục Chính Trị cũng chỉ trung tướng. Mãi đến năm 1974, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng lên đại tướng thì chủ nhiệm tổng cục Chính trị Song Hào mới lên thượng tướng. Chỉ có cấp tổng cục, tư lệnh quân khu mới có hàm tướng. Cục trưởng chỉ có hàm đại tá, thượng tá, có khi chỉ trung tá.
Cục Thông tin Liên lạc tổ chức mạng lưới thông tin phủ kín chiến trường ba nước Đông Dương, cục trưởng cũng chỉ có hàm thượng tá, thượng tá Nguyễn Anh Bảo. Chiến tranh mở rộng, ngày 31.1.1968 bộ Quốc Phòng ra quyết định nâng cấp cục Thông tin Liên lạc thành binh chủng. Binh chủng Thông tin Liên lạc có năm trung đoàn khai thác mạng lưới thông tin. Một trường đào tạo sĩ quan. Một trường đào tạo cán bộ kĩ thuật thông tin có trình độ kĩ sư. Một đoàn huấn luyện báo vụ vô tuyến điện tương đương một trung đoàn. Một nhà máy sản xuất điện tử. Ba tổng kho vật tư kĩ thuật. Nhiều tiểu đoàn độc lập là những đơn vị thông tin hỗn hợp sẵn sàng lên đường chiến đấu bảo đảm thông tin cho các chiến dịch và bổ xung cho các mặt trận. Với cả trăm ngàn lính, lớn hơn một quân đoàn, tư lệnh binh chủng Thông tin Liên lạc cũng chỉ có hàm đại tá, đại tá Hoàng Niệm. Sau mười lăm năm mang hàm đại tá, năm 1984 tư lệnh binh chủng Thông Tin Hoàng Niệm mới được phong thiếu tướng.
Năm 1954, 1955, bộ đội, cán bộ kháng chiến chống Pháp từ miền nam tập kết ra bắc. Dân miền bắc liền nhận ra ngay con người bưng biền Nam Bộ sống chan hoà, phóng khoáng, hoà thuận với thiên nhiên, tính tình xuề xoà, đơn giản, rộng rãi và hào phóng bao nhiêu thì con người khu Năm Trung Bộ vật vã, cần cù chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt, tính cách cũng khắt khe, nghiệt ngã, nguyên tắc, cứng nhắc và chặt chẽ bấy nhiêu.
Với phẩm chất chặt chẽ, nguyên tắc, rất nhiều cán bộ kháng chiến khu Năm tập kết ra Bắc được chuyển vào ngành thuế. Những người buôn bán, từ bà quẩy mấy mớ rau bán rong vỉa hè đến bà có sạp hàng ở chợ đều kêu trời về những ông cán bộ thuế người khu Năm nguyên tắc chặt chẽ, cứng nhắc. Ốm đau phải nghỉ chợ nhiều ngày nhưng tiền thuế cũng không thể chậm một ngày, không được thiếu một xu.
Trong quân đội, đứng đầu cục Cán Bộ, tổng cục Chính Trị là đại tá Trần Hoài Ân, người Bình Định, khu Năm. Cán bộ khu Năm thu thuế khắt khe thì cục Cán Bộ trong tay ông cục trưởng khu Năm càng khắt khe trong việc phong quân hàm cho lính. Thời ở trong thành cổ, tôi đã gặp rất nhiều người lính nhập ngũ từ chiến dịch Hà Nam Ninh 1952, từ chiến dịch Đông Xuân cuối năm 1953, đầu năm 1954. Gần hai mươi năm sau, đến cuối những năm sáu mươi vẫn chỉ mang hàm thượng sĩ, chuẩn uý chuyên nghiệp. Những quân hàm thượng sĩ, chuẩn uý bạc phếch vì dãi dầu mưa nắng và xỉn màu mồ hôi trên ve áo lính được lính gọi là thượng sĩ, chuẩn uý i nốc. I nốc là loại thép không rỉ. Quân hàm thượng sĩ, chuẩn uý i nốc đeo bao năm cũng không han rỉ nên không cần thay đổi!
Trưởng ca làm việc ở đại đội 3 thông tin đều là những thượng sĩ, chuẩn uý i nốc. Nguyễn Văn Soạn quê Thái Nguyên, nhập ngũ năm 1953, đã tham chiến trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, là báo vụ thu phát tín hiệu giỏi nhất toàn quân và nhất toàn miền Bắc, là đội trưởng đội vận động viên vô tuyến điện quân Đội Nhân Dân Việt Nam giành huy chương vàng trong cuộc thi vô tuyến điện quân đội bốn nước Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ ở Bắc Kinh năm 1966 cũng chỉ là chuẩn uý i nốc.
Những ngày ở trong thành cổ, ham đá bóng và say mê với những trang sách cho tôi quen biết và thân thiết với một sĩ quan cục Bản Đồ, bộ Tổng Tham Mưu, đại uý Nguyễn Bá Đạm. Sinh năm 1918, tốt nghiệp khoa Bản Đồ trường cao đẳng Công Chính Đông Dương năm 1943, Nguyễn Bá Đạm đã đi khắp ba nước Việt, Miên, Lào cập nhật, bổ xung, chi tiết hoá tấm bản đồ Đông Dương. Nhập ngũ từ ngày đầu cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau sáu mươi ngày đêm chiến đấu với quân Pháp trên đường phố Hà Nội, rút lên Việt Bắc, ông đã tổ chức, gây dựng lên phòng Bản Đồ, sau là cục Bản Đồ cho Bộ Tổng Tham Mưu.
Có nền tảng văn hoá vững chắc, có vốn sống dày dặn, có tâm hồn nghệ sĩ, người lính Nguyễn Bá Đạm cầm bút viết văn, lấy tên vợ, Lê Khánh là bút danh. Ông đã hai lần giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ hội Nhà Văn Việt Nam, một lần giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Trong các tập sách Nhà Văn Việt Nam Hiện Đại do hội Nhà Văn Việt Nam xuất bản đều có tên ông, nhà văn Lê Khánh.
Ngày nay, không phải sinh viên trường ngoại ngữ thì dù tốt nghiệp bất cứ trường đại học nào ở Việt Nam cũng không nghe, không nói, không viết được một ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Việt. Thời thuộc Pháp, giáo dục có chất lượng rất cao. Chỉ tốt nghiệp trung học là làm chủ được hai ngoại ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp. Người phiên dịch tiếng Anh và tiếng Pháp cho phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở hội đàm Paris từ 1968 đến 1973 là ông Nguyễn Đình Phương vừa tốt nghiệp trung học thì cách mạng tháng tám và kháng chiến chống Pháp nổ ra. Đi kháng chiến chống Pháp chín năm không đụng đến ngoại ngữ. Năm 1954 trở về Hà Nội, vốn tiếng Pháp, tiếng Anh của ông Phương vẫn bền vững đưa ông đến làm việc với các nhân viên Canada, Ấn Độ, Ba Lan trong uỷ ban quốc tế giám sát thi hành hiệp định Genève 1954 về đình chiến Đông Dương rồi đưa ông đến Paris làm phiên dịch tiếng Anh cho Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ, cho cả phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Cũng như ông Phương, đại uý Đạm không tiếp xúc với tiếng Pháp từ năm 1945 tham gia cách mạng và kháng chiến chống Pháp. Mười năm sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi trở về Hà Nội, vốn tiêng Pháp học ở trường Bưởi, trường cao đẳng Công Chính Đông Dương cho ông dịch nhiều sách văn học Xô Viết từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, trong đó có tiểu thuyết ba tập Khoảng Trời Ban Tích viết về cuộc chiến đấu của không quân Xô Viết đánh máy bay Đức Quốc Xã trong chiến tranh thế giới thứ hai và tôi đã đọc say mê.
Một trí tuệ, tài năng và một công thần lớn như vậy với quân đội công nông, với nhà nước cách mạng của đảng cộng sản nhưng năm 1964 tôi quen biết ông, không biết ông đã mang hàm đại uý bao nhiêu năm mà đôi quân hàm trên ve áo cũng bạc phếch thời gian và xỉn màu đồ cổ. Cầm súng đánh giặc từ ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, cả đời tận tuỵ đóng góp cho quân đội, đã gây dụng lên cả cục Bản Đồ cho bộ Tổng Tham mưu, khi về hưu người lính Nguyễn Bá Đạm chỉ có quân hàm thiếu tá!
Trong lãnh địa tổng cục Hậu cần phía Bắc thành cổ còn có ngôi nhà của trung đội lính thông tin, trung đội CE, đại đội 3. Những máy phát sóng vô tuyến điện công suất lớn, 150 W, phải đặt xa cụm máy thu để sóng máy phát quá mạnh không át sóng máy thu. Những bức điện tối khẩn của Bộ Tổng tư lệnh từ thành cố Cột Cờ gửi Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam trong rừng Tây Ninh, Nam Bộ được chúng tôi gõ ma nip chuyển đi từ trong phòng máy thu ở nam thành cổ nhưng máy phát sóng những bức điện đó lại đặt ở bắc thành cổ. Trung đội CE ở đây có nhiệm vụ chỉnh máy phát về tần số theo yêu cầu của người gõ ma níp ở trạm thu phát phía nam thành cố.
Trong thành cổ chỉ có hai trục đường chính trải nhựa. Trục bắc – nam nối cổng nam thành với cổng bắc thành nay là đường Nguyễn Tri Phương. Trục đông – tây là phố Cửa Đông nối dài qua cổng Cửa Đông và kết thúc ở chỗ gặp đường trục bắc – nam. Ngay ngã ba chỗ gặp hai đường trục này có tòa nhà kính hai tầng là tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 77 thông tin.
Phía nam khu thành cổ giáp đường Cột Cờ có các cơ sở văn hóa, thể thao, y tế: Câu lạc bộ Quân Nhân. Bảo tàng Quân đội nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Bệnh viện quân y 354. Sau bức tường cao viện quân y 354 là nhà ở của lính đại đội 3 thông tin vô tuyến điện chúng tôi. Tòa nhà một tầng bề thế, nền cao, tường dày, hành lang rộng và trần nhà rất cao. Cách khoảng sân hẹp, dưới bóng soài cổ thụ là nhà làm việc của chúng tôi. Căn phòng rộng với những chiếc bàn đặt máy thu vô tuyến điện do Trung Quốc sản xuất, suốt ngày đêm lao xao tiếng tín hiệu như tiếng chim ríu rít, lúc lảnh lói vút lên, lúc thì thầm như gió thoảng. Nối tiếp khu nhà ở và nhà làm việc của đại đội 3 lính thông tin về phía đông là khu nhà của đoàn thể thao quân đội có tên là đoàn Thể Công. Sau những đợt cán bộ quân đội sang Trung Quốc học lí luận Mác – Lê nin theo cách nhìn nhận, lí giải của Mao Trạch Đông, học chiến thuật, học chỉ huy, học sử dụng vũ khí, pháo, xe tăng . . . trở về, ngôn ngữ trong quân đội Việt Nam sử dụng rất nhiều ngôn từ Hán hoá, từ chiến thuật, kĩ thuật đến tên gọi các đơn vị mới hình thành. Thể Công là công tác thể dục thể thao. Văn công là công tác văn hoá văn nghệ. Đặc công là công tác đặc biệt. Lúc mới ra đời, những năm sáu mươi thế kỉ trước, Thể Công chỉ có các đội bóng đá, đội bóng rổ, đội thể dục nghệ thuật, đội bắn súng và đội xe đạp đua.
Câu lạc bộ Quân Nhân với tòa nhà hai tầng, cửa hướng ngoại nhìn ra cổng mở ra đường Hoàng Diệu nhưng cổng này không bao giờ mở. Cửa hướng nội nhìn vào sân thể thao Cột Cờ. Sân thể thao do người Pháp xây dựng, có tên Pháp là sân Mang Gianh, Manzin, gồm sân bóng rổ láng xi măng giáp bức tường sau bảo tàng quân đội và sân cỏ bóng đá kéo dài tới sát bức tường gạch cổ cổng Đoan Môn. Sân bóng đá có đường chạy rải than xỉ bao quanh. Sau giờ làm việc buổi chiều, đội bóng đá Thể Công đã nghỉ tập thì sân Cột Cờ thuộc về đám lính trẻ chúng tôi. Có lẽ vì sân vận động Cột Cờ chỉ có sân bóng đá và sân bóng rổ nên đoàn thể thao quân đội mang tên Thể Công, chỉ có đội bóng đá và đội bóng rổ lừng lẫy một thời mà không có đội bóng chuyền. Sau năm 1975 mới có đội bóng chuyền Thể Công.
Trong Tổng hành dinh bộ Tổng tư lệnh chỉ hai đơn vị có lính trẻ là tiểu đoàn thông tin 77 và tiểu đoàn cảnh vệ 144. Lính cảnh vệ đều được tuyển từ hai nguồn: người Tày ở Cao Bằng, Lạng Sơn và nông dân có thành phần cơ bản, tin cậy, bần cố nông ở quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh. Lính cảnh vệ như những chiếc bóng, như những hình nhân, chỉ thấy hình mà không bao giờ thấy tiếng. Những chiếc bóng lặng lẽ đứng gác ở bốn cổng đông, tây, nam, bắc thành cổ. Những chiếc bóng âm thầm đi tuần. Hai chiếc bóng di chuyển theo chiều kim đồng hồ trên hè phía ngoài thành cổ năm con đường bao quanh thành. Họ hoàn toàn vắng bóng trong những sinh hoạt đời thường của cơ quan bộ Tổng Tư lệnh, những buổi chiều sôi động trên sân cỏ Cột Cờ, những tối chiếu phim, những đêm biểu diễn nghệ thuật thường xuyên diễn ra ở câu lạc bộ Quân Nhân, ở hội trường lớn C12, Tổng Cục Chính trị.
Ngày 5 tháng tám, năm 1964, máy bay Mĩ khởi đầu đánh phá miền Bắc thì đầu năm 1965, tháng ba, năm 1965, tiểu đoàn 77 đón đợt lính gái đầu tiên. Năm cô gái Hà Nội trở thành lính đại đội 4 mang quân hàm binh nhì vào làm việc ở tổng đài điện thoại 200 và 40. Cuối năm 1965, ngày 5 tháng 11, năm 1965, lại có thêm mười tám cô gái vừa tốt nghiệp khóa đào tạo báo vụ của Tổng cục Bưu điện được tuyển vào lính thông tin đại đội 3 làm việc ở tổng trạm vô tuyến điện.
Những lính trẻ tiểu đoàn 77 thông tin thực sự là những người làm chủ sân cỏ Cột Cờ những buổi chiều nhạt nắng. Chỉ có bốn người không phải lính thông tin thường xuyên tham gia chia quân đá bóng với chúng tôi là đại úy Ngọc ở cục Quân lực, đại úy Nguyễn Bá Đạm, tức nhà văn Lê Khánh ở cục Bản đồ, Bộ Tổng Tham mưu và hai thanh niên dân sự nhỏ hơn chúng tôi vài tuổi, đang là học sinh trung học là Văn Tiến Trình con tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng và Phạm Ngọc Nguyên, con tướng Phạm Ngọc Mậu, phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị. Đôi lần cục trưởng cục Thông Tin Liên Lạc, thượng tá Nguyễn Anh Bảo nước da trắng trẻo, dáng người to đậm cũng vào sân tranh quả bóng với chúng tôi. Năm 1965, máy bay Mỹ đánh phá rất ác liệt vùng cán soong Hà Tĩnh, Quảng Bình nhưng ở Bộ Tổng Tư Lệnh trong thành cổ Cột Cờ vẫn rất thong thả, bình yên. Trong chuyến vào làm việc trong vùng chiến sự Quảng Bình. Chiếc ô tô com măng ca chở thượng tá Nguyễn Anh Bảo bị trúng tên lửa Mỹ. Xe bốc cháy và ba sĩ quan thông tin cấp tá trên xe đầu thiệt mạng. Không biết ai là người đầu tiên báo tin cục trưởng của chúng tôi hi sinh. Tôi chỉ biết một buổi chiều chúng tôi ra sân có Cột Cờ thì nghe tin thượng tá cục trưởng cục Thông tin đã đá bóng với chúng tôi mới hi sinh ở Quảng Bình.
Đặc biệt một buổi chiều chúng tôi đang chia quân làm hai đội thì thượng tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng xuất hiện xin nhập cuộc. Có nhiều tướng làm việc trong thành, nhà ở quanh thành cổ Cột Cờ nhưng chỉ có tướng Văn Tiến Dũng chiều chiều có mặt nơi vận động thể thao. Gốc là dân Cổ Nhuế, lúc đó còn là ngoại thành nhưng liền kề đô thị Hà Nội, biết chơi thể thao, mọi ngày sau giờ làm việc chiều, tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Văn Tiến Dũng thường cùng viên chuẩn uý cần vụ đi bộ từ nơi làm việc ở điện Kính Thiên đến bơi ở bể bơi trong câu lạc bộ Quân Nhân. Ngày đó chưa có hoá chất làm sạch nước. Hàng tuần bể bơi thay nước vào thứ sáu. Tháo nước cũ trong bể bơi vào hệ thống thoát nước thành phố rồi mở nước sạch từ hệ thống cấp nước sinh hoạt cho thành phố vào đầy bể bơi. Hôm đó đúng ngày bể bơi thay nước, ông liền ra bãi đá bóng với chúng tôi. Tháo giầy, cởi chiếc áo quân phục trên ve cổ áo có hàm thượng tướng ba sao, giao cho viên chuẩn úy cần vụ rồi chân đất, áo may ô, quần quân phục, tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng hồn nhiên chạy theo quả bóng cùng đám lính trẻ.
Tầng trên của tòa nhà hai tầng của Câu lạc bộ Quân Nhân là thư viện Quân Đội, là nơi tiếp sau các thư viện ở thành phố Hải Phòng tiếp tục cung cấp cho tôi những tập sách văn chương kinh điển, cho tôi được say đắm đi vào chiêm ngưỡng những tòa lâu dài văn chương thế giới và Việt Nam như Chiến Tranh Và Hòa Bình của Lev Tolstoi, Ai Van Hô của Walter Scott… và Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua của Nguyễn Tuân, Những Ngày Thơ Ấu của Nguyên Hồng… Một tầng lầu ăm ắp sách để đưa hồn nhân văn và tri thức nhân loại đến với vài trăm sĩ quan làm việc ở cơ quan Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Việt Nam nhưng đến thư viện tôi chỉ thấy sự yên tĩnh, vắng lặng, không thấy bóng các sĩ quan. Thường chỉ có mấy thằng lính học trò chúng tôi, Nguyễn Việt Quyền, Phạm Đức gặp nhau bên giá sách thư viện và chúng tôi được chị Hoa, chị Diệp vốn là diễn viên múa hết thời của đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị về trông coi kho sách dành tình cảm thân tình, quí mến cho mấy đứa em biết tìm đến những tập sách quí của các chị.
Dưới toà nhà hai tầng câu lạc bộ Quân Nhân là hội trường và sân khấu nhỏ có khoảng hơn hai mươi hàng ghế, nơi tổ chức những hội diễn và sinh hoạt văn hoá của cơ quan bộ Tổng Tham Mưu. Còn diễn đàn và sân khấu của Tổng Cục Chính Trị là hội trường C 12 cạnh sân cỏ phía sau hai toà nhà hai tầng bề thế của Tổng Cục Chính Trị. Năm 1967 khu A Bộ Tổng Tham Mưu làm hầm bê tông chìm sâu dưới mặt đất cả chục mét bên nền điện Kính Thiên thì khu C Tổng Cục Chính Trị cũng xây hầm bê tông chìm dưới sân cỏ này.
Ba năm tôi sống trên đất hoàng thành kinh kì Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội là những năm tháng thanh bình êm ả cuối cùng và những năm tháng đầu tiên đất Hà Nội đào hầm hào, đắp trận địa, lính đóng quân ở Hà Nội đeo vòng là nguỵ trang trên lưng, tay cầm súng, đi vào cuộc chiến tranh giữa đất và trời, cuộc chiến tranh đánh trả nấc leo thang chiến tranh cuối cùng của Mỹ, máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Ba năm không thể quên đó, tôi đã được chứng kiến những sự kiện để lại dấu ấn trong lịch sử của mảnh đất kinh kì Hà Nội, để lại dấu ấn trong trang sử đất nước và cả những sự kiện để lại dấn ấn trong đời sống tình cảm của tôi. Xin ghi lại vài dấu ấn đó.