Trương Thị An Na


Tôi bắt đầu tìm hiểu về tranh của Piet Mondrian khi có ý định cùng với nhóm làm việc của mình muốn sáng tác các mẫu thêu theo phong cách của ông. Ngay khi có ý tưởng ấy, tôi tìm đến bảo tàng Beaubourg ở Paris để xem lại những bức tranh được vẽ theo trường phái trừu tượng của Mondrian đang được trưng bày ở đây. Mặc dù đã tập trung để xem một cách chăm chú, cố gắng hình dung để hiểu và cảm nhận nhưng quả thật lúc đó mọi nỗ lực của tôi đều hầu như vô nghĩa, tôi không thể nắm bắt được nội dung cũng như không cảm nhận được những gì mà ông muốn truyền tải qua các bức tranh đó. Phải chăng tại vì tôi chưa có đủ trực giác, chưa có đủ sự sâu lắng của tâm hồn khi đứng trước chúng?
Những bức tranh này muốn nói điều gì là điều mà tôi vẫn thường băn khoăn khi xem tranh của Mondrian. Tôi cứ loanh quanh đi tìm lời giải thích và rồi nhận ra là không nên tìm kiếm nữa bởi sẽ chẳng có lời giải thích nào thỏa đáng cho điều băn khoăn đó của tôi cả. Tôi chỉ biết rằng, tranh của ông đôi khi chỉ là những nét chấm phá đậm nhạt nào đó nhưng lại là thứ ngôn ngữ vô cùng hữu dụng mà người họa sĩ đã gửi gắm rất nhiều tâm tư, nỗi niềm của mình. Có lẽ vì thế khi xem tranh không phải ai cũng nắm bắt được hết ý nghĩa của tranh mà chỉ có những người thật sự say mê, biết thưởng thức thì mới hiểu được nội dung mà tác giả muốn truyền tải. Bởi sau tất cả giá trị mà tác phẩm thể hiện lại chính là tác phẩm, chính là cái đã mang đến sự tự thỏa mãn cho chính nó. Cũng giống như nếu ta xem mỗi bức tranh là một bản nhạc thì chúng ta sẽ có niềm vui thích của việc được tận hưởng âm nhạc. Chẳng hạn, khi nhìn bức Composition n°1 avec bleu et jaune (1927), người xem cũng có thể tưởng tượng và hình dung cái ô màu xanh ở phía bên phải và ô màu vàng ở phía dưới bên trái có hai âm cộng hưởng giống như cây đàn piano ở phía tay trái khi nhấn hai nốt cùng nhau thì sẽ làm thành một hợp âm. Đó chính là âm nhạc, một loại âm nhạc không cần sự réo rắt, sự bay bổng thánh thót của bất cứ một âm thanh nào. Đó là một thứ âm nhạc được làm nên từ những mảng màu vỡ tung ra rồi lại được hợp ghép lại trên tất cả các hướng.

Composition n°1 avec bleu et jaune (1927)
Dù rất khó để tiếp cận với tranh theo trường phái trừu tượng của Mondrian nhưng tôi vẫn tiếp tục tìm hiểu về ông và tranh của ông. Được biết rằng, nghệ thuật với ông luôn phản ánh tinh thần của tự nhiên, ông tìm cách đơn giản hóa các chi tiết của bức tranh thành những yếu tố căn bản nhất để thể hiện nguồn năng lượng trong sự cân bằng của vũ trụ. Ông phải giản lược mọi chi tiết miêu tả thế giới. Ông giới hạn bảng màu của mình chỉ còn màu trắng, đen, xám và ba màu cơ bản xanh, vàng và đỏ. Ông không bao giờ trộn các màu; ông luôn dùng màu thuần khiết để mô tả cái đẹp của sự hóa thân, năng lượng và vẻ đẹp thân thể của con người. Những đường ngang dọc thể hiện những yếu tố đối lập giữa con người và thiên nhiên, cá nhân và tập thể. Không gian trong tranh của ông không bao giờ đóng mà luôn được mở tung ra và không ngừng theo đuổi triết lý: những bức tranh đó có thể thay đổi được cả thế giới, có thể bãi bỏ sự thô bạo, độc đoán, chuyên quyền của con người cũng như của thế giới quanh họ.
Dù có mục đích rõ ràng cho chuyến đi thăm bảo tàng lần này, dù đã lờ mờ hiểu ra một chút giá trị biểu cảm của một số bức tranh, dù không hề nản lòng nhưng tôi vẫn thấy vô cùng chông chênh. Tôi vẫn chưa thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái hồn trong mỗi bức tranh nên tôi đành từ bỏ ý định ban đầu của mình. Vả lại, tôi được biết những tìm tòi sáng tạo của ông đã được khai thác, sử dụng và trở nên phổ biến trong các lĩnh vực kiến trúc, thiết kế, “mốt” và quảng cáo. Một trong số rất nhiều công trình kiến trúc được lấy cảm hứng từ nghệ thuật sử dụng màu sắc của Mondrian là tòa nhà Rietveld Schröder, cùng hình ảnh chiếc ghế màu đỏ và màu xanh đã trở thành một di sản văn hóa của UNESCO. Nhà thiết kế Yves Saint Laurent cũng đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ phong cách hội họa của Mondrian; ông đã có một bộ sưu tập các loại váy áo rất ấn tượng và nổi tiếng một thời từ cách thiết kế phô diễn các gam màu giống như của Mondrian. Hãng L’Oréal cũng khai thác phong cách tranh của ông cho những sản phẩm thiết kế của mình. Ngoài ra, tranh của ông còn được dùng rất nhiều trong lĩnh vực quảng cáo. Người ta luôn tìm thấy ảnh hưởng từ các bức tranh của ông trong rất nhiều đồ vật của cuộc sống thường ngày như bàn, ghế, tủ, chăn, gối và trên cả những đôi guốc thời trang của phụ nữ.
Do gặp một vài khó khăn như thế nên tôi đành tạm gác lại việc tìm hiểu về tranh của Mondrian. Mãi một thời gian, vào năm 2011 tôi mới quay trở lại với tranh của Mondrian trong cuộc triển lãm Mondrian và tạp chí De Stijl cũng được tổ chức tại bảo tàng Beaubourg. Lần này tôi quyết định đi xem theo nhóm và có người hướng dẫn.
Chúng tôi bắt đầu bằng cách xem thật kỹ bức tranh L’Arbre gris (1911) (Cây màu xám). Đây là một trong những bức tranh quan trọng của Mondrian vì nó đánh dấu sự chuyển đổi phong cách sáng tác từ hiện thực sang lập thể và trừu tượng của ông. Đứng trước bức tranh này, người xem thường đặt ra cho mình nhiều câu hỏi: Nó có đặc tính gì? Rỗng, đầy hay có bề sâu? Có phải những cành cây trĩu nặng vì băng tuyết đang bám dày đặc trên chúng hay vì những bông hoa màu trắng xám nở đầy trên các cành cây? Có phải rất nhiều chiếc ghế đá đặt xung quanh cây nhưng không có người ngồi? Khi nhìn tận sâu vào phía sau bức tranh, ta như thấy cả một ngôi làng với những mái nhà và hàng cây nằm nép bên nhau ngay hàng thẳng lối. Dẫu bức tranh chỉ có hai màu xám, trắng với những đường xiên, những hình khối, những đường cong đổi chiều liên tục, dù chỉ là những nét vẽ tối giản và rất trừu tượng nhưng người xem vẫn nhận ra hình dạng của cây với thân và cành, không có lá và phỏng đoán được những gì xung quanh nó. Vì “Piet Mondrian đã đơn giản hóa các yếu tố để phản ánh những gì ông thấy, thứ tự tinh thần nằm bên dưới thế giới hữu hình, tạo ra một ngôn ngữ thẩm mỹ rõ ràng, phổ quát trong tranh vẽ của ông” nên dù bức tranh không quá đặc biệt nhưng vẫn gợi cho người xem về một sức mạnh tiềm ẩn, một cuộc sống vẫn diễn ra dù thầm lặng, giản dị như chính màu xám mà ông đã dùng để vẽ và đặt tên cho bức tranh của mình. Người xem vẫn cảm nhận được rằng dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu, dù có mưa gió bão bùng thế nào thì cây cối cũng như cuộc đời của mỗi con người vẫn sẽ mãi vươn lên.

Cây màu xám (1911)
Les Pommiers en fleurs (1912) (Cây táo nở hoa) là bức tranh tiếp theo mà chúng tôi được xem. Cô hướng dẫn viên giải thích rằng, năm 1911, khi Mondrian đến xem triển lãm của Picasso và Braque ở Amsterdam, ông thấy những bức tranh của hai họa sĩ này tuyệt đẹp, nên ông liền quyết định đi Paris để tìm gặp họ. Năm 1912, ông chuyển đến ở Paris và cũng trong năm đó ông đã vẽ bức tranh này. Xem bức tranh, tôi bắt đầu nhận ra sự chuyển đổi trong lối vẽ của ông. So với bức Cây màu xám, thì ban đầu nếu không có tiêu đề có lẽ tôi không thể nhìn ra được hình dạng của cây. Thế mới thấy rằng khả năng thách thức trí tưởng tượng, cũng như sự hấp dẫn của thể loại tranh này mang lại là vô cùng lớn đối với người xem.

Les Pommiers en fleurs (1912)
Trong bức tranh, hình ảnh ở vị trí trung tâm có một vai trò quan trọng giúp người xem có cơ sở để nhận biết ra cái cây. Cảnh sau và cảnh trước đều được mô tả bởi các lớp đường thẳng và những đường cong hình bầu dục chồng lên nhau, từ đó tạo nên những mặt phẳng giao điểm trong bức tranh. Cây táo nở hoa nằm trong ranh giới giữa hiện thực, lập thể và trừu tượng, đó là sự đơn giản về màu sắc, là cách thức để đơn giản hóa cuộc sống. Lúc này, chủ đề gần như không còn quan trọng nữa, mà chính nhịp điệu, chính mối quan hệ giữa cái rỗng và cái đầy, chính sự di chuyển ánh nhìn và bức tranh đã trở thành một bề mặt cho chính nó.
Người xem cũng có thể nhận ra hình ảnh một khuôn mặt thanh thoát tỏa sáng bởi màu vàng nâu thấp thoáng giữa hàng loạt các đường thẳng và đường cong, đa phần chúng được sắp xếp theo chiều ngang, còn một số rất ít nằm theo chiều dọc ở phần giữa và phía dưới của bức tranh. Cũng từ những đường thẳng, đường cong hình bầu dục tưởng như là giản đơn đó, người xem có thể nhận ra mỗi cành cây, mỗi chiếc lá đang như cố tỏa ra, vươn mình vào trong vũ trụ bao la để bao bọc lấy, để chở che cho bao kiếp nhân sinh. Hình ảnh cây táo nở hoa gợi cho ta niềm hy vọng, niềm tin mãnh liệt dù cuộc sống có khó khăn thế nào chỉ cần cố gắng, chỉ cần mọi người dành cho nhau tình yêu thương thì hạnh phúc rồi cũng sẽ đến. Nhìn hai con mắt với hình dáng khác nhau, một nằm ngang và một xếch lên như đang quan sát những gì xảy ra với thế giới xung quanh, tôi chợt nghĩ rằng, dù bạn nhìn hiện tượng, sự kiện, cuộc đời theo cách nào thì nó vẫn đáng yêu, đáng trân quý, vì “Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa / Tại sao cây táo lại nở hoa” (Lưu Quang Vũ).
Sau hai bức tranh đầu tiên, chúng tôi đã dừng lại rất lâu trước bức tranh Jetée et océan 5, (1915) (Đập và đại dương 5). Vào thời điểm này, Mondrian bỏ qua trường phái lập thể và phát triển thành trường phái trừu tượng thuần túy. Bức tranh này đạt tới một sự đơn giản, chỉ còn lại kiểu hình học với những gạch ngang và gạch dọc tạo nên tính đối xứng xung quanh một trục đường thẳng ở trung tâm làm nên sự cân bằng cho bức tranh. Chủ đề của Đập và đại dương 5 được thể hiện bằng các đoạn thẳng ngắn sắp đặt theo chiều ngang và thẳng đứng thành những chữ thập trên nền màu vàng để tạo ra một quả cầu Jetée et océan 5. Theo Mondrian, cảm xúc của cái đẹp là do sự tương tác của nhiều yếu tố và là kết quả của các mối quan hệ. Ông cho rằng vẻ đẹp của thiên nhiên dựa trên sự cân bằng và hài hòa, không nhất thiết phải là sự đối xứng. Hình ảnh một quả cầu không giới hạn với những đường gạch bằng đá đen, những đường gạch nhỏ bất tận được đặt liền nhau gợi cho người xem hình ảnh của trái đất, hành tinh xanh. Ở giữa của phần phía trong được chế ngự bởi sự xuất hiện liên tiếp những đường dài theo chiều dọc. Người ta có thể thấy trong tổng thể là sự hiện diện và cách điệu hóa rất tài tình của hình ảnh một cái đập đang vươn ra ngoài biển để cho tàu bè có nơi neo đậu. Xung quanh có các đường thẳng góc nối tiếp nhau như là biểu tượng của những con sóng đang vỗ nhè nhẹ vào bờ đá và sự phản chiếu của ánh sáng trên các làn sóng.

Đập và đại dương 5 (1915)
Đến đây, cô hướng dẫn viên nhấn mạnh với chúng tôi rằng, trong cuộc truy tìm hình dạng, Mondrian đã dần dần tiến tới việc loại bỏ motif. Quả vậy, chúng tôi đã thấy rất rõ có một sự tiếp nối trong cách vẽ của Mondrian từ hình ảnh cái cây đến đại dương. Bức tranh này thực sự đạt được về hình ảnh của đại dương, là kết quả của những cuộc thử nghiệm và sự tìm tòi, khám phá trên hình ảnh cây của Mondrian, vì thế sự thể hiện các dạng cũng có chiều sâu hơn. Tại đây, các đường gạch đã truyền tải được theo chiều của trừu tượng, đó là những đường thẳng được xem là biểu tượng của sự mong muốn, những đường ngang lại gợi đến sự hài hòa.
Ngoài ra, người hướng dẫn còn chỉ cho chúng tôi thấy nếu bức tranh Arbre gris bao gồm một loạt các cành cây thì ở bức Jetée et océan 5 lại bao gồm vô số các đường gạch. Nếu Arbre gris với cái nhìn được nâng lên thành phong cách có tính hữu cơ thì Jetée et océan 5 lại là sự giản lược hóa hình học (qua việc thay thế các đường cong bằng các đường thẳng). Arbre gris đã mang đến tính siêu việt của hình ảnh, nghĩa là đằng sau hình ảnh còn là sự thể hiện của những điều khác nữa, còn đối với Jetée et océan 5 đã tạo ra được những tín hiệu của cái hồn trong bức tranh.
Như vậy, đối với Arbre gris, dù chỉ có hai màu đen, trắng cùng những nét bên ngoài thì chủ đề vẫn nhận dạng được còn đối với Jetée et océan 5, Mondrian lại cố gắng mang đến motif những dạng đơn giản và các kiểu hình học, ông dần tiến gần hơn đến sự trừu tượng nên nếu không có chủ đề thì quang cảnh sẽ không còn nhận biết được nữa.
Rời Jetée et océan 5, chúng tôi đến với bức Composition en rouge, jaune, bleu et noir (1921). Bức tranh được mô tả bởi bốn màu: đỏ, vàng, xanh lam và đen. Đây là những màu mà ai cũng đã từng thấy ở khắp mọi nơi và đều dễ dàng nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên. Bức tranh này tuyệt nhiên không có đường cong và xiên. Các màu sắc được sắp xếp theo từng khối với chiều rộng mỗi ô khác nhau, trong đó có một khối màu đỏ là lớn hơn, nhưng về tổng thể bức tranh lại rất hài hòa và cân bằng bởi sự phân phối hợp lí giữa các khối màu vàng, xanh xám, màu trắng nhỏ hơn xung quanh nó. Chỉ là các khối hình xếp cạnh nhau nhưng người xem càng nhìn càng thấy yếu tố nghệ thuật, vật chất và tinh thần đã hòa quyện vào nhau để tạo ra sự kích thích về một cách nhìn mới đối với tranh trừu tượng. Không những thế, các đường thẳng hình học và màu sắc cơ bản của bức tranh giúp người yêu thể loại tranh trừu tượng như nghe được những cảm xúc, giai điệu nhạc ẩn chứa trong đó. Bởi sự chặt chẽ trong việc thể hiện các đường nét tưởng như là đơn giản đó đã mang đến cho người xem một bản nhạc mà những nốt nhạc chính là các mảng màu nguyên thủy. Với tôi, khi ngắm nhìn bức tranh, tôi như thấy trước mắt mình là một xã hội thu nhỏ, mỗi ô như là một mảng màu của cuộc sống, là những tòa nhà, những đường phố, những giao lộ, những con đường ngược xuôi trong thành phố. Bức tranh chỉ được thể hiện bởi những màu cơ bản, rất giản dị, không hề rực rỡ nhưng lại mang đến cho người xem tinh thần phấn chấn bởi đó chính là màu của hi vọng, màu của ý chí, màu của niềm tin vào cuộc đời, màu của sự chói sáng, khát vọng vươn lên chiến thắng…

Composition en rouge, jaune, bleu et noir (1921)
Composition New York City 1-6 (1941-1942) là bức tranh cuối cùng mà chúng tôi được xem trong cuộc triển lãm này. Nhiều người cho rằng đây là hình ảnh mạng lưới giao thông với những đường phố ngang dọc, xe cộ qua lại tấp nập cùng ánh đèn điện nhấp nháy của thành phố Manhattan ở nước Mỹ. Ở bức này, chúng ta sẽ không còn thấy những đường màu đen cùng với các hình chữ nhật có một vài màu cơ bản như trong bức tranh Composition en rouge, jaune, bleu et noir nữa mà thay vào đó là các đường kẻ màu vàng, đỏ và xanh đi ngang, đi dọc, đan xen với nhau tạo nên những hình vuông nhiều màu sắc, sắp đặt thành nhiều lớp tạo nên cảm giác của sự chuyển động vô cùng nhộn nhịp tựa như cuộc sống sôi động và tất bật của thành phố New York.

Composition New York City 1-6 (1941-1942)
Quan sát kĩ, người xem sẽ thấy, phần lớn các đường màu vàng cắt ngang các đường màu đỏ và màu xanh, nhưng ở đâu đó, các đường màu đỏ và xanh lam lại cắt ngang đường màu vàng làm cho các dải màu như chồng lên và đan xen nhau trên cùng một bề mặt. Phải chăng sự thay đổi trong phong cách vẽ này của Mondrian cũng chính là sự giải phóng nội tâm của bản thân ông kể từ sau khi ông chuyển đến sinh sống ở Mỹ? Những bức tranh của ông thời kỳ này có một tông màu tươi tắn hơn. Sự phân bố không đối xứng của các ô vuông màu rực rỡ trong các đường màu vàng cho thấy nhịp độ khác nhau của cuộc sống trong một đô thị nhộn nhịp, người xem cũng có thể hình dung ra đó là cảnh người đi bộ đang vội vã bước trên vỉa hè, dòng xe cộ nối đuôi nhau hối hả chạy trên các con đường. Nếu như trong họa có nhạc thì ở bức tranh này người xem sẽ thấy nhịp điệu nhạc như nhanh hơn, sôi động hơn. Đó chính là nhịp điệu của cuộc sống đô thị hiện đại. Thế mới thấy rằng, nền văn hóa mới và thành phố New York đã có ảnh hưởng rất nhiều đến bức tranh của ông.
Tôi rời cuộc triển lãm mà không còn có cảm giác muốn nhảy chân sáo trên khoảng rộng mênh mông trước cửa Beaubourg như những lần xem tranh trước đây. Đầu óc tôi như muốn vỡ tung với bao nhiêu điều chưa thể hiểu hết về tác phẩm theo phong cách trừu tượng của người họa sĩ Hà Lan tài ba này. Nhưng dù sao bức Arbre gris cũng đã bắt đầu dẫn dắt tôi đến với một số bức tranh dạng này của Mondrian. Chính từ hình ảnh cây màu xám đó, tôi đã dần dần hiểu được tranh của Mondrian và một số điều mà ông muốn chuyển tải, giống như ông đã từng nói: “Cái điều mà tôi muốn bày tỏ trong tác phẩm của tôi ư? Không có gì khác ngoài cái điều tìm kiếm trong mỗi bức tranh: diễn đạt sự hài hòa bởi sự tương đồng của các mối quan hệ giữa các đường và màu sắc và mặt phẳng. Nhưng điều này với một cách rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn”.

Đụn cát 1 (Dune 1) Đụn cát 3 (Dune 3)
Bẵng đi một thời gian, mãi đến năm 2015 trong dịp đi xem bức tranh Tiếng thét của Munch ở triển lãm của Quỹ Louis Vuitton, tôi lại được xem tranh của Mondrian, nhưng lần này đã hoàn toàn khác. Những bức tranh của ông treo ở đây gần như khác hẳn với những bức mà tôi đã xem ở cuộc triển lãm ở Beaubourg. Đầu tiên là bức Dune 1 và Dune3(Đụn cát 1 và đụn cát 3), (1909), qua những gì mà ông thể hiện, người xem hình dung ra trước mắt mình là những đụn cát được hình thành bởi gió và biển, từng ngày, từng ngày được bồi đắp cao lên trông như từng ngọn núi xếp lại thành những hàng rào chắn nhằm chống cự với thiên nhiên, chống lại sự xâm lấn của đại dương để bảo vệ đất liền. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi xem bức tranh này của Mondrian, quả là sự khám phá đầy thích thú bởi trước đây tôi cứ nghĩ tranh của ông chủ yếu mang phong cách trừu tượng như những bức mà tôi đã xem ở Beaubourg. Nhưng khi xem những đụn cát này, tôi cảm nhận được nhịp điệu của các nét, chính các nét đó chiếu sáng lên những đụn cát khiến cho chúng không bị biến mất trong nước mà chỉ nhạt dần làm cho cồn cát như hòa nhập với bầu trời phía trên. Hình ảnh này đã tạo ấn tượng về sự thống nhất của thiên nhiên, của một chuyển động mạnh mẽ nhưng hài hòa, của một sự vô hạn yên tĩnh. Ở trong hai bức tranh này, tôi gặp lại phong cách vẽ bằng các dấu chấm, Mondrian thật quá đặc biệt, ông đi qua quá nhiều phong cách từ trừu tượng đến lập thể và bây giờ là họa chấm.
Với tranh của Mondrian, tôi vẫn còn nhiều kỉ niệm, lần gần đây nhất là vào mùa thu năm 2019, trong một lần trở lại Paris, tôi thấy một áp phích về triển lãm tranh của ông ở bảo tàng Marmottan. Trên áp phích này có in hình bức tranh của một cô gái trẻ, khiến cho lúc đầu tôi cứ nghĩ mình đang nhầm với một họa sĩ khác cùng tên. Nhưng khi đọc kỹ thông tin thì đúng là quảng cáo về cuộc triển lãm tranh của Mondrian. Triển lãm lần này có chủ đề là Mondrian figuratif (Hội họa tượng hình). Mondrian vẽ theo truyền thống ư? Ông là họa sĩ của trường phái ấn tượng ư? Một người không được học về hội họa như tôi không thể tránh khỏi những bất ngờ. Tôi nhìn chân dung cô gái trong tấm affiche mà cứ ngỡ như mình đang xem tranh của Van Gogh. Hóa ra đó là hình ảnh bức vẽ mà Mondrian hoàn thành vào năm 1908 với tiêu đề là Devotion (Cô gái tóc vàng hung). Cô gái có bộ tóc vàng hung rực sáng, với khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu và thánh thiện, cô đang ngước ánh mắt nhìn lên về phía xa và dường như đang cầu nguyện. Trước mặt cô là một bông hoa cúc xòe tung các cánh có màu pha lẫn giữa vàng, đỏ và xanh. Tôi tự hỏi rằng tôi sắp đối diện với một Mondrian như thế nào nữa đây? Tôi vội vàng đi đến cuộc triển lãm.

Devotion (1908)
Tôi đã vô cùng ngạc nhiên đến vỡ òa ngay khi bước chân vào phòng trưng bày thứ hai với tiêu đề “Vẽ theo truyền thống”. Quang cảnh với màu sắc tĩnh lặng và yên bình, gợi lại không khí trong lành, yên ả của nông thôn Hà Lan. Lúc này, tôi thực sự không tin nổi những gì đang hiện ra trước mắt mình. Có lẽ do tôi chịu sự ám ảnh bởi cảm giác bị đè nặng quá mức trong cuộc hành trình đi tìm cái đẹp của những bức tranh theo trường phái trừu tượng của Mondrian, vậy nên lúc này tôi thấy mình thật thư giãn và vô cùng khoan khoái hít một hơi thật sâu để thưởng thức sự ấm áp, sự gần gũi với thiên nhiên trong những bức tranh trước mắt mình.
Tranh của Mondrian cho tôi thấy hội họa chính là phương thức mô tả sức mạnh của thiên nhiên và những tình cảm của con người một cách chân thực nhất, đúng như những gì ông đã quan sát được. Từ những con đê, những bãi biển đầy cát đến biển cả mênh mông và chân trời xa tít tắp,… tất cả tưởng như chỉ là những cảnh quan bình dị vậy mà từ những nét vẽ của ông với các cấp độ khác nhau trong cấu trúc về chiều ngang, chiều dọc đã làm cho khung cảnh Hà Lan đẹp đến mê mẩn lòng người. Điều này được thể hiện rõ nét nhất qua những tác phẩm như Cây màu đỏ hay Cối xay gió.
Với tác phẩm Arbre rouge (1908-1909) (Cây màu đỏ) Mondrian đã mô tả một cái cây có màu đỏ từ thân gốc chắc khỏe cho đến các nhánh mẹ và các cành đều có hình dáng quăn queo, ngoằn ngoèo, bện xoắn. Thời kì này, Mondrian chú ý đến cấu trúc phức tạp và hỗn loạn của cây nên ông thường thể hiện cảm nhận của mình qua các chi tiết hơn. Hình dạng cụ thể của cây ở bức tranh này được ông vẽ rõ ràng hơn, nhưng được giản lược để tiến gần với bản chất, đạt tới cái “tinh túy của cây” chứ không phải chỉ là hình ảnh giống sơ đồ hình cây như những bức tranh trước đây. Ông thể hiện được mối liên hệ qua lại giữa cảnh trước và cảnh sau bằng một thân cây chắc chắn. Bóng tối được tạo ra qua sự phát tán của các cành lớn và các cành nhỏ trong không gian rỗng bao phủ xung quanh. Người xem vô cùng thích thú khi tác giả sử dụng sự đối lập giữa màu đỏ rực rỡ và màu xanh lam dịu mát để tạo nên hình ảnh của một cây màu đỏ, và đằng sau nó là một màu xanh tươi mát với độ sáng càng tăng dần lên khi các cành càng vươn cao lên phía bầu trời. Chính hiệu ứng màu xanh của bầu trời, màu đỏ rực của cây với vô vàn bông hoa trên những cành cây cùng những cánh hoa đã rụng xuống quanh gốc đã mang đến cho người xem một cảm giác vui tươi, rạo rực, một niềm xúc động dâng trào với con người, với cuộc đời xung quanh mình.

Cây màu đỏ (1908 – 1909)
Tiếp theo là bức tranh Arbres au clair de lune (1908) (Cây dưới ánh trăng). Ấn tượng đầu tiên của người xem là một màu nâu đỏ ngập tràn, chiếm gần trọn không gian của bức tranh. Một hàng cây màu xanh cùng với bóng của chúng in hình dưới mặt nước, và bầu trời cũng bị ánh trăng vàng nhuộm sang màu nâu xám. Giữa không gian huyễn hoặc bởi một màu nâu đỏ, đằng sau hàng cây đứng soi bóng xuống mặt nước, người xem nhìn thấy một mặt trăng to tròn e ấp ngời sáng thu hút mọi ánh nhìn vào nó. Hình ảnh hàng cây tự tình với ánh trăng vàng giữa mênh mang mây trời, sông nước trong đêm gợi cho người xem một chút buồn man mác, một nỗi nhớ mơ hồ xa xôi nào đó về những ngày đã qua và một mong ước nhỏ nhoi cho những ngày sắp tới.

Cây dưới ánh trăng (1908)
Chia tay hàng cây để đến với các bức tranh về quang cảnh nông trại, tôi đã dừng lại hồi lâu trước bức Une ferme à Duivendrecht (1916) (Nông trại ở Duivendrecht). Sự trở lại này của Mondrian đã gây ngạc nhiên cho giới hội họa bởi lúc này ông đang vẽ theo trường phái trừu tượng, mà tiêu biểu là bức tranh Composition ovale en plans de couleurs 2 (1914). Tuy vậy, bức tranh nông trại ở Duivendrecht không hẳn chỉ là sự thể hiện đơn giản về một motif phong cảnh của Hà Lan, mà ở đó ông đã cho thấy tài năng sử dụng màu của mình. Bức tranh đưa người xem đến một trang trại với sông nước hữu tình cùng vài ngôi nhà nép mình dưới bóng cây trong một buổi chiều khi hoàng hôn đang buông xuống. Mọi thứ từ cây cối, mái nhà, dòng sông… được phủ lên một màu vàng cam rực rỡ của ánh mặt trời cuối ngày. Toàn bộ trang trại, từ ngôi nhà, cây xanh và bóng của chúng được các dải ánh sáng chiếu vào, phản xạ thành hình ảnh lung linh, huyền ảo. Các đường nét trong tranh rất rõ ràng, ánh sáng ở phần đầu cảnh rất đậm, rồi nhạt dần ở sau lưng ngôi nhà cho đến cuối đường chân trời, tạo ra vô số vầng hào quang đẹp một cách lộng lẫy. Các cành cây như một mạng lưới với những đường ngang và những đường dọc bao quanh cùng màu sắc xanh, vàng và hồng nhìn xa như những tổ ong treo lơ lửng trên cành. Tất cả cành cây không đều và không có lá, in hình rõ nét trên bầu trời trở thành những dáng hình cong theo nhịp điệu. Khi ánh mặt trời đi ngang qua những tổ ong đó làm cho chúng như bốc lửa đỏ rực, cảm giác giống như các đốm lửa đang giăng mắc lên các cành cây và rơi xuống mặt nước. Người xem chắc hẳn hình dung trong ngôi nhà ấm áp này mọi người đang hạnh phúc vui vẻ quây quần cùng nhau quanh bữa ăn tối với những câu chuyện, những nụ cười rạng rỡ. Lòng tôi cũng lâng lâng nhớ về ngôi nhà thân yêu thời thơ ấu.

Une ferme à Duivendrecht (1916)
Kết thúc buổi triển lãm, tôi lại đắm chìm trong series tranh cối xay gió của Mondrian. Mặc dù tôi đã từng nhiều lần được tận mắt ngắm nhìn những cối xay gió trên các cánh đồng rộng lớn bao la ở đất nước thấp hơn mặt nước biển này nhưng sao cối xay gió của Mondrian với vẻ đẹp kỳ lạ của màu sắc và sự sắp xếp một cách hoàn hảo của chúng lại làm tôi không kìm nén nổi cảm xúc. Bằng tài năng của mình, Mondrian đã mang lại giá trị, nâng tầm cho những cái cối xay gió rất đỗi bình dị của quê hương mình lên một vẻ đẹp siêu thực đến ngỡ ngàng.
Cối xay gió nào cũng đẹp nhưng Moulin dans le crépuscule (1907-1908) (Cối xay gió trong chiều hoàng hôn) có những vẻ đẹp vô cùng đặc biệt. Vào một buổi chiều, khi mặt trời đã chạy trốn và mất hút về phía chân trời, nhưng những tia sáng vẫn còn cố nán lại và hắt ánh sáng lên khoác cho bầu trời một tấm áo vàng rực rỡ và rồi trong không gian mờ ảo ấy, hình dáng của cối xay gió như một chữ thập rất thẳng sừng sững hiện lên trong bóng tối mờ mờ đang dần buông xuống. Tháp cối xay gió hình trụ, rất to được xây dựng trên một khoảng đất bằng phẳng, bám chặt vào trong đất tạo cảm giác đồ sộ và chắc chắn, đổ bóng xuống mặt hồ nước thành một màu đỏ sẫm. Những cái cánh của nó tạo ra một khoảng tối mờ nhẹ. Người xem có thể hình dung được cả những khung bằng gỗ của cối xay gió. Lúc này dường như những cái cánh đã dừng lại nghỉ ngơi sau một ngày làm việc không biết mệt mỏi. Những ngọn gió cũng biết như vậy nên đã không khuấy động sự nghỉ ngơi của nó bằng một buổi chiều tĩnh lặng. Bức tranh như bị cắt ngang thành từng dải theo chiều rộng. Từ trên xuống, ta có thể thấy một mảng bầu trời vẫn còn giữ được màu xanh da trời pha hồng, tiếp đến là khoảng bầu trời có màu vàng tươi tắn do ánh hoàng hôn hắt vào, rồi đến khoảng trời khác có màu xanh lơ. Nối theo đó là khoảng đất trống như một dải ruy băng phủ đầy cỏ cây với màu xanh sẫm và màu nâu ở gần cối xay gió. Tiếp theo sau là hình ảnh êm đềm của một dòng sông mà trên mặt nước có hình ảnh phản chiếu bóng của cối xay gió. Sau cùng, ngay vị trí gần với người xem nhất là một dải đất được ánh sáng còn sót lại của mặt trời nhuộm thành một màu vàng chanh gần giống với dải bầu trời ở phía xa xa.

Moulin dans le crépuscule (1907-1908)
Tài nghệ sử dụng và sắp xếp hợp lí màu sắc trong từng phần của bức tranh của Mondrian đã đưa đến cho người xem một sự lí giải cho các hiện tượng tự nhiên một cách rõ ràng và thuyết phục. Người xem cứ tần ngần không muốn rời mắt khỏi bức tranh và tưởng như mình đang lạc bước vào trong một không gian với những khung cảnh thần tiên mộng mơ. Phải chăng khi vẽ bức tranh này Mondrian cũng đã gửi gắm những mộng mơ của mình theo nhịp quay của những chiếc cánh của cối xay gió?
Vậy là sau bao cố gắng, ngoảnh nhìn lại hành trình “vượt khó” để hiểu được tranh của Piet Mondrian, cuối cùng tôi cũng đã biết cách để chiêm ngưỡng được phần nào cái tinh túy nhất của vẻ đẹp trong những tác phẩm của ông. Tôi đã nhận ra được từng cung bậc cảm xúc trước mỗi bức tranh của ông, từ những bức mà ông đã giảm đến mức tối đa ngôn ngữ của hình ảnh như Cây màu xám, Cây táo nở hoa… đến những bức được thể hiện rõ ràng từng chi tiết như Nông trại ở Duivendrecht, Cối xay gió. Giờ thì tôi mới hiểu tại sao Mariane Mathieu, giám đốc kỹ thuật của bảo tàng Marmottan lại cho rằng: “Mondrian đã phá hủy các motif, đó là người đã vẽ trên những motif hoàn toàn cổ điển, cối xay gió, cây. Và trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, ông đã phá bỏ những motif này để cố gắng rút ra cái tinh túy”.
Đúng như ai đó đã nói rằng, khó khăn, gian nan, thử thách luôn làm cho con người ta trưởng thành hơn. Với tôi bây giờ cũng vậy, sau một chặng đường dài với bao “bầm giập”, tôi đã tự tin hơn, không còn e dè, sợ hãi khi đứng trước những bức tranh không có tiêu đề của Mondrian nữa. Giờ đây nếu có ai hỏi tôi làm cách nào để hiểu được về tranh của Mondrian? Tôi sẽ không ngần ngại để trả lời là hãy kiên trì quan sát thật lâu, thật kĩ bức tranh Cây màu xám, bởi chính nó đã dẫn dắt tôi thẩm thấu được một góc nhỏ của trường phái trừu tượng. Và rồi nếu có ai đó hỏi tôi cối xay gió nào là đẹp nhất thì tôi cũng trả lời không chút do dự đó chính là cối xay gió trong một chiều hoàng hôn của Mondrian.