Câu chuyện về một tình yêu: Marlene Dietrich và Ernest Hemingway

Lê Thọ Bình

Hemingway và Dietrich, 1938

Họ đã gặp nhau bao nhiêu lần trong đời? Không quá mười lần. Nhưng tình bạn qua thư từ cùng những thổ lộ tình yêu chan chứa lại kéo dài suốt nhiều năm…

Marlene Dietrich qua đời năm 1992 vì một cơn đau tim, sau khi đọc cuốn sách viết về bà do chính con gái bà, Maria, sáng tác. Chính lúc đó, những lá thư Hemingway gửi cho bà mới phát lộ.

Marlene cất giữ chúng trong két an toàn tại ngân hàng không chỉ vì vô cùng trân quý, mà còn vì lo sợ sự tò mò của giới báo chí. Nội dung của chúng, ít nhất là những lá thư từng được đưa ra đấu giá, đã xác nhận một điều: mối quan hệ của họ chỉ nhìn qua thì giống như tình yêu, nhưng chưa bao giờ vượt quá ranh giới của tình bạn. Bản thân Marlene gọi cảm xúc giữa họ là “tình yêu tri kỷ”.

Dù luôn hút về phía nhau, nhưng mỗi lần gặp mặt, số phận lại chia rẽ họ về hai hướng: hoặc bà đang không tự do, hoặc ông đang say đắm một ai đó. Có một khoảnh khắc trong đời, khi gặp lại ông, trái tim bà đập liên hồi hơn bao giờ hết, thì đúng lúc ấy, ông thú nhận rằng mình đã mất trí vì một “nàng Venus bỏ túi” và nhất quyết muốn kết hôn với cô ta.

Marlene đã lao vào giúp đỡ người bạn của mình vì không đành lòng nhìn ông đau khổ. Bà đóng vai người mai mối và vun vén cho Ernest cùng cô nàng Mary bé nhỏ như búp bê; họ đã sống hạnh phúc và có với nhau những người con… Thế rồi, chẳng vì lý do rõ ràng nào, ông lại tự sát. Và đối với Marlene Dietrich, Hemingway mãi mãi là một cuốn sách dở dang.

Đó là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, kể từ khi họ gặp nhau trên con tàu đại dương “Île de France” của Pháp vào năm 1934. Hemingway đang trên đường trở về qua Paris sau chuyến đi săn ở châu Phi, còn Dietrich thì đang sang Hollywood sau khi thăm người thân ở Đức Quốc xã, đó là một trong những chuyến trở về quê nhà cuối cùng của bà. Tuy nhiên, thư từ giữa Hemingway và Dietrich chỉ bắt đầu sau đó 15 năm, khi ông 50 tuổi còn bà 47, và kéo dài cho đến khi nhà văn tự sát vào năm 1961.

Trích đoạn từ cuốn sách Suy ngẫm của Marlene Dietrich:

“…Ann Warner, vợ của nhà sản xuất quyền lực Jack Warner, tổ chức một buổi tiệc trên tàu, và tôi nằm trong số khách mời. Bước vào khán phòng, tôi nhận ra ngay bàn tiệc có mười hai người. Tôi nói: ‘Xin lỗi, tôi không thể ngồi vào bàn, như vậy sẽ thành mười ba người, mà tôi thì rất mê tín.’ Không ai nhúc nhích. Bỗng nhiên, một thân hình vạm vỡ xuất hiện trước mặt tôi: ‘Xin mời ngồi, tôi sẽ là người thứ mười tư!’

Nhìn chằm chằm vào người đàn ông to lớn ấy, tôi hỏi: ‘Ông là ai?’ Giờ nghĩ lại mới thấy lúc đó tôi thật ngốc ngếch làm sao…”

“…đã đến lúc phải nói rằng tôi luôn nghĩ về anh. Tôi đọc đi đọc lại những lá thư của anh và chỉ nói về anh với những người thật thân thiết. Tôi đã chuyển bức ảnh của anh vào phòng ngủ và nhìn nó một cách khá vô vọng.”

“Ông là ‘rặng đá Gibraltar’ của tôi, và ông rất thích danh xưng đó. Những năm tháng trôi qua mà không có ông, mỗi năm lại càng đau đớn hơn năm trước. ‘Thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương’ chỉ là những lời an ủi xáo rỗng, điều đó không đúng, dù tôi rất muốn nó là sự thật.

Chúng tôi viết thư cho nhau trong những năm ông ở Cuba. Ông gửi cho tôi các bản thảo của mình, và chúng tôi trò chuyện qua điện thoại hàng giờ liền.”

“Ngay cả trong thời chiến, ông vẫn luôn rạng rỡ, tràn đầy tự hào và sức mạnh, còn tôi, xanh xao và yếu ớt, luôn sống lại mỗi khi chúng tôi gặp nhau. Ông gọi tôi là ‘bắp cải’. Tôi không có tên gọi đặc biệt nào cho ông.

Tên gọi ‘Papa’ mà mọi người hay gọi ông có vẻ không phù hợp với tôi. Tôi chỉ gọi ông đơn giản là ‘anh’. ‘Nói cho em nghe đi,’ tôi hay bảo. ‘Nói cho em nghe, anh nói cho em nghe đi…’ đại loại như một cô gái nhỏ lạc lối trong mắt ông, và trong chính mắt tôi nữa.”

“Ông là một người trí tuệ, người cố vấn khôn ngoan nhất trong tất cả, là người đứng đầu tôn giáo của riêng tôi. Ông dạy tôi viết lách. Hồi đó tôi đang viết bài cho một tạp chí nội trợ dành cho phụ nữ (‘Ladies’ Home Journal’).

Ông gọi điện cho tôi mỗi ngày hai lần và hỏi: ‘Em đã xả đá tủ lạnh chưa?’ Vì ông biết những ai tập tành viết lách thường hay kiếm cớ trốn tránh ra sao, khi đột nhiên quyết định rằng mình cần phải làm việc nhà.

Từ ông, tôi học được cách tránh những tính từ không cần thiết. Cho đến tận bây giờ, trong khả năng có thể, tôi vẫn bỏ chúng đi. Nếu không còn cách nào khác, tôi mới lén đưa chúng vào sau. Về mọi mặt khác, tôi hoàn toàn tuân theo các quy tắc của ông.

Tôi nhớ ông rất nhiều. Nếu có cuộc sống sau cái chết, có lẽ giờ đây ông sẽ trò chuyện với tôi trong những đêm dài này… Nhưng ông đã vĩnh viễn mất đi, và không nỗi đau buồn nào có thể đưa ông trở lại. Cơn giận dữ cũng chẳng thể chữa lành. Giận dữ vì ông đã bỏ lại bạn một mình cũng chẳng giải quyết được gì.

Trong tôi từng có sự giận dữ, nhưng điều đó chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.”

“Tôi muốn kể về những ngày ông gặp Mary. Đó là trong thời gian chiến tranh.

Tôi được điều động đến Paris và ở trong một tòa lâu đài gần đó. Biết Hemingway đang ở Paris và sống tại khách sạn Ritz (nơi dành cho cấp chỉ huy cao cấp), tôi đã đến gặp ông.

Ông kể rằng mình đã gặp một ‘nàng Venus phiên bản bỏ túi’ và nhất quyết muốn có được cô ấy, bất chấp việc bị từ chối ngay trong lần tỏ tình đầu tiên. Tôi phải giúp ông và nói chuyện với cô ấy. Không thể giải thích được tại sao một người đàn ông lại bị thu hút bởi chính người phụ nữ này mà không phải người khác.

Mary Welsh là một người phụ nữ khá tầm thường, ít cuốn hút. Bây giờ tôi mới hiểu rằng mình đã không giúp ông một việc tốt cho lắm, lúc đó tôi đã làm những gì ông muốn. Mary không yêu ông, tôi chắc chắn về điều đó, nhưng cô ta chẳng có gì để mất.

Dù không muốn, tôi vẫn bắt đầu thực hiện sứ mệnh của mình, nói chuyện với cô ấy. Cô ấy dứt khoát nói: “Tôi không muốn ông ấy”.

Tôi đã cố gắng thuyết phục, nói về những ưu điểm của Hemingway, về cuộc sống có thể có bên cạnh ông. Tôi, một vị đại sứ toàn quyền, đã ngỏ lời ‘cầu hôn’ thay ông.

Đến trưa, cô ấy bắt đầu xuôi xuôi. Giờ ăn trưa tại khách sạn Ritz là lúc các cô gái dễ mủi lòng hơn cả. Mary Welsh, ‘nàng Venus kích thước bỏ túi’, cũng nằm trong số đó. Cô ấy nói với tôi rằng mình đã suy nghĩ kỹ về lời đề nghị.

Khi chiều tối đến, Mary xuất hiện với nụ cười rạng rỡ và thông báo rằng cô nhận lời cầu hôn của Hemingway. Người chứng kiến duy nhất cho sự kiện này chính là tôi. Tôi chưa bao giờ thấy ai hạnh phúc hơn thế. Chừng như những tia sáng rực rỡ đang phóng ra từ cơ thể vạm vỡ của ông để làm cho mọi người xung quanh đều hạnh phúc. Ngay sau đó, tôi lên đường ra mặt trận và không gặp lại ông hay Mary cho đến khi chiến tranh kết thúc”.

“Tình yêu của tôi dành cho Hemingway không phải là sự gắn bó thoáng qua. Chỉ là chúng tôi chưa từng ở cùng một thành phố đủ lâu. Hoặc là ông đang bận rộn với một cô gái nào đó, hoặc là tôi không tự do khi ông rảnh rỗi. Và vì tôi tôn trọng quyền lợi của ‘người phụ nữ khác’, tôi đã bỏ lỡ vài người đàn ông tuyệt vời, như những con tàu đêm rực sáng lướt qua nhau.

Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng tình yêu của họ dành cho tôi sẽ kéo dài lâu hơn nhiều nếu bản thân tôi là một con tàu đang neo đậu trong hải cảng.”

————–

Bản dịch cuốn sách Suy ngẫm của Marlene Dietrich là tác phẩm văn học cuối cùng của ca sĩ nổi tiếng thời Liên Xô, Maya Vladimirovna Kristalinskaya. (Размышления. Москва: Искусство, 1985)

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.