Thầy Nguyễn Lộc

Xuân Ba

Trước tôi như đương hiển hiện một người đàn ông tuổi mới băm mấy (thầy sinh năm 1936). Vóc dáng tầm thước. Nước da rám nắng. Hơi màu bánh mật.

Những lọn tóc đen nhánh rủ quanh vầng trán cao. Và có lẽ điểm nhấn là cái… miệng của thầy.

Tròn và rất duyên. Chất giọng Quảng Ngãi đa phần người khác nói thì khó nghe. Nhưng qua thầy như được “lọc’’ bớt tạp âm đâm chuẩn chỉnh trầm ấm hẳn! Đám con gái lớp tôi (và chắc nhiều lớp khác, khóa khác nữa?) nhiều trò gái đã hướng về phía thầy nhiều ánh nhìn thiện cảm…

Về nhận xét của GS Trần Nho Thìn rằng thầy Lộc có “khả năng kết hợp nhuần nhuyễn tư duy lý luận và năng lực thẩm bình văn bản tinh tế” có lẽ hơi bị chính xác.

Giảng về Cung oán ngâm khúc thầy như làm chủ quán xuyến cùng khoát đạt cả khúc ngâm dài 356 câu song thất lục bát mà thầy gần như thuộc lòng! Cứ như những câu thơ của Nguyễn Gia Thiều dứt khoát là thứ âm binh mà ông phù thủy Nguyễn Lộc đang “triệu hồi” về vậy!

Nếu như để thể hiện một ngôn ngữ tài hoa đài các, uẩn súc những điển cố Hán học của tác giả Nguyễn Gia Thiều thì thầy Nguyễn Lộc phải có năng lực cùng cái DUYÊN để mà soi mói mà phân tích mà chuyển tải.

Mà thầy có cái DUYÊN ấy thực. Thầy nói mà cứ như giải mã rằng Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, từ thể loại ngâm khúc viết bằng song thất lục bát đến cách phát triển chủ đề cũng như bút pháp nghệ thuật.

Có thể nói sự ra đời của Cung oán ngâm khúc cùng với sự ra đời của Chinh phụ ngâm đã khẳng định một cách vững chắc thể NGÂM trong văn học của giai đoạn nàỵ.

Chất giọng thầy như ma mỵ khi dẫn ra không gian trong Cung oán ngâm khúc thứ không gian bưng bít của chốn tiêu phòng lạnh lẽo.

Thời gian Cung oán ngâm khúc chủ yếu là mùa thu và bóng đêm.

Cảnh trong Cung oán ngâm khúc là cảnh lồng qua màn sương hồi ức và tưởng tượng.

Đặc biệt, lối biểu hiện bằng cảm giác là cách viết độc đáo của Nguyễn Gia Thiều có lẽ là lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam, rất tập trung và cô đọng. Những hình dung từ về xúc giác, thị giác, thích giác chọn lọc tài tình, bất ngờ mà đúng chỗ, đã gây được ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Vần điệu song thất lục bát nhuần nhuyễn, phép đối ngẫu được tôn trọng chặt chẽ. Hơi văn, giọng văn réo rắt não nùng, thích hợp với nội dung và tâm trạng con người trong khúc ngâm.

…Thầy Lộc bất chợt dừng. Ánh mắt như hướng về khoảng xa xăm và nguyên tư thế ấy, chất giọng Quảng Ngãi trầm ấm bện quện.

…

“Cái quay búng sẵn trên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

Hình mộc thạch vàng kim ố cổ,

Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong,

Tiêu điều nhân sự đã xong,

Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy.

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

Trăm năm còn có gì đâu,

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì!”

Hoặc:

“Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm.

Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon

Cùng nhau một giấc hoành môn

Lau nhau ríu rít cò con cũng tình”

*

*    *

Chớm thu năm Bính Thìn 1976.

Thầy Nguyễn Lộc hình như có chọn trong số mấy học trò để thầy hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp.

Thầy đưa ra mấy đề tài. Bảo anh nào thích thì chọn.

Hình như tôi chọn chậm. Xổng mất mấy thứ trong đó có Nguyễn Gia Thiều.

Đề tài thầy giao hơi hóc.

NGÔ THẾ LÂN VÀ VĂN HỌC VÙNG THUẬN QUẢNG.

Đang miệt mài đọc tài liệu, sách tham khảo thì đùng cái, một cú đánh của số phận.

Bố tôi đột ngột qua đời.

Xong đám tang. Thầy Lộc nhắn ra gặp thầy. Nhà ở Khu tập thể Nguyễn Công Trứ.

Tôi như hồi lại sau cú sốc. Bởi những vấn an rủ rỉ của thầy rằng phải cố lên chứ đừng để đến sang năm mới bảo vệ…

Hơi an tâm và chút ấm lòng khi theo gợi ý của thầy Lộc, tôi có buổi trình bày đề cương với thầy Bùi Duy Tân, một GS cự phách trong bộ môn Cổ-Cận-Dân. Thầy Bùi Duy Tân đồng ý làm người phản biện luận văn của tôi.

Cuối năm 1976 thì bảo vệ luận văn tốt nghiệp.

Một kỷ niệm ngồ ngộ.

Nhà báo Nguyễn Đình Thiềm, Biên ủy báo Tiền Phong cất công vào tận Khoa Văn Đại học Tổng hợp xin hai người về làm phóng viên.

Ông Lân (quên mất họ cái nhân vật khủng này) Trưởng phòng Tổ chức hỏi: “Đồng chí xin ai?”. Ông Thiềm đáp ngay: “Đồng chí cứ cho người đạt điểm luận văn cao”.

Chưa từng viết một cái tin nào chứ đừng nói là làm báo. Nhưng với cung cách “nhân sự” hồi ấy, tôi với Hồ Thu Hiền (cùng lớp Văn khóa 17) cùng được về Tiền Phong.

Nhoáng cái, đã nửa thế kỷ vèo qua!

*

*        *

Thầy Nguyễn Lộc sau 1975 chuyển vào dạy Khoa Văn Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Bao lần nhỡ nhàng cùng những lấn bấn. Mãi gần đây, anh Trần Ngọc Hồng và tay “Phây” cự phách (cùng khóa 17) Nguyễn Thông mới đưa tôi đến thăm thầy. Thầy Mai Cao Chương và thầy Nguyễn Lộc.

…Nhà thơ Ý Nhi, phu nhân thầy Nguyễn Lộc vẫn ân cần đằm thắm như cái ngày đến Khu Tập thể Nguyễn Công Trứ. Được chị Ý Nhi cho cốc chè đỗ đen có cả đá mà chị nấu…

Bây giờ đôi hồi, cảm giác buồn thương cứ dậy mãi…

Thương ôi, thầy Nguyễn Lộc của chúng tôi, thoạt ngó vẫn khỏe mạnh, phong độ. Vẫn ngồi tiếp khách tiếp chuyện nhưng đã là một người khác. Thầy luôn thường trực trạng thái vô minh. Chứng Alzheimer đã “quét” sạch sành sanh trí nhớ của thầy mấy năm nay. Bao gánh nặng chăm sóc dồn cả lên vai thi sĩ phu nhân.

…Ngậm ngùi nhớ đến nhận xét cũng của GS Trần Nho Thìn.

“…Những công trình của thầy so với nhiều luận án tiến sĩ hiện nay chắc chắn là vượt trội về nhiều phương diện. Tiếc là do một chủ trương khá máy móc.

Hồi những năm 1980, người ta yêu cầu các thầy phải đem các công trình đã xuất bản ra bảo vệ để nhận học vị tiến sĩ. Giữa lúc hầu hết các nhà nghiên cứu, các thầy ở Viện Văn học và hai trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm chấp nhận quy định này thì các thầy của tôi trong cùng bộ môn như thầy Trần Đình Hượu, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Bùi Duy Tân lại nhất định không chấp nhận việc làm hình thức đó (thậm chí các thầy Hoàng Như Mai, Nguyễn Lộc, Trần Hữu Tá còn mời Bộ trưởng Trần Hồng Quân đến trụ sở Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh để chất vấn về cách làm phi khoa học đó, tiếc rằng không thay đổi được gì).

Mà nếu không có học vị tiến sĩ thì người ta không phong hàm giáo sư. Đó là lý do vì sao các thầy, một thế hệ đàn anh, có nhiều thành tựu khoa học và đào tạo như vậy, chỉ dừng lại ở hàm Phó Giáo sư. Không biết bây giờ, người ta có sửa chữa lại chủ trương rất hình thức và máy móc một thời với các thầy không. Nhưng nghĩ cho cùng, điều đó cũng không có nhiều ý nghĩa với các thầy, bởi ngay từ đầu, các thầy đã có sự lựa chọn cho mình. Trọng thực không trọng hư. Tôi được biết cách đây vài năm, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đề nghị thầy Lộc làm hồ sơ để phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân nhưng thầy không làm.”

(Hết trích)

Ôi hư hư thực thực.

THỰC & HƯ.

THẦY

ÔI!

Nhà thơ Ý Nhi, thầy Nguyễn Lộc, Xuân Ba, Trần Ngọc Hồng

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.