Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran
Người dịch: Phan Văn Song

PHẦN II
Hoa Kì bắt đầu can dự (1955-1963)
Tổng thống Eisenhower cho rằng Hiệp ước Phòng thủ Tập thể Đông Nam Á, hay còn gọi là Hiệp ước Manila, cung cấp cơ sở đạo đức, pháp lí và thực tiễn cho việc giúp đỡ bạn bè trong khu vực đó. Về Hiệp định Geneva, ông viết:
Nhìn chung, thỏa thuận mà Liên hiệp Pháp đạt được tại Geneva năm 1954 là thỏa thuận tốt nhất mà họ có thể có được trong hoàn cảnh đó. Nó đã kết thúc một cuộc chiến đẫm máu và sự hao tổn nghiêm trọng về nguồn lực của Pháp. Quan trọng hơn, nó đánh dấu sự khởi đầu của việc phát triển sự hiểu biết tốt hơn giữa các cường quốc phương Tây và các quốc gia Đông Nam Á. Nó đã mở đường cho một hệ thống hợp tác thật sự giữa hai bên trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ để ngăn chặn làn sóng bành trướng của cộng sản.[1]
Eisenhower cũng đã phát triển “diện mạo mới” đối với lực lượng vũ trang. Ông mô tả “diện mạo mới” như sau:
Thứ nhất là việc phân bổ lại nguồn lực giữa 5 loại lực lượng [lực lượng đánh trả hoặc tấn công hạt nhân – lực lượng giữ cho các tuyến đường biển thông suốt trong trường hợp khẩn cấp, lực lượng bảo vệ Hoa Kì trước các cuộc tấn công trên không – lực lượng dự bị] và thứ hai, đặt trọng tâm lớn hơn trước đây vào sức mạnh răn đe và hủy diệt của vũ khí hạt nhân được cải tiến, phương tiện vận chuyển tốt hơn và các đơn vị phòng không hiệu quả.[2]
Eisenhower viết rằng ông không có ý định sử dụng cùng các chính sách và nguồn lực từng dùng ở Triều Tiên để tiến hành một cuộc chiến tranh khác. Ông không đồng ý với ý tưởng tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân sự thông thường để đối phó với mối đe dọa của nhiều cuộc chiến tranh nhỏ vì ông tin rằng ý tưởng đó hàm ý rằng Hoa Kì sẽ không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân. Ông cho rằng, ý tưởng như vậy sẽ tạo lợi thế cho kẻ thù tiềm năng có ưu thế về nhân lực quân sự. Thay vào đó, “Phải làm cho phía Cộng sản nhận ra rằng nếu họ phạm lỗi xâm lược lớn, chúng ta sẽ tấn công bằng các phương tiện do chính chúng ta lựa chọn nhằm vào đầu não của thế lực Cộng sản.”[3] Tháng 1/1955, Eisenhower đã đạt được nghị quyết chung của toàn Quốc hội (Hạ viện 410 – 3; Thượng viện 83 – 3)[4] cho phép ông sử dụng lực lượng vũ trang để bảo vệ Đài Loan và quần đảo Bành Hồ (Pescadores) chống lại các cuộc tấn công vũ trang. Hai tuần sau, ông cũng kí Hiệp ước An ninh hỗ tương với Đài Loan, đã được Thượng viện thông qua. Theo quan điểm của Eisenhower, hai văn kiện này khi được xem xét cùng nhau sẽ xóa bỏ mọi nghi ngờ về ý định của Hoa Kì đối với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ và cũng tránh được tình huống đã phải đối đầu trong cuộc khủng hoảng Triều Tiên năm 1950. Hành động này đi kèm với việc sơ tán, với sự trợ giúp của Hoa Kì, khỏi quần đảo Đại Trần [Tachen] (được coi là không có khả năng phòng thủ cũng như không quan trọng đối với an ninh của Đài Loan). Sau đó, theo lời của Eisenhower, cuộc khủng hoảng bắt đầu lắng xuống sau khi Dulles nói chuyện với Molotov tại Vienna, Chu Ân Lai dùng giọng điệu ôn hoà trong báo cáo về Hội nghị Bandung, và phía Trung Quốc (ngày 1/8) đã thả 11 phi công Mĩ mà họ đã giam giữ từ đầu năm 1953 và bắt đầu đàm phán về việc thả hai thường dân Mĩ bị giam giữ và các vấn đề cụ thể khác.[5]
Eisenhower đã lưu ý rằng, “Trong bất kì tình huống quốc tế tế nhị nào, hiếm khi thiếu các cố vấn bên ngoài sẵn lòng góp ý, đôi khi vì kinh nghiệm, vì sự ngây thơ hoặc phi chính trị, đối với họ những câu trả lời có vẻ đơn giản, rõ ràng và dứt khoát.”[6] Ông cũng lưu ý rằng, trong suốt 9 tháng của cuộc khủng hoảng Đài Loan, chính quyền của ông đã nhận được nhiều lời khuyên khác nhau từ các nhà lãnh đạo trong thế giới tự do, trãi khắp từ cực đoan này đến cực đoan khác, và đã phớt lờ tất cả, khi một mặt chọn tránh nhượng bộ và mặt khác tránh chiến tranh toàn cầu.[7]
Tại Geneva, Dulles đã theo đuổi cách cùng cách tiếp cận chung như Eisenhower theo đuổi đối với Đài Loan. Hiệp định Geneva không chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, cũng không áp đặt các dàn xếp chính trị hay lãnh thổ. Trên thực tế, đó là hiệp định ngừng bắn.[8] Tại Việt Nam, người dân của hai khu vực sẽ quyết định tương lai của họ trong vòng hai năm thông qua một cuộc tổng tuyển cử bằng bỏ phiếu kín dưới sự giám sát quốc tế. Trong khi đó, họ được cho là có thể lựa chọn khu vực mà họ muốn sinh sống. Tuyên bố đơn phương của Mĩ tại Geneva và các động thái mà Dulles thực hiện tại hội nghị nhằm mục đích kiềm chế những người cộng sản qua việc hàm ý khả năng Hoa Kì có thể sẽ can thiệp. Lịch sử chính thức của Bắc Việt được xuất bản năm 1965 cho thấy: “… rằng viễn cảnh can thiệp của Mĩ đã khiến những người cộng sản vô cùng lo ngại và khiến họ chùn bước sau Điện Biên Phủ và Geneva.”[9] Lịch sử chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (Hà Nội, 1970) có khuynh hướng xác nhận điều này, hồi kí của thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev cũng thế.[10] Điện Biên Phủ đã làm người Pháp nản lòng và không còn ý chí tiếp tục chiến đấu. Đó không hề là một thất bại quân sự lớn của Pháp, tuy nhiên, Việt Minh sẽ không dễ dàng đánh đuổi lực lượng quân sự Pháp còn lại nếu như chính sách của Pháp yêu cầu họ tiếp tục ở lại trong vai trò chiến đấu. Như BBC đã nhận định, “Có một nước Việt Nam không cộng sản với tương lai còn phải giành lấy và quyết định. Dulles đã giành được sự tạm dừng hai năm trước khi cuộc bầu cử được cho là sẽ quyết định tương lai đó.”[11] Vào thời điểm này, quả thật có vẻ Việt Nam có thể được cứu nhờ vào Hoa Kì và sẽ bị mất nếu không có nước này.[12]
Cứu Việt Nam với viện trợ của Hoa Kì không phải là chuyện dễ dàng và có một số nghi ngờ về khả năng của Diệm làm điều đó ngay cả khi có sự trợ giúp của Hoa Kì. Theo người viết tiểu sử của Dulles, “Người Anh đã hoàn toàn gạt bỏ ông ấy [Diệm]. Người Pháp công khai phá hoại những nỗ lực của ông ấy trong việc thiết lập chính quyền trung ương bản địa.”[13] Tuy nhiên, Dulles kết luận rằng, trong tình huống không có nhân vật chính trị nào triển vọng hơn, Hoa Kì không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ủng hộ Diệm. Dulles vẫn kiên trì với quan điểm này ngay cả khi, vào mùa xuân năm 1955, theo người viết tiểu sử của ông, “Sau vài tháng, Collins, dưới sự thuyết phục của tướng Ely, đã tin rằng Diệm không thể kiểm soát được tình hình.”[14] Thứ trưởng Robert Murphy và trợ lí ngoại trưởng Walter Robertson của Dulles đều kiên quyết khẳng định, bằng lí lẽ, rằng không có lí do gì để bỏ Diệm ra trừ khi tìm được một nhà lãnh đạo tốt hơn, hoặc ít nhất là cũng tốt ngang như vậy.[15]
Nhà viết tiểu sử đã mô tả một cuộc họp của Hội đồng NATO tại Paris vào mùa xuân năm 1955, tại đó những quan điểm khác biệt giữa Pháp và Mĩ về Diệm đã được trao đổi và đã dung hoà, ít nhất là ở cấp cao. Tại phiên họp đầu tiên trong 3 phiên họp về Việt Nam, thủ tướng Pháp Faure thông báo rằng Pháp sẽ không ủng hộ Diệm nữa vì ông ta không thể thống nhất đất nước, vì ông ta chống Pháp, cứng đầu và không chịu nghe lời khuyên từ bên ngoài. Dulles đáp lại rằng Hoa Kì không thấy lựa chọn nào khác tốt hơn Diệm. Faure giữ lập trường rằng Pháp, không muốn để Việt Nam tiếp tục là nguồn gây căng thẳng giữa Hoa Kì và Pháp, sẽ đề xuất tự rút khỏi Việt Nam. Dulles phản bác rằng Hoa Kì sẽ rút đi thay vì Pháp nếu vấn đề giữa hai nước nghiêm trọng đến như vậy, nhưng trong mọi trường hợp sẽ ủng hộ một chính phủ độc lập ở Việt Nam. Tại phiên họp thứ hai, Faure có lập trường rằng nếu Pháp hoặc Hoa Kì từ bỏ lợi ích của mình ở Việt Nam, điều đó có nghĩa là cả hai cường quốc đều bỏ rơi Việt Nam và điều đó sẽ rất tồi tệ. Faure nói thêm rằng ông không nói về việc Pháp rút đi theo nghĩa do va chạm với Hoa Kì. Dulles đồng ý với Faure rằng Diệm không có tất cả những phẩm chất mà người Pháp, người Mĩ và người Anh muốn ông phải có, nhưng ông là một người có tính thần dân tộc, một người chống cộng, và ông là người cần thiết nếu như muốn cứu Việt Nam khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Các đồng minh sẽ phải chấp nhận tính ngang bướng của ông và thực tế rằng ông chống Pháp và có lẽ chống cả Mĩ. Tại phiên họp thứ ba, Faure đã trình bày một chương trình 6 điểm để Mĩ, Anh và Pháp cùng làm theo đối với Việt Nam. Chương trình này bao gồm việc mở rộng chính phủ Diệm về mặt chính trị, giải quyết hoà bình vấn đề giáo phái, ngưng tuyên truyền chống Pháp, giữ Bảo Đại trong vai trò hiện tại, loại bỏ bất kì quan chức Pháp và Mĩ nào gây rối loạn “sự hoà hợp” Pháp-Mĩ, và đảm bảo duy trì quan hệ kinh tế, văn hóa và tài chính của Pháp với Việt Nam. Dulles chỉ ra rằng một vài trong các điểm này “… dựa trên giả định rằng Diệm sẽ nhận lệnh từ chúng ta.”[16] Ông tiếp tục nói rằng Hoa Kì có thể chấp nhận các mục tiêu mà Pháp đặt ra nhưng không thể đạt được chúng bằng cách ra lệnh cho Diệm.[17]
Trong khi đó, tại thực địa Việt Nam, rõ ràng nhiệm vụ trước mắt Diệm là vô cùng to lớn và dường như không có sự đồng thuận giữa Pháp và Mĩ, hai phía lẽ ra phải giúp ông hoàn thành nó ở cấp độ điều hành. Có các phần tử Việt Nam, tất cả đều có quan hệ với Pháp, Bảo Đại, tướng Nguyễn Văn Hinh (tổng tham mưu trưởng, cũng là sĩ quan Không quân Pháp), và các thủ lĩnh của các giáo phái vũ trang sẵn sàng thách thức quyền lực của Diệm để bảo vệ lợi ích riêng của họ. Đồng thời, Diệm phải chuẩn bị tiếp nhận dòng người tị nạn từ miền Bắc, cuối cùng lên tới từ 850 000 đến 900 000 người, hay gần 7% dân số miền Bắc.[18]
Đại tá (sau này là thiếu tướng) Mĩ Edward Lansdale đã rất thành công trong việc giúp Ramon Magsaysay của Philippines phát triển các chiến thuật đánh bại các nỗ lực nhằm lật đổ chính phủ độc lập mới của du kích cộng sản và đảm bảo một cuộc bầu cử phổ thông thật sự tự do (đã đưa Magsaysay lên làm tổng thống). Như Lansdale nhớ lại khi trả lời phỏng vấn BBC, ngoại trưởng Dulles đã cử ông đến Việt Nam sau trận Điện Biên Phủ nhưng trước khi Hiệp định Geneva được kí kết, để giúp đỡ người dân Việt Nam; tức là, để “Làm những gì ông đã làm ở Philippines.”[19] Lansdale coi vai trò của mình là giúp đỡ Quân đội Việt Nam đánh nhau với quân du kích và giúp chính quyền Việt Nam hoạt động vì lợi ích của người dân Việt Nam. Ông ước tính vào thời điểm đó rằng những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam chân chính đang đứng tách biệt với người Pháp phía này và với những người cộng sản phía kia. Ông ta trở thành đồng minh với điều mà ông ta coi là một “vấn đề dân tộc chủ nghĩa”.[20] Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva yêu cầu bắt đầu tham vấn vào ngày 20/7/1955 để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử tự do bằng bỏ phiếu kín vào tháng 7 năm 1956. Cuộc bầu cử sẽ được tổ chức dưới sự giám sát của đại diện các chính phủ Ấn Độ, Canada và Ba Lan. Cả Hoa Kì lẫn Chính phủ Việt Nam đều không phải là bên kí kết Hiệp định về việc ngừng bắn ở Việt Nam và cả hai đều tự tách mình khỏi Tuyên bố cuối cùng.[21] Hiệp định đó đã được kí bởi các đại diện của tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam một bên và tổng tư lệnh Lực lượng Liên minh Pháp tại Đông Dương bên kia. Ý tưởng về “cuộc tổng tuyển cử tự do bằng bỏ phiếu kín dưới chế độ mà những người cộng sản đã thiết lập ở Bắc Việt sau khi kí kết Hiệp định Geneva, và triển vọng giám sát trong những hạn chế mà Uỷ hội Giám sát và Kiểm soát Quốc tế hoạt động ở Bắc Việt, hoặc ở Nam Việt, có vẻ khá phi thực tế đối với nhiều nhà quan sát, bao gồm cả Anthony Eden – người Anh là đồng chủ tịch của Hội nghị và người bảo trợ chính của Tuyên bố Cuối cùng. Dù sao đi nữa, Lansdale nhận thấy thời gian biểu cho cuộc bầu cử là quá ngắn để cho phép Quốc gia Việt Nam, vốn đang kém tổ chức và thiếu cán bộ, chỉ có thể tiến triển chậm chạp và để cho du kích cộng sản lẫn vào, tổ chức chính trị và gian lận bầu cử. Ông tin rằng ngoại trưởng Dulles đã thấy ra một khoảng trống đang xuất hiện khi nhiều cố vấn người Pháp rút lui và hi vọng rằng người Việt Nam có thể thành lập một thực thể có thể đứng vững được để thay thế chính quyền thuộc địa cũ và ngăn chặn những người cộng sản giành lấy quyền thông qua một cuộc bầu cử gian lận.[22]
Cựu ngoại trưởng Dean Rusk nói với BBC rằng có thể đưa ra lập luận rằng cuộc bầu cử lẽ ra nên được tổ chức, “… nhưng tôi nghĩ những người đưa ra lập luận đó nên đỏ mặt một chút nếu họ nói về bầu cử tự do bởi vì không có khả năng tổ chức bầu cử tự do ở cả Bắc Việt hay Nam Việt vào năm 1955 hoặc 1956.”[23] Đáp lại gợi ý rằng Hoa Kì, khi phản đối hoặc khuyến khích Diệm phản đối cuộc bầu cử, đã cố ý lách các quy định của hiệp định, Rusk nhận xét:
Bạn biết đấy, hãy nhớ lại cùng lúc đó Liên Xô kiên quyết phản đối bầu cử tự do ở Đức, kiên quyết phản đối bầu cử tự do ở Triều Tiên. Vì vậy, câu hỏi hẳn phải nảy sinh là tại sao chúng ta phải chiều theo họ ở chỗ này nếu họ không chiều theo chúng ta ở những nơi khác. Nói cách khác, liệu chúng ta có cho họ những gì họ muốn, và chỉ nói “đáng tiếc” nếu họ từ chối cho lại chúng ta những gì chúng ta muốn ở những lĩnh vực quan trọng không kém hoặc thậm chí quan trọng hơn đối với chúng ta hay không?
Rusk đồng ý rằng nhận xét này cho thấy, cho đến lúc đó, Việt Nam vẫn được xem xét trong khuôn khổ thiết kế và chiến lược thế giới tổng thể của Hoa Kì hơn là một vấn đề riêng biệt tự nó.[24]
Khi được BBC hỏi người Mĩ đã vạch rõ các tương đồng giữa chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên như thế nào, Rusk trả lời:
Không có sự tương đồng chặt chẽ giữa hai vị trí địa lí này, nhưng rõ ràng là có cảm giác rằng cách chúng ta phản ứng theo hiệp ước an ninh ở Đông Nam Á [SEATO] sẽ có ảnh hưởng đến cách mà chúng ta được kì vọng phản ứng trong các hiệp ước an ninh khác, đặc biệt là với NATO. Vấn đề đối với nhiều người trong chúng ta là sự trung thành của Hoa Kì đối với các hiệp ước an ninh hỗ tương. Giờ đây, nếu điều đó biến mất hoặc xói mòn nghiêm trọng, thì tôi nghĩ chúng ta có thể dự đoán những nguy hiểm rất lớn sẽ xuất hiện trở lại.[25]
Nghị sĩ William Fulbright nói với BBC rằng các thành viên Quốc hội lúc đó không đặc biệt quan tâm đến vấn đề bầu cử ở Việt Nam, một phần vì trước đó Mĩ chưa từng can dự nơi nào ở Đông Nam Á và một phần vì Hiệp định Geneva xuất hiện vào thời điểm họ đang bận tâm tới nghị sĩ Joe McCarthy, người “đang tấn công các nghị sĩ cùng với tất cả mọi người khác”. Tuy nhiên, Fulbright tỏ ý rằng lập trường của Hoa Kì về Hiệp định Geneva và về việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á [SEATO] là sai lầm và chúng bắt nguồn từ “thái độ rất xúc cảm này vốn phát triển đối với vấn đề cộng sản và ăn khớp với chủ thuyết Truman rằng ở bất cứ đâu chúng ta cũng đều sẽ gặp phải thách thức từ phía Cộng sản.”[26]
William Colby, người sau này trở thành trưởng trạm CIA tại Sài Gòn và cuối cùng là giám đốc Tình báo Trung ương, nhớ lại rằng quân đội Hoa Kì đã nghĩ về Việt Nam theo kiểu như về Triều Tiên và nhắm tới việc tăng cường sức mạnh cho Quân đội Nam Việt để đối phó với cuộc tấn công của Quân đội Bắc Việt. Ông tin rằng những người làm chính trị trong Toà Đại sứ nghĩ về một giải pháp chính trị nhiều hơn, trong đó một chính phủ tốt, không độc đoán, mở cửa cho tất cả các luồng đối lập sẽ tạo ra sự đồng thuận “loại bỏ Cộng sản ra”. Ông cho rằng vấn đề Việt Nam tương tự như vấn đề Malaysia và câu trả lời thật sự là tạo dựng khả năng tự vệ ở cấp địa phương và tiến tới xây dựng một cấu trúc xã hội mới trong vai trò là một nền tảng chính trị mới.[27]
Dù sao đi nữa, những nỗ lực của Mĩ nhằm cứu Việt Nam với tư cách một quốc gia độc lập không cộng sản sẽ tập trung vào người mà ngoại trưởng Dulles đã xác định là một người có tinh thần dân tộc và chống cộng, không thể bị chi phối.
Nghị sĩ Michael Mansfield nhớ lại rằng khi Diệm đến thăm Hoa Kì vào năm 1951 hoặc 1952, ông đã gặp Diệm cùng với nghị sĩ John F. Kennedy tại một buổi tiếp đón. Mansfield rất ấn tượng với Diệm lúc đó và trong suốt thời gian ông ấy nắm quyền ở Việt Nam. Ông cho rằng Diệm đã bị một số người của chính ông làm suy yếu và không nhận được sự ủng hộ lẽ ra phải có từ Chính phủ Hoa Kì. Cá nhân ông biết rõ những gì Diệm đang cố đạt được và cảm thấy ông ấy đang đi đúng hướng. Ông thấy ở Diệm là một người độc lập và chính trực, có mục tiêu duy nhất là độc lập của đất nước mình. Ông ấy sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của Mĩ nhưng chỉ với những điều kiện nhất định. Mansfield nghĩ rằng Diệm đã tin cậy một số người Mĩ quá mức và họ đã lợi dụng ông. Ông tin rằng người Pháp chưa bao giờ thích Diệm, chưa bao giờ tin ông, và chỉ làm việc với ông vì họ không còn lựa chọn nào khác.[28]
Ngài Robert Thompson, cựu bộ trưởng Quốc phòng Malaya và sau này là người đứng đầu Phái đoàn Cố vấn Anh tại Việt Nam, nói với BBC rằng Diệm là một nhà dân tộc chủ nghĩa vĩ đại, “hoàn toàn không bị vấy bẩn bởi bất kì sự hợp tác nào với người Pháp” và, trong những ngày đầu, là một anh hùng đối với người dân Việt Nam. Thompson cũng cho rằng người Mĩ đã không đánh giá đúng không những tính chất kéo dài của cuộc xung đột Đông Dương mà còn cả bản chất chính trị của nó. Ông thấy những người cộng sản theo Hồ Chí Minh đang cạnh tranh với các lực lượng chống cộng do Pháp xây dựng để xác định ai sẽ kế tục Pháp trên toàn bộ Đông Dương chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Ông cho rằng phe cộng sản có lợi thế nhờ họ đưa ra tuyên bố độc lập năm 1945, nhưng đặc biệt là ở cách họ đã tiêu diệt các lãnh đạo của các phần tử yêu nước chống cộng của Việt Nam. Theo Thompson, người Mĩ nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân là lí do dẫn đến thành công của phe cộng sản, nhưng thật ra đó là vấn đề về ai sẽ kế tục thực dân hợp với nguyên tắc của Lenin. Việt Minh có ý định làm điều này và, với sự thất bại trong nỗ lực của Pháp và sự bận rộn của người Anh ở những nơi khác, chỉ còn người Mĩ cố gắng ngăn chặn sự kế tục này. Thompson cũng nghĩ rằng sự thiếu hụt nguồn lực trầm trọng ở Đông Dương, tiếp sau Thế chiến II, sự chiếm đóng của Nhật Bản và cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (của Pháp), đòi hỏi Mĩ phải cung cấp một lượng lớn nguồn lực từ bên ngoài chỉ để duy trì chính phủ. Điều này đã đẩy Mĩ vào vai trò không mong muốn làm thế lực chính trị và kinh tế thay cho thực dân Pháp.[29]
Trong 9 năm tiếp theo, các ý kiến khác biệt nhau về việc liệu việc thành lập một quốc gia ở Nam Việt có phải là một lựa chọn khả thi thay cho việc cộng sản thôn tính khu vực này hay không, và về hiệu quả của những nỗ lực của Hoa Kì trong việc theo đuổi mục tiêu đó.
Colby nói với BBC rằng, vào cuối những năm 1950, chính phủ Diệm đã thành công trong chương trình phát triển cũng như trong các chương trình giáo dục và y tế, và nền kinh tế đang phát triển vượt bậc. Ông cho rằng chỉ trong vòng 5 năm nữa, sức thu hút của những người cộng sản ở miền Nam sẽ triệt tiêu. Phía cộng sản vẫn có một số lực lượng ở miền Nam, đặc biệt là khoảng 50 000 cán bộ trẻ, được đưa ra Bắc vào năm 1954 lúc những người tị nạn từ miền Bắc di chuyển vô Nam, và bắt đầu từ khoảng năm 1960 đã xâm nhập trở lại để hợp chung với những người còn ở lại. Sự xuất hiện của những cán bộ này, được đào tạo bài bản và kỉ luật, cho thấy sự khởi đầu của một nỗ lực chính trị và du kích nghiêm túc. Colby lúc đó cho rằng mối đe dọa này có thể kiểm soát được và chính phủ miền Nam có thể đối phó với nó thông qua một nỗ lực phát triển chính trị mạnh mẽ. CIA đã bắt đầu một vài chương trình trang bị vũ khí cho dân làng để tự vệ khi các sự cố gia tăng. Những thử nghiệm này và các thảo luận với người Việt Nam đã dẫn đến chương trình ấp chiến lược vốn phản ánh quan điểm của Diệm rằng một nước Việt Nam độc lập, không cộng sản sẽ cần một nền tảng xã hội mới. Theo ông, nước Việt Nam không thể hoạt động thông qua cấu trúc hành chính cũ; “…rồi quá trình này bắt đầu từ tiểu vũ trụ thôn xóm, phát triển giới lãnh đạo mới, triết lí mới và ý thức đoàn kết từ nền tảng đó hơn là vận hành thông qua bộ máy quan liêu được Pháp đào tạo.”[30] CIA được giao nhiệm vụ giúp Diệm xây dựng một chính phủ có khả năng cạnh tranh và, nếu cần, chống lại chế độ Hồ Chí Minh.[31] Về phần mình, Diệm đã đến Sài Gòn vào ngày 25/6/1954, quyết tâm thiết lập một chính phủ chống cộng mạnh mẽ, loại bỏ quyền lực của các giáo phái và các nhóm vũ trang gây áp lực khác, loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và hạ thấp vai trò Bảo Đại xuống chỉ còn là một nhân vật bù nhìn.[32] Lansdale, được cử đến Việt Nam ngay trước khi Diệm đến, thật sự đã cung cấp sự ủng hộ tinh thần và hướng dẫn Diệm trong những tháng đầu nhưng cả Toà Đại sứ tại Sài Gòn lẫn chính quyền [Mĩ] đều không hoàn toàn tin tưởng Diệm ngay từ đầu.[33]
Tháng 8/1954, Leo Cherne thuộc Uỷ ban Cứu trợ Quốc tế (IRC) nhận thấy Toà Đại sứ Mĩ tại Sài Gòn có cái nhìn rằng chế độ của Diệm chỉ là chế độ tạm thời và chuyển tiếp mà Hoa Kì không nên cam kết bất cứ điều gì với nó, dù chính thức hay không chính thức, vì Pháp vẫn chịu trách nhiệm về mặt này. Sau khi gặp Diệm, Cherne có ý kiến rằng nếu Diệm có thể vượt qua vài tháng đầu có “sự cản trở của Pháp”, có “sự đối kháng lẫn nhau trong nội bộ người Việt Nam” và “sự thờ ơ rõ ràng của Mĩ”, thì ông sẽ là một nhà lãnh đạo hiệu quả. Mặc dù phe cộng sản có được lợi thế từ chiến thắng quân sự tại Điện Biên Phủ và từ sự bất mãn của người dân Đông Dương đối với chế độ thuộc địa cũ, Cherne vẫn cho rằng có thể giúp cho người dân miền Nam Việt Nam một cái gì đó để tranh đấu và đoàn kết họ chống lại cộng sản. Điều này có thể được thực hiện bằng cách tổ chức các nguồn lực để người tị nạn từ miền Bắc ổn định cuộc sống và duy trì chính phủ đang gần tới chỗ phá sản. Ông tin rằng IRC nên khởi động một chương trình lớn để giúp đỡ việc giải quyết người tị nạn và Hoa Kì nên tách mình khỏi Pháp và dốc hết sức mình ủng hộ Chính phủ Việt Nam mới. Tổ chức IRC đã cử Joseph Buttinger đến giải quyết vấn đề người tị nạn; việc thất vọng trước thái độ thờ ơ của chính quyền Mĩ đối với Diệm đã dẫn ông đến việc thành lập “Hội những người bạn Mĩ của Việt Nam”. Tuy nhiên, trong khi đó, chính sách của Mĩ đối với Diệm đã bắt đầu thay đổi khi đã trở nên rõ ràng là ông đã vượt qua được những dự đoán bi quan của các nhà quan sát Mĩ cũng như Pháp.[34]
Sau khi thăm Việt Nam trở về vào cuối mùa hè năm 1954, thượng nghị sĩ Mansfield đã tin chắc rằng Diệm xứng đáng được ủng hộ và rằng những lựa chọn thay thế ông lúc đó đều không hứa hẹn. Theo ông, những lựa chọn đó hoặc là việc cộng sản giành lấy quyền, hoặc là việc quay trở lại kiểu chính phủ yếu kém phụ thuộc vào sự hậu thuẫn của nước ngoài như trước sự kiện năm 1954. Mansfield khuyến nghị nếu chính phủ Diệm sụp đổ thì ngừng ngay lập tức viện trợ của Hoa Kì cho Việt Nam và cho Lực lượng Liên hiệp Pháp ở đó.[35] Khuyến nghị này đã tác động chính quyền Eisenhower gửi thông điệp ngày 23/10/1954, trong đó đề xuất viện trợ trực tiếp của Mĩ cho Việt Nam nhưng rõ ràng đặt điều kiện cho viện trợ đó là Diệm phải sẵn sàng tiếp nhận lời khuyên của Mĩ và phải sẵn lòng cũng như có khả năng thực hiện “các cải cách cần thiết”.[36] Như một nhà quan sát đã nhận xét, “Đây chỉ là khởi đầu của tình thế lưỡng nan của Mĩ đối với Việt Nam. Nỗ lực của Washington tìm cách cân bằng giữa viện trợ và hiệu quả đã được Kennedy, sau đó là Johnson, rồi Nixon kế thừa.”[37] Sự thành công hay thất bại của hành động cân bằng này thay đổi theo cái nhìn của nhiều người trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kì của Diệm và dưới thời các người kế nhiệm khác cho đến năm 1975. Đôi khi, nó tạo ra một dạng quan hệ đối đầu giữa Hoa Kì và chính phủ mà họ đang ra tay trợ giúp ở Việt Nam vào bất kì thời điểm cụ thể nào. Tuy nhiên, theo một nhà quan sát Việt Nam ở vị trí tốt[38], người Mĩ đã ủng hộ mạnh mẽ Ngô Đình Diệm cho đến khi họ “quyết định rằng Diệm phải ra đi” vào năm 1963.
Đến tháng 11/1954,với sự hậu thuẫn của Mĩ, Diệm đã đánh bại thách thức quyền lực từ tướng Nguyễn Văn Hinh, một người được Bảo Đại bảo trợ và có liên hệ với Pháp.[39] Đầu tháng đó, đại sứ Donald Heath rời đi sau khoảng 4 năm ở Việt Nam và được thay thế bằng tướng J. Lawton Collins, người được chỉ định làm đại diện đặc biệt của Hoa Kì tại Việt Nam. Collins được giao nhiệm vụ phải “… cùng với chính quyền Việt Nam xem xét cách thức để một chương trình viện trợ của Mĩ chuyển trực tiếp cho Việt Nam có thể trợ giúp đất nước này tốt nhất.” Collins phải tìm hiểu vấn đề này với Diệm và chính phủ của ông, “… nhằm giúp họ giải quyết các vấn đề cấp bách hiện tại và bổ sung các biện pháp do chính người Việt Nam áp dụng.” Collins cũng phải “… duy trì liên lạc chặt chẽ với Cao ủy Pháp, tướng Paul Ely, nhằm mục đích trao đổi quan điểm về cách để có thể bảo vệ tự do và phúc lợi của Việt Nam tốt nhất trong hoàn cảnh hiện tại.”[40] Một nhà sử học thời kì đó cho rằng “Việc nhấn mạnh tính chất bổ sung của viện trợ Mĩ là một nỗ lực nhằm truyền đạt cho Diệm bản chất chưa dứt khoát trong cam kết của Mĩ.”[41]
Collins dấn tới, cùng với tướng Ely vạch ra kế hoạch rút quân Pháp và cùng với cả Pháp lẫn Việt Nam phát triển một chương trình huấn luyện cho Quân đội Việt Nam mới.[42] Tướng O’Daniel nhanh chóng thành lập một nhóm lập kế hoạch Mĩ-Pháp để nghiên cứu các kế hoạch huấn luyện, trong đó có một kế hoạch mà Nhóm Lansdale đã giúp chuẩn bị cho việc bình định các khu vực của Việt Minh và của các nhóm bất đồng. Nhóm Lansdale đã thay đổi ý tưởng của kế hoạch “… từ việc kiểm soát cứng nhắc cũ kiểu cảnh sát đối với tất cả các khu vực sang một số ý tưởng của chúng ta về giành lấy sự ủng hộ của dân chúng và thiết lập việc phân loại các khu vực theo mức độ rắc rối ở mỗi khu vực, mức độ kiểm soát cần thiết và xác định trách nhiệm giữa chính quyền dân sự và quân sự. Với một vài thay đổi, Chỉ thị Hành động An ninh (Bình định)…”
Dự đoán kết quả của các cuộc đàm phán do tướng Collins và tướng Ely khởi xướng, tướng O’Daniel đã tổ chức không chính thức Phái bộ Huấn luyện chung Mĩ-Pháp, sau này trở thành TRIM (Phái bộ Quan hệ Huấn luyện và Chỉ dẫn [Training Relations and Instruction Mission]). Phái bộ này do O’Daniel chỉ huy dưới sự chỉ huy tổng thể của tướng Ely; đại tá Lansdale từ Toà Đại sứ được chuyển tới phụ trách Bộ phận An ninh Quốc gia của TRIM. Tháng 1/1955, Collins đã trao cho Lansdale quyền điều phối “công việc An ninh Quốc gia này” trong tất cả các cơ quan Mĩ tại Việt Nam.[43]
Collins nhận thấy mình bất đồng với Diệm về “một số bổ nhiệm nhân sự chủ chốt cho Quân đội Việt Nam”. Ông cũng ngày càng thấy cần thiết phải nhắc nhở Diệm thực hiện những cải cách mà viện trợ liên tục của Mĩ đã đặt điều kiện lên đó. Nếu quan hệ của đại sứ Heath với Diệm trong vài tháng cuối cùng “không mấy tốt đẹp”, thì quan hệ của Collins với Diệm vẫn “đúng mực và nhạt nhẽo”.[44] Tuy nhiên, khi Collins trở lại Washington để báo cáo vào tháng 2, ông đã thuyết phục thành công cho việc tiếp tục trợ giúp chính phủ của Diệm và tổng thống Eisenhower đã nói rõ trong một thông điệp gửi cho Bảo Đại rằng Hoa Kì dự định tiếp tục sự ủng hộ đó.[45]
Lúc này, Diệm đang tiến gần đến cuộc khủng hoảng lớn với các đội quân tư nhân của Nam Việt, cuộc khủng hoảng dẫn đến cuộc đối đầu giữa ngoại trưởng Dulles và thủ tướng Pháp Faure đã được mô tả vài trang trước. Có 3 “giáo phái” có vũ trang chính, mặc dù chỉ có 2 trong số đó mang tính chất tôn giáo. Giáo phái đầu trong 2 giáo phái có vũ trang là Cao Đài, mà giáo chủ lúc bấy giờ là Phạm Công Tắc, chủ trì ở Tòa Thánh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn, gần biên giới Cambodia, mà tôn giáo của họ dựa trên Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, thuyết duy linh và Công giáo, và cũng tôn thờ Tôn Dật Tiên và Victor Hugo. Giáo phái thứ hai là Hoà Hảo theo Phật giáo. Cả hai giáo phái đều có lực lượng quân sự, được chính quyền Pháp trả lương và tiếp tế, để bảo vệ các khu vực mà họ kiểm soát. Cao Đài, tự coi mình là một tổ chức tôn giáo hơn là một “tôn giáo”, không chỉ có hệ thống có thứ bậc mà còn có bộ máy hành chính và tài chính bài bản. Hoà Hảo cũng có thể được mô tả là một tổ chức chính trị-tôn giáo.[46] Cả hai giáo phái này đều cố gắng củng cố vị thế thương lượng của mình với chính phủ qua việc mở rộng khu vực kiểm soát, thu thuế, tuyển quân và nắm giữ các chức vụ trong Nội các của Diệm.[47] Nhóm thứ ba, Bình Xuyên, có nhiều điểm giống với băng đảng Capone ở Chicago, về cơ bản bao gồm những kẻ bảo kê và trộm cướp. Vị thế của Bình Xuyên đã được cải thiện khi Bảo Đại, trước khi lên đường sang Pháp lần cuối, đã sang nhượng cho họ quyền kiểm soát lực lượng cảnh sát Sài Gòn-Chợ Lớn để đổi lấy tiền hối lộ.[48]
Đầu năm 1955, Pháp ngừng trợ cấp thường lệ cho quân đội Cao Đài và Hoà Hảo, và các đội quân này trông chờ chính phủ của Diệm bù đắp khoảng trống đó. Chính phủ có vẻ đã làm như vậy cho đến khoảng ngày 5/3, khi họp dưới sự chủ trì của Bảy Viễn, lãnh đạo Bình Xuyên, các giáo phái quyết định thành lập Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc. Điều kiện cho sự lãnh đạo của ông là phải chuyển giao toàn bộ lực lượng của ông cho Mặt trận thay vì sáp nhập vào Quân đội Quốc gia. Lãnh đạo Hoà Hảo, Ba Cụt, sẽ chỉ huy tất cả các lực lượng trong trường hợp khẩn cấp. Mặt trận cũng sẽ nắm quyền kiểm soát “nguồn lực tài chính và nhân lực của đất nước” nếu họ có thể hành động cùng nhau.[49] Lansdale mô tả sáng kiến Mặt trận này là “một sự điên rồ bất chợt gần như xé toạc Việt Nam ra nhiều mảnh.”[50] Theo ông, Diệm đang học việc, những người tị nạn từ miền Bắc đang được tái định cư, và Quân đội đang hưởng lợi từ chương trình huấn luyện TRIM. Hơn nữa, chiến dịch bình định ở Cà Mau đã diễn ra tốt đẹp và chiến dịch dự kiến ở miền Trung Việt Nam (Chiến dịch Giải Phóng) được kì vọng sẽ còn tốt hơn nữa. Đất đai bị bỏ hoang trong chiến tranh đang được canh tác và việc sáp nhập một số lực lượng giáo phái vào Quân đội Quốc gia đang được tiến hành – “… du kích Liên Minh của Trình Minh Thế, 10 000 quân Cao Đài của tướng Nguyễn Thành Phương, trung đoàn Hoà Hảo còn lại dưới quyền tướng Nguyễn Giác Ngộ (trung đoàn khác của ông đã được sáp nhập trước đó), và 4 tiểu đoàn Hoà Hảo dưới quyền trung tá Nguyễn Văn Huệ.”[51]
“Bảo Đại và người Pháp, mỗi bên vì những lí do khác nhau, đều không hề khó chịu trước tình thế tuyệt vọng của Diệm.” Bảo Đại ra lệnh cho Diệm và tham mưu trưởng sang Pháp hội đàm. Chính phủ Pháp công khai bày tỏ sự thiếu tin tưởng vào Diệm và ông dường như đang hướng tới một cuộc xung đột quân sự với Bình Xuyên. Tướng Collins phản đối ý định tìm kiếm một cuộc đối đầu như vậy của Diệm và đã dàn xếp một thỏa thuận ngừng bắn vào đầu tháng 4 sau khi xảy ra một số cuộc giao tranh nhỏ. Về phía Pháp, họ triển khai quân đội ở Sài Gòn theo cách bất lợi cho Diệm và không cung cấp cho ông ta đạn dược và các thứ nhu yếu khác. Hầu hết các nhà quan sát đều cho rằng vị thế của Diệm là vô vọng.
Ngày 20/4, Collins quay lại Washington để tham vấn. Phát biểu của Tổng thống Eisenhower trước báo chí sau cuộc nói chuyện với Collins đã làm rõ vấn đề thay đổi chính sách liên quan đến việc ủng hộ Diệm. Tuy nhiên, Dulles và các đồng nghiệp chính của ông đã thắng thế, như đã ghi nhận vài trang trước, rằng không có lựa chọn thật sự nào thay cho Diệm vào lúc đó. Bộ Ngoại giao đã tuyên bố rõ ràng vào ngày 29/4 rằng “người đứng đầu chính phủ hợp pháp hiện tại của Việt Nam Tự do mà chúng tôi đang ủng hộ là Diệm”. Giao tranh đã bắt đầu ở Sài Gòn vào ngày 28/4/1955 giữa lực lượng Bình Xuyên và quân đội Việt Nam của Diệm, và khi tướng Collins trở lại vào ngày 2/5, rõ ràng là Diệm đã thắng.[52]
Ngày 6/5, Chính phủ Hoa Kì một lần nữa công khai khẳng định sự ủng hộ đối với chính phủ của Diệm. Ngày 10/5, Nhà Trắng thông báo theo yêu cầu của Việt Nam và với sự đồng ý của Pháp, Hoa Kì đã tiếp nhận trách nhiệm huấn luyện Lực lượng vũ trang Việt Nam.[53] Đại sứ Frederick Reinhardt, người đến thay thế tướng Collins tại Sài Gòn, đã nói rõ rằng “Tôi đến đây theo chỉ thị để thực hiện chính sách của Hoa Kì nhằm trợ giúp chính phủ hợp pháp của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Ngô Đình Diệm.”[54]
Sau khi đánh bại nhiều đối thủ, trong đó có Bảo Đại, không có gì ngạc nhiên khi Diệm nhanh chóng tiến đến việc công khai loại bỏ cựu hoàng đế khỏi chính trường. Sau khi sáp nhập Cận vệ Hoàng gia vào Quân đội, tịch thu đất đai của hoàng gia để sử dụng cho việc tái định cư người tị nạn và thực hiện chương trình cải cách ruộng đất, ông thông báo tổ chức trưng cầu ý dân vào ngày 23/10/1955, qua đó người dân sẽ lựa chọn giữa ông và Bảo Đại.[55] Một thời gian ngắn sau, Diệm thông báo rằng cuộc bầu cử để quyết định vấn đề thống nhất với Bắc Việt theo quy định tại Đoạn 7 của Tuyên bố Cuối cùng của Hội nghị Geneva và dự kiến diễn ra vào tháng 7/1956 sẽ không diễn ra. Ông chỉ ra rằng Nam Việt không kí Hiệp định Geneva, vạch ra rằng hiệp định đã được kí kết trái với ý muốn của nhân dân Việt Nam, và tuyên bố Nam Việt sẽ không xem xét bất kì đề xuất nào từ “Việt Minh” nếu không có bằng chứng cho thấy phe này “đặt lợi ích tối cao của cộng đồng dân tộc lên trên lợi ích của chủ nghĩa Cộng sản.”[56]
Ngoại trưởng Dulles đã dự đoán lập trường của Diệm trong một cuộc họp báo ngày 28/6, nhắc lại rằng cả Chính phủ Việt Nam lẫn Hoa Kì đều không kí Hiệp định Geneva và tuyên bố rằng Hoa Kì không ngại chứng kiến những cuộc bầu cử thật sự tự do như Hiệp định đòi hỏi. Tháng 10, trợ lí ngoại trưởng Walter S. Robertson lưu ý rằng những người tị nạn từ Bắc Việt, và nhiều đồng hương của họ ở miền Nam, nghi ngờ rằng cuộc bầu cử khó có thể được tổ chức trong điều kiện thật sự tự do trên lãnh thổ do Việt Minh kiểm soát (ở miền Nam), trong khi cuộc bầu cử do cộng sản điều hành ở miền Bắc đông dân hơn chắc chắn sẽ dẫn đến chiến thắng của cộng sản ở đó. Tóm lại, cuộc bầu cử sẽ khiến miền Nam bị cộng sản thâu tóm qua “cách thức có vẻ hợp pháp”. Nghị sĩ Mansfield cũng hoài nghi không kém:
Bầu cử nên và phải đóng vai trò quan trọng trong quá trình thống nhất Việt Nam nếu sự thống nhất đạt tới bằng con đường hoà bình. Tuy nhiên, trừ khi được thiết lập hơn chỉ là nghi thức, bầu cử phải lấy việc tạo cơ hội cho người dân Việt Nam được tự do lựa chọn làm mục đích… các điều kiện để có được sự lựa chọn như vậy hầu như vẫn chưa phổ biến ngay cả ở miền Nam. Càng kém hơn dưới chế độ độc tài sắt đá ở miền Bắc.[57]
Diệm tiến đến đỉnh điểm bất hạnh của thời ông cầm quyền; sau đó, nhiều ý kiến khác nhau đã nổi lên về tầm quan trọng của vấn đề bầu cử tự do và mối liên hệ của vấn đề này với nguồn gốc của cuộc nổi dậy ở Việt Nam thời Diệm. Trợ lí Ngoại trưởng William P. Bundy đã nói đến vấn đề bầu cử tự do trong bài phát biểu ngày 15/8/1967 tại College Park, Maryland. Bundy mô tả sự hậu thuẫn của Hoa Kì dành cho Việt Nam thông qua trợ giúp kinh tế và quân sự cũng như thông qua Nghị định thư Hiệp ước SEATO từ năm 1954 đến năm 1961 là một “câu chuyện rối rắm và khó khăn”. Ông cho rằng đã có những sai lầm trong chính sách viện trợ về kinh tế và đặc biệt là về quân sự, và tin rằng Hoa Kì lẽ ra nên cố gắng hơn nữa để “chống lại xu hướng độc đoán ngày càng tăng của chế độ Diệm trong lĩnh vực chính trị”. Tuy nhiên, ông cho rằng việc xử lí vấn đề bầu cử không phải là một sai lầm. Cách diễn giải của chúng t là các cuộc bầu cử chắc chắn phải được tổ chức tự do và trên thực tế sẽ là một cuộc trưng cầu dân ý về việc liệu có mong muốn thống nhất đất nước hay không.[58]
Bundy cho rằng có quá nhiều “nhận xét vô nghĩa sau sự việc” được viết về những gì đã xảy ra vào năm 1956 về vấn đề này. Ông tin rằng việc xem xét các nguồn tài liệu và thảo luận đương thời sẽ cho thấy rằng:
… đến năm 1956, có hai luận điểm đã được chấp nhận: thứ nhất, Nam Việt, trái ngược với hầu hết các dự đoán vào năm 1954, đã tự đứng vững được và chứng tỏ rằng ở đó tồn tại những yếu tố hình thành nên một chủ nghĩa dân tộc không cộng sản hợp lệ; và thứ hai, Bắc Việt – nơi đã trải qua thời kì đàn áp khốc liệt vào năm 1955 và 1956, trong đó Bernard Fall ước tính gần 50 000 đối thủ chính trị đã bị giết tức thì – chắc chắn sẽ không cho phép bất kì sự giám sát hay quyết định nào có thể được gọi là tự do.[59]
Ông lưu ý rằng trước những sự thật này, Diệm đã từ chối tiến hành cuộc bầu cử và rằng Hoa Kì đã ủng hộ ông. Ông dẫn những tuyên bố đương thời của nghị sĩ trẻ tuổi lúc bấy giờ đến từ Massachusetts và của giáo sư Hans Morgenthau:
Kennedy kiên quyết bác bỏ “một cuộc bầu cử rõ ràng đã bị thao túng và phá hoại từ trước, do những kẻ đã vi phạm cam kết của chính mình theo thỏa thuận mà giờ đây lại đang tìm cách thực thị, thúc giục tiến hành.”
Morgenthau, sau khi nói đến sự thay đổi to lớn giữa năm 1954 và 1956, và cho rằng điều kiện cho bầu cử tự do không tồn tại ở cả Bắc lẫn Nam Việt Nam, đã kết luận:
“Thật ra, điều khoản về bầu cử tự do, vốn sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề Việt Nam, là một thủ đoạn để che giấu sự không tương hợp về lập trường của phe Cộng sản và phương Tây, cả hai đều không thể chấp nhận phía bên kia thống trị toàn bộ Việt Nam. Đó là một thủ đoạn để che đậy sự thật rằng đường ranh giới quân sự chắc chắn cũng sẽ là đường ranh giới chính trị.”
Guenter Lewy, trong cuốn sách America in Vietnam (Nước Mĩ ở Việt Nam), đã thực hiện phân tích này sâu hơn. Ông chỉ ra rằng đã có rất nhiều hiểu lầm về kết quả cuối cùng của Hội nghị Geneva năm 1954. Ông nhắc lại rằng “hiệp định” bao gồm 6 tuyên bố đơn phương, 3 thỏa thuận ngừng bắn, một tuyên bố cuối cùng không chữ kí và biên bản phiên họp toàn thể cuối cùng vào ngày 21/7. Ông tin rằng “Chỉ có các thỏa thuận ngừng bắn, được kí bởi các chỉ huy quân sự tương ứng, mới có thể được coi là các thỏa thuận ràng buộc chính thức. Ngôn ngữ của hầu hết các văn kiện đều mơ hồ và phản ánh sự thiếu đồng thuận tại hội nghị. Do đó, những lời kêu gọi ‘tuân thủ Hiệp định Geneva’, thường được nghe thấy trong những năm sau đó, nhất thiết không có ý nghĩa cụ thể.”[60]
Lewy lưu ý rằng có ý kiến cho rằng việc Diệm không chấp nhận bầu cử năm 1956 theo Tuyên bố Cuối cùng của Hội nghị Geneva đã biện minh cho việc Bắc Việt ủng hộ cho cuộc nổi dậy ở miền Nam. Ông nhớ lại hai học giả khác về chủ đề này đã lập luận rằng “khi một cuộc đấu tranh quân sự giành quyền lực kết thúc theo điều kiện đã được thỏa thuận rằng cuộc cạnh tranh sẽ được chuyển sang bình diện chính trị, thì bên vi phạm điều kiện đã thỏa thuận không thể kì vọng một cách chính đáng rằng cuộc đấu tranh quân sự sẽ không được tiếp tục.” Lewy hỏi liệu có “điều kiện đã được thỏa thuận” như vậy hay không; ông trả lời, thật ra là không có. Lewy trích dẫn Tuyên bố Cuối cùng của hội nghị để nhấn mạnh rằng Hiệp định về Việt Nam cốt yếu là một thỏa thuận ngừng bắn thiết lập một đường phân giới tạm thời, không phải là ranh giới chính trị hay lãnh thổ theo bất kì cách nào:
Cuộc tổng tuyển cử tự do bằng bỏ phiếu kín, được một ủy ban quốc tế giám sát, dự kiến sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956 nhằm đem lại một giải pháp chính trị cuối cùng. Trong khi đó, mọi người lại được cho phép tự do quyết định muốn sống ở khu vực nào. Tuy nhiên, có những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy không ai tại hội nghị coi ý tưởng về thống nhất sớm thông qua các cuộc bầu cử tự do là nghiêm túc. Tại sao lại phải có một cuộc trao đổi dân cư quy mô lớn nếu hai khu vực sẽ phải thống nhất trong vòng khoảng 700 ngày?[61]
Lewy nhận thấy rằng Tuyên bố Cuối cùng vẫn không có chữ kí, chưa được thông qua bằng một cuộc bỏ phiếu chính thức và không được 5 trong số 9 đoàn đại biểu có mặt tại phiên họp cuối cùng chấp nhận vô điều kiện. Ông viết rằng:
Theo kết luận của một nghiên cứu khách quan nhất về Hội nghị Geneva năm 1954, trong trường hợp không có sự đồng ý bằng văn bản hoặc bằng lời nói của tất cả 9 bên tham gia, tuyên bố cuối cùng không tạo ra nghĩa vụ tập thể nào cho hội nghị, và trừ khi tất cả các quốc gia tham gia đồng ý với các điều khoản của tuyên bố và tự ràng buộc mình theo các thủ tục được quy định trong hiến pháp của mỗi nước, thì “các điều khoản có tính thi hành (operative terms) của tuyên bố không ràng buộc tất cả các nước tham gia Hội nghị Geneva.”
Lewy lưu ý rằng, trong một số trường hợp nhất định, các thỏa thuận bằng miệng có thể ràng buộc theo luật quốc tế, nhưng cả Nam Việt lẫn Hoa Kì đều đã tuyên bố rõ ràng sự phản đối của họ. “Do đó, không bên nào có thể bị coi là bị ràng buộc bởi các điều khoản về cuộc bầu cử năm 1956.”[62]
Dù thế nào đi nữa, cả bầu không khí do chế độ cộng sản ở Bắc Việt áp đặt lẫn phương thức hoạt động của Uỷ hội Giám sát và Kiểm soát Hiệp định đình chiến quốc tế đều sẽ không thể đóng góp gì vào việc bảo đảm tự do cho bất kì cuộc bầu cử nào được tổ chức ở miền Bắc. Bernard Fail đã mô tả “sự kiện Nghệ An” ngày 2/11/1956 trong cuốn sách The Two Viet-Nams (Hai Việt Nam) của ông:
Vì chỉ do tình cờ các thành viên người Canada của Uỷ hội Kiểm soát Quốc tế có mặt khi cuộc nổi dậy nổ ra, nên nguồn gốc hoàn toàn tình cờ và phổ biến của nó có thể được chứng minh rõ ràng. Nó rõ ràng khởi sự khi dân làng vây quanh một chiếc xe jeep của Cộng sản với những bản kiến nghị yêu cầu được phép đi về phía nam vĩ tuyến 17. Một bộ đội hoặc dân quân Việt Minh đã cố gắng giải tán dân làng bằng báng súng, nhưng những nông dân tức giận đã đánh anh ta và cướp súng. Sau đó, người lính VPA [Quân đội Nhân dân Việt Nam] thấy cần phải rút lui, nhưng lại quay trở lại với một toán lính; họ cũng chịu chung số phận với anh ta, và hai bên đã nổ súng. Đến tối, phong trào đã lan rộng khắp toàn huyện, và nguy cơ ngày càng tăng cao rằng những nông dân này, giống như những nông dân Xô Viết Nghệ An lần thứ nhất năm 1939, sẽ kéo nhau về thủ phủ Vinh, giống như họ đã từng kéo đi 26 năm trước đó để phản đối chính quyền thực dân. Hà Nội không còn lựa chọn nào khác; đã đáp trả chính xác theo cách mà cường quốc thực dân đã làm, bằng cách điều toàn bộ Sư đoàn 325 đi đàn áp những kẻ nổi loạn. Họ đã làm điều đó với sự triệt để điển hình của Quân đội Nhân dân Việt Nam; được cho là, gần 6 000 nông dân đã bị trục xuất hoặc hành quyết. Với những dòng tiêu đề bị tin tức từ Suez và Hungary lấn át, báo chí thế giới hầu như không còn chỗ cho những người nông dân ở Nghệ An. Và không một thành viên nào của Liên Hợp Quốc – cả khối Bandung luôn nhạy cảm và quan tâm đến số phận của những người anh em trong xiềng xích thực dân, cũng như các quốc gia thường xuyên chống Cộng sản – đủ can đảm (hoặc tập hợp đủ bằng chứng) để trình bày vụ Nghệ An trước lương tâm của thế giới.[63]
Nhà quan sát người Mĩ Anita Lauve đã đưa tin vào tháng 8/1970 rằng Chính phủ Nam Việt đã kịch liệt phản đối với Uỷ hội Quốc tế (ICC) về vụ Nghệ An, cáo buộc Bắc Việt vi phạm Điều 15d (gây tổn hại đến tính mạng và tài sản của thường dân) và điều 14d (từ chối quyền tự do đi lại). Cô lưu ý rằng nhóm ICC tại tỉnh Nghệ An đã nhận được 1 684 đơn khiếu nại từ người dân địa phương nhưng, vì ICC trước đó đã kết luận rằng điều 15d không còn hiệu lực sau thời gian tập kết 300 ngày, nên họ đã bỏ qua các khiếu nại thuộc mục này. 985 đơn khiếu nại cáo buộc từ chối quyền tự do đi lại đã được chuyển đến chính phủ cộng sản ở Bắc Việt để lấy ý kiến. Cô Lauve lưu ý rằng, khoảng 4 năm sau, ICC báo cáo rằng các ý kiến của Bắc Việt vẫn đang được xem xét và trong báo cáo tạm thời thứ 11 và cuối cùng, ủy ban đã tuyên bố rằng họ “không thể xem xét 985 đơn khiếu nại nhận được từ huyện Quỳnh Lưu.[64]
Cô Lauve cũng lưu ý rằng các vụ thảm sát của cộng sản đã diễn ra từ khá lâu trước vụ Nghệ An, bắt nguồn từ việc ban hành Sắc lệnh Phân loại Dân cư, văn bản này phân chia dân cư nông thôn thành các nhóm để phân biệt “bạn với thù”.[65]
Sắc lệnh nêu rõ rằng những “địa chủ gian ác” cần phải bị loại bỏ cũng là những “kẻ phản bội” đã từng cộng tác với người Pháp. Các cán bộ đảng được huấn luyện để tham gia chương trình cải cách ruộng đất được dạy rằng “chế độ phong kiến” (sở hữu đất đai) và “chủ nghĩa đế quốc” (chủ nghĩa thực dân) cấu kết với nhau và phải cùng bị lật đổ với nhau.[66] Chiến dịch khủng bố kéo dài một thời gian do đó đã nhắm vào cả các đối thủ chính trị cũng như vào cải cách ruộng đất. Nó được nới lỏng sau lệnh ngừng bắn vì những người cộng sản muốn kiểm soát phong trào tị nạn vào Nam và tránh cáo buộc trả thù đối với những người đã ở phía bên kia trong cuộc chiến. Để đối phó với những người thuộc nhóm sau, chế độ cộng sản đã sửa đổi một số quy định cải cách ruộng đất và phân loại lại dân số theo cách tạo vỏ bọc cho việc trả thù trong khi vẫn tỏ ra tôn trọng quy định cấm trả thù của Hiệp định Geneva. “Sắc lệnh của chính phủ đã định ra 4 loại địa chủ: người dân chủ và trí thức yêu nước; địa chủ tham gia kháng chiến; địa chủ thường; và địa chủ cường hào, gian ác mà đối với họ sẽ có cách đối xử riêng.”[67]
Sau khi những lính Pháp cuối cùng rời đi vào tháng 5/1955, khủng bố lại tiếp diễn và “Nhóm địa chủ thứ tư trở thành nhóm bao gồm tất cả những ai có liên hệ với Chính phủ Pháp hoặc Chính phủ Quốc gia trong suốt thời gian chiến sự.”[68] Khi ước tính số nạn nhân trong các hoạt động trả thù cải cách ruộng đất gom chung lại, Bernard Fall đã viết, “Mặc dù rõ ràng là không thể đưa ra con số chính xác, nhưng phỏng đoán có cơ sở nhất về vấn đề này là có lẽ gần 50 000 dân phía Bắc đã bị hành quyết liên quan đến cuộc cải cách ruộng đất và ít nhất gấp đôi số đó đã bị bắt và đưa đến các trại lao động cưỡng bức.”[69]
Giáo sư người Pháp Gerard Tongas, từng ở lại Hà Nội sau ngừng bắn năm 1954 cho đến năm 1959, và vốn ban đầu có thiện cảm với chế độ Việt Minh, có giấy phép của công an cho phép đi lại tự do – dường như là người nước ngoài duy nhất được tự do đi lại như vậy. Ông viết rằng chương trình cải cách ruộng đất là “cái cớ cho một cuộc tàn sát không thể tả xiết, đã gây ra – theo như thông tin tôi có được – 100 000 người chết.”[70]
Lập trường pháp lí cứng nhắc do Chính phủ Nam Việt áp dụng, những hạn chế thực tế về khả năng của Phái đoàn Liên lạc Pháp trong việc hành động thay mặt Chính phủ Nam Việt, quan điểm của một số thành viên trong Phái đoàn Ấn Độ, và sự nhanh lẹ của Bắc Việt trong việc điều chỉnh luật pháp cho phù hợp về mặt kĩ thuật với Hiệp định Geneva đã tạo nên một hình ảnh sai lệch rằng ở miền Nam vi phạm lan rộng hơn nhiều so với miền Bắc. Năm 1954, Chính phủ Nam Việt bắt đầu gửi khiếu nại của mình tới Phái đoàn Liên lạc Pháp để mong Pháp có hành động với Uỷ hội Quốc tế (ICC). Nam Việt giữ lập trường rằng, vì không kí Hiệp định, nên họ không bị ràng buộc về mặt pháp lí và do đó không được viện dẫn Hiệp định hay không được yêu cầu điều tra hay yêu cầu kèm theo khiếu nại của mình với loại bằng chứng xác thực như đòi hỏi. Phía Pháp không tin rằng họ ở vị thế phải rà xét lại các khiếu nại của Việt Nam và chịu hoàn toàn trách nhiệm về chúng. Phía Pháp tin rằng không thể thu thập được loại thông tin mà ICC yêu cầu trong điều kiện hiện có ở Bắc Việt. Vì lí do này, phía Pháp cho rằng tốt hơn hết là nên tập trung vào việc chuyển đi càng nhiều càng tốt nạn nhân tiềm năng ra khỏi nơi cộng sản trả thù. Khi miền Nam né tránh không chấp nhận viện dẫn Hiệp định và yêu cầu điều tra vào đầu năm 1955, “Hà Nội đã ranh mãnh sửa đổi luật pháp để tạo ra vỏ bọc pháp lí cần thiết cho việc tiến hành các cuộc trả thù dưới danh nghĩa ‘cải cách ruộng đất’.”
Cô Lauve cho rằng sự ngụy trang pháp lí này có thể không tránh được việc điều tra kiên quyết và đã viết:
Tuy nhiên, vì ICC không có nêu thêm dẫn chứng nào về việc VNDCCH trả thù hoặc không chấp nhận các quyền tự do dân chủ trong chương trình cải cách ruộng đất, luật pháp của VNDCCH dường như đáp ứng các tiêu chí của ICC, và các phiên xử của Tòa án Nhân dân được chấp nhận như một phần của nền hành chính dân sự mà ICC không thể can thiệp vào. Nếu vậy, rất có thể là do chính quyền Hà Nội đã quen thuộc với cách nhìn của một vài thành viên chủ chốt trong phái đoàn Ấn Độ quan trọng tại ICC, và đã soạn thảo luật pháp theo đó.
Cô đã dẫn các bài viết của nhân viên Quan hệ Công chúng kiêm Phó Tổng thư kí, tiến sĩ BSN Murti (Vietnam Divided (New York: Asia Publishing House), 1964, 61-2) để minh họa cho quan điểm này.[71] Tóm lại, Murti viết rằng mặc dù Điều 14 của Hiệp định hàm ý phải có một chế độ tự do dân chủ cho toàn bộ dân chúng ở hai khu vực, nhưng không có hàm ý rằng cả miền Bắc và miền Nam phải theo cùng một tiêu chuẩn. Thay vì vậy, ông cho rằng tiêu chuẩn tự do dân chủ phụ thuộc vào tiêu chuẩn thịnh hành ở khu vực liên quan.[72]
Giáo sư Tongas đã mô tả kết quả theo cách ông nhìn nhận:
Những cuộc trả thù đẫm máu và tàn bạo nhất đã được thực hiện, đặc biệt là đối với những người Việt từng làm việc cho người Pháp. Những cuộc trả thù này, được thực hiện một cách ít nhiều che đậy trong nhiều dịp, đã diễn ra một cách ngoạn mục trong cuộc cải cách ruộng đất quái dị.
Đối mặt với những vi phạm khủng khiếp đối với Hiệp định Geneva, thái độ của Uỷ hội Quốc tế (ICC) là gì? Họ không thấy gì, không biết gì, không lên án gì. Tại sao? Bởi vì họ không được thông báo chính thức kèm theo bằng chứng xác thực… Vậy thì, dưới một chế độ khủng bố như vậy, ai dám đương đầu với cơn thịnh nộ của chính quyền? Những người quả quyết sẵn sàng cho bất cứ hi sinh nào, những người tự nguyện chịu chết – nói cách khác, những người cung cấp thông tin bị bỏ lại hoặc được phía bên kia phái đến, có thể nộp cho ICC ở Nam Việt những khiếu nại có căn cứ vững chắc, nhờ vào thông tin quý giá của họ. Nhưng không có những người cung cấp thông tin như vậy ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam thì có rất nhiều, điều này giải thích tại sao khi đọc các báo cáo của ICC, người ta thấy rằng chính quyền ở Nam Việt phải chịu trách nhiệm về các vi phạm Hiệp định Geneva vô cùng nhiều hơn chính quyền ở miền Bắc. Sự thật do đó đã bị xuyên tạc một cách trắng trợn có lợi cho phe Cộng sản.[73]
Hoặc, như một cựu thành viên của phái đoàn Canada tại Uỷ hội Quốc tế đã nói:
“Từ năm 1955, Uỷ hội Quốc tế đã được chính quyền Nam Việt thông báo về những diễn biến này thông qua số lượng ngày càng tăng các đơn khiếu nại được gửi đến họ [về hoạt động lật đổ của cộng sản từ Hà Nội]. Tuy nhiên, phải mất nhiều năm trước khi Uỷ hội có bất kì hành động nào. Trong thời gian đó, Uỷ hội đã cần mẫn xử lí các khiếu nại từ chính quyền Hà Nội rằng Chính phủ Nam Việt đang vi phạm các quyền được đảm bảo bởi Điều 14(c) của Hiệp định ngừng bắn đối với những người mà Hà Nội và Uỷ hội gọi là “các cựu kháng chiến”.
……..
Cũng có vẻ rõ ràng rằng Bắc Việt đã sử dụng Uỷ hội Quốc tế và các khiếu nại liên quan đến Điều 14(c) [cấm trả thù] để áp đặt ràng buộc lên những nỗ lực hạn chế của Sài Gòn trong việc chống lại các hoạt động khủng bố của các đặc vụ Hà Nội.[74]
Năm 1962, một thành viên của Hạ viện Anh đã sử dụng hồ sơ khiếu nại của ICC làm chỗ dựa cho cáo buộc rằng Chính phủ Nam Việt và Hoa Kì phải chịu trách nhiệm cho tình hình xấu đi ở Việt Nam. Một đại diện của Chính phủ Anh (một trong những đồng chủ tịch Geneva) đã trả lời:
Cuộc nổi dậy ở Nam Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc nổi dậy tự phát của quần chúng chống lại một chính phủ không được lòng dân, như ngài dân biểu và những người bạn đáng kính khác của ông đã cố ám chỉ. Trên thực tế, đó là một âm mưu chiếm lấy quyền lực có dàn dựng cẩn thận của phe Cộng sản. Trong một thời gian dài, đã có sự xâm nhập liên tục của những cán bộ tổ chức quân sự và chính trị được đào tạo bài bản từ Bắc Việt vào miền Nam… Có rất nhiều bằng chứng cho thấy cuộc nổi dậy đã được kích động, tổ chức, một phần được cung ứng và hoàn toàn được chỉ đạo từ miền Bắc. Vũ khí chính của phong trào này là khủng bố và đe dọa.
Ngài dân biểu cũng đề cập đến số lượng khiếu nại chống lại phía Nam Việt được nêu trong các báo cáo của Uỷ hội. Chúng ta không nên bị dẫn dắt lệch hướng để đưa ra những kết luận sai lầm bởi số lượng các khiếu nại này từ phía Bắc so với phía Nam. Phải đến tháng 7/1961, Uỷ hội mới quyết định rằng họ có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại về hoạt động lật đổ của Bắc Việt. Đây chính là mấu chốt của vấn đề.[75]
Khi thảo luận về nguồn gốc của cuộc nổi dậy ở Nam Việt, một số tác giả vào những năm 1960 đã kể ra chiến dịch đàn áp mạnh mẽ của Diệm đối với Việt Minh như là nguyên nhân thật sự của cuộc nổi dậy. William Bundy trong bài diễn văn “Path to Viet-Nam” (Con đường đến Việt Nam) đã bác bỏ quan điểm “lãng mạn” này, chỉ ra rằng mặc dù sự bất mãn ngày càng tăng đối với các chính sách của Diệm cuối cùng có thể dẫn đến một cuộc cách mạng nội bộ, nhưng đó không phải là điều đã thật sự xảy ra; “… điều đã xảy ra là Hà Nội đã nhảy vào, ít nhất là từ năm 1959 trở đi (Bernard Fall nói là từ năm 1957), và cung cấp đường lối sắc bén, người đã qua huấn luyện từ miền Bắc, và đồ tiếp tế và điều này đã biến sự bất mãn nội bộ thành một nỗ lực lật đổ quy mô lớn được chỉ đạo và trợ lực từ bên ngoài theo những cách quan trọng.”[76] Để làm rõ hơn, ông đã dẫn lời người tiền nhiệm của mình là Roger Hilsman:
Thực tế, Việt Nam đang ở giữa hai cuộc đấu tranh chứ không phải một. Chiến tranh du kích không phải là một cuộc cách mạng tự phát, như phe Cộng sản vẫn thường tuyên truyền, mà là một chiến dịch được dàn dựng, có chủ ý, được chỉ đạo và điều khiển từ Hà Nội. Nhưng Việt Nam cũng đang ở trong cơn cuồng nộ của một cuộc cách mạng thật sự, một cuộc cách mạng xã hội và dân tộc chủ nghĩa rất giống với “chủ nghĩa dân tộc mới” đã lan rộng trong cuộc khủng hoảng Congo lẫn cuộc đối đầu giữa Indonesia và Malaysia. Ngay cả khi cuộc đấu tranh chống lại Việt Cộng vẫn tiếp diễn, quyền lực đang chuyển dần từ tầng lớp quan lại được đào tạo theo kiểu Pháp sang các đại diện của chủ nghĩa dân tộc mới, những người theo đạo Phật, sinh viên và “những kẻ cấp tiến (young Turks)” trong quân đội.[77]
Viết vào năm 1978, Guenter Lewy khẳng định rằng bằng chứng có được từ các tài liệu bị thu giữ và lời khai của những người đào ngũ am hiểu vấn đề đã mâu thuẫn với hầu hết các luận điểm cho rằng cuộc nổi dậy bắt đầu ở miền Nam do những người dân miền Nam phản ứng lại chiến dịch đàn áp của Diệm. Lewy đồng ý với hầu hết các nhà quan sát khác rằng các phương pháp độc đoán và chuyên quyền của Diệm đã dần dần làm mất lòng các bộ phận quan trọng trong dân cư thành thị và việc ông thay thế các xã trưởng và hội đồng xã được bầu bằng những người do ông bổ nhiệm đã khiến ông mất dần ảnh hưởng ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, ông nhận thấy rằng các bằng chứng hiện có cho thấy “Quyết định bắt đầu cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (VWP)”, Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa ra tại Hà Nội năm 1959. Lewy dẫn lời Jeffrey Race, “một nhà phê bình về cuộc can thiệp sau đó của Mĩ,” cho rằng ý kiến “chính sách phối hợp về hoạt động vũ trang được khởi xướng ở miền Nam bởi một nhóm chiến binh bên ngoài Đảng, hoặc bởi một phe chiến binh miền Nam tách khỏi sự lãnh đạo trung ương, không được bằng chứng lịch sử hậu thuẫn ngoại trừ bằng chứng do Đảng dựng lên…” Theo Lewy, các bằng chứng cho thấy một cách rõ ràng rằng Mặt trận Giải phóng Dân tộc được thành lập dưới sự chủ mưu của đảng ở Hà Nội, như một tổ chức mặt trận điển hình kiểu cộng sản nhằm che giấu định hướng cộng sản của cuộc nổi dậy.[78]
Đến cuối năm 1958, chiến dịch đàn áp cộng sản của Diệm đã gây tổn thất nặng nề cho bộ máy đảng ở miền Nam. Chiến dịch ám sát của chính đảng [cộng sản] nhằm vào các quan chức địa phương, giáo viên và nhân viên xã hội chắc chắn đã thúc đẩy chính phủ Diệm sử dụng bạo lực mạnh hơn, làm gia tăng áp lực lên người dân. Bầu không khí này có vẻ được nhánh đảng ở miền Nam coi là có lợi trong việc tăng thêm tiềm năng cách mạng. Họ yêu cầu thay đổi chính sách cho phép thành lập các đơn vị vũ trang trên khắp miền Nam. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, họp tại Hà Nội vào tháng 1/1959, đã đưa ra quyết định như vậy và ban hành vào tháng 5. Kết quả là, đến tháng 7, cuộc xâm nhập quy mô lớn mà thứ trưởng Bundy đã nêu trong bài phát biểu của mình đã bắt đầu. Nó bao gồm khoảng 4 000 người miền Nam ra Bắc vào năm 1954 trong chiến dịch mà William Colby nhắc đến, từ năm 1959 đến năm 1960. Những người này là các cán bộ vũ trang được huấn luyện để thành lập và lãnh đạo lực lượng nổi dậy. Như tướng Giáp đã nói vào năm 1954: “Miền Bắc đã trở thành hậu phương lớn của quân đội. Miền Bắc là căn cứ cách mạng của cả nước.”[79]
VNDCCH đã công khai quyết tâm ủng hộ cuộc nổi dậy ở miền Nam tại Đại hội lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam ở Hà Nội vào tháng 9/1960.[80] Thông qua tổng bí thư [đúng ra là bí thư thứ nhất – ND] Lê Duẩn, Đảng đã cam kết biến miền Bắc thành “căn cứ vững chắc hơn nữa cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước” đồng thời giải phóng “miền Nam khỏi ách cai trị tàn bạo của đế quốc Mĩ và tay sai”. Đại hội đã quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia rộng lớn chống Mĩ và Diệm, dựa trên giai cấp công nông.[81] Lực lượng vũ trang Giải phóng Nhân dân (PLAF) được thành lập vào ngày 15/2/1961, và mặc dù PLAF này chắc chắn có một số người không phải là cộng sản, nhưng hầu hết các nhà quan sát đều nhất trí rằng nó không phải là “một thực thể chính trị độc lập và bản địa của miền Nam có chính sách của riêng mình” và đều chấp nhận sự thật là nó bị Hà Nội kiểm soát. Đảng Nhân dân Cách mạng (PRP), được thành lập vào tháng 1/1962, cũng thường được coi là nhánh phía nam của VWP.[82]
Như trợ lí ngoại trưởng Bundy đã nhận xét, Diệm phải đối mặt với hai vấn đề cùng lúc: chiến dịch vũ trang nhằm lật đổ ông từ phía Bắc và sự bất mãn nội bộ ngày càng gia tăng do chính sách và cách thức điều hành của ông gây ra.
Như William Colby nhận định, cách nhìn nhận của Diệm chứa đựng nhiều thiếu sót mà theo thời gian sẽ trở nên nghiêm trọng và viện trợ của Mĩ, theo một cách nào đó, đã gây bất lợi cho ông vì nó có thể bị những người Cộng sản trình bày như là “bóng đen” che khuất tinh thần dân tộc của ông. Nhận thức được vấn đề này có lẽ đã gây ra một số thái độ khó chịu mà Diệm và một số đồng sự thể hiện khi làm việc với người Mĩ về các vấn đề viện trợ. Hơn nữa, trong những ngày đầu khó khăn, Diệm đã học được tầm quan trọng của việc nắm giữ việc kiểm soát quyền lực và các phương tiện để thực thi quyền lực đó. Khá ngạc nhiên là ông dường như không quan tâm đến dư luận hay ý kiến của các phần tử “tinh hoa” trong xã hội. Do đó, ông hoạt động như một nhà độc tài nhân từ, tự mình quyết định điều gì là tốt nhất cho người dân và tạo ra ở các thành phố một khoảng trống chính trị mà các phần tử tinh hoa trước đây gắn bó với các giáo phái hoặc với những người theo chủ nghĩa địa phương riêng lẻ tới lượt mình cố hành động trong khoảng trống đó. Ở vùng nông thôn, khoảng trống đó được “phía cộng sản nằm sau các mạng lưới” lấp vào.[83]
Một nhà quan sát khác cho rằng, mặc dù các chính sách và chương trình của Diệm từ năm 1956 trở đi đang dẫn đến thảm họa, điều này nhìn chung không rõ ràng vào lúc đó vì Diệm và chính phủ của ông trông rất tốt so với một số đồng nhiệm của họ ở các khu vực thuộc địa cũ khác. Sự bất mãn và thiếu kiên nhẫn với phương thức hoạt động của Diệm đã được “hình ảnh” này và bởi sự thành công rõ ràng của ông trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và chính trị bù trừ. Cũng với nhà quan sát đó, “vấn đề của Diệm là ông quá đậm chất môt viên quan để trở thành một nhà dân chủ, quá đậm chất một nhà dân chủ để trở thành một nhà độc tài và quá đậm chất một nhà độc tài để thu hút sự ủng hộ tự phát của dân chúng. Hồ Chí Minh không có những mâu thuẫn tự thân như vậy.”[84]
Tháng 5/1957, Diệm có chuyến thăm cấp nhà nước tới Hoa Kì, ghé qua Honolulu và San Francisco trên đường đến Washington, ở đó ông được đón tiếp tại sân bay và được tổng thống Eisenhower và ngoại trưởng Dulles chiêu đãi tiệc tối cấp nhà nước, phát biểu trước phiên họp chung của các thành viên Thượng viện và Hạ viện và dự bữa trưa tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia, đồng thời thăm New York, Detroit, Lansing, Knoxville, Tennessee Valley và Los Angeles. Chuyến thăm là một thành công. Diệm được Quốc hội đón tiếp nồng nhiệt và được dư luận báo chí có thiện cảm và đánh giá tốt.[85]
Sự đón tiếp dành cho ông phản ánh sự đánh giá cao về những tiến bộ mà ông đã đạt được trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, bất chấp sự ủng hộ và giúp đỡ của Mĩ, chẳng bao lâu sau, rõ ràng là ông không còn nhận được sự ủng hộ của các thành phần quan trọng trong xã hội đô thị và ông không tìm ra câu trả lời cho vấn đề an ninh ngày càng tăng lên, cả ở thành thị lẫn nông thôn.[86] Một tác giả người Anh (Duncanson) đã mô tả sự thất bại về điều hành này là “chính sách thiếu phối hợp và thay đổi liên tục đi kèm với sự coi thường pháp luật…”, điều này khiến việc lập kế hoạch trở nên bất khả và làm nhóm thân cận của tổng thống rối rắm trong suy nghĩ cũng như thiếu khả năng lãnh đạo trong việc kiểm soát và kỉ luật các bộ phận chính phủ.
Vấn đề này thường được mô tả dưới góc độ sự nghi ngờ của Diệm đối với những người ngoài nhóm gia đình trực hệ của ông và dưới góc độ cách tiếp cận ‘quan lại’ xa cách của ông đối với những người được coi là nằm dưới sự lãnh đạo của ông. Từ góc nhìn triết lí, Duncanson cho rằng sự giúp đỡ vị tha thật sự của Mĩ đã không thể giúp Nam Việt đứng vững là do “không thể cắt đứt ngay từ giai đoạn đầu mối quan hệ cộng sinh giữa chính phủ và lực lượng cách mạng”, và từ “việc hiểu sai sức thuyết phục của quan điểm Tagore”. Theo cách diễn giải này, Duncanson nói ý của ông là trong cuộc sống của nông dân Việt Nam, không có sự tự do lựa chọn. Họ không thể hi vọng tự quyết định vận mệnh của chính mình. Nếu “thỉnh thoảng họ không chọn cách tuân theo ý muốn của thế lực mà họ ước đoán rằng cuối cùng sẽ mạnh hơn, thì đó là do sợ bị đe dọa tức thời hơn”. Duncanson cho rằng hai “trụ cột trợ giúp” – viện trợ tài chính và một đội quân hùng mạnh – mà Hoa Kì cung cấp cho Diệm dựa trên giả định rằng người nông dân có thể có tự do lựa chọn và lựa chọn của họ có thể bị sự quyến rũ của ý thức hệ và của sự thoải mái vật chất tác động. Để làm cho chúng hiệu quả hơn, hai “trụ cột trợ giúp” này được gắn kết chặt chẽ với nhau và “chính mối liên kết đó đã hủy hoại những nhà lãnh đạo mà nó có ý trợ giúp”.[87] Duncanson lập luận rằng chuỗi sự kiện dẫn đến sự sụp đổ của Diệm:
…ít do sự chuyên quyền hay định kiến tôn giáo của ông bằng do thế giới bên ngoài bị dẫn dắt tin theo; yếu tố quyết định có tình đời thường hơn – sự thiếu hiểu biết của ông về cách điều hành bộ máy chính quyền thông thường mà ông đứng đầu, và một nhà lãnh đạo tài ba hơn có thể đã thu xếp sao cho nó ngăn không cho hoạt động cách mạng sống lại chút nào trong lãnh thổ của mình, dù cho sự lãnh đạo và phương pháp Mác-Lênin luôn là ghê gớm.[88]
Nhân chuyến thăm cấp nhà nước tới Washington (ngày 11/5/1957), một tuyên bố chung do Eisenhower và Diệm đưa ra đã tóm tắt những “thành tựu đáng lưu ý” của nước Việt Nam Cộng hoà kể từ tháng 7/1954. Tuyên bố ghi nhận việc tái định cư gần một triệu người tị nạn từ miền Bắc, việc thiết lập hiệu quả an ninh nội bộ, việc ban hành hiến pháp và việc bầu cử quốc hội. Tuyên bố ghi nhận việc khởi xướng kế hoạch cải cách ruộng đất và việc xây dựng chương trình giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội dài hạn nhằm nâng cao đời sống cho người dân Việt Nam. Tuyên bố bày tỏ hi vọng về sự thống nhất trong hoà bình của Việt Nam theo Hiến chương Liên Hợp Quốc và lưu ý rằng chỉ do sự phản đối của Liên Xô mà Việt Nam Cộng hoà không gia nhập được vào Liên Hợp Quốc, mặc dù phần lớn các quốc gia hội viên đều cho rằng Việt Nam đủ điều kiện. Tuyên bố ghi nhận sự sụt giảm rõ rệt các hành động thù địch của cộng sản ở Đông Nam Á kể từ năm 1954, ngoại trừ ở Lào, và bày tỏ lo ngại về khả năng lật đổ của cộng sản vẫn còn tồn tại ở Đông Nam Á và các nơi khác. Tuyên bố nhất trí về bản chất của mối đe dọa thường trực từ phía Cộng sản Trung Quốc đối với an ninh của tất cả các quốc gia tự do. Đoạn văn quan trọng nhất của nó có nội dung như sau:
Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cùng với tổng thống Eisenhower xem xét những nỗ lực và phương tiện của Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy ổn định chính trị và phúc lợi kinh tế tại Việt Nam Cộng hoà. Tổng thống Eisenhower đảm bảo với tổng thống Ngô Đình Diệm về sự sẵn lòng của Hoa Kì trong việc tiếp tục cung cấp trợ giúp hiệu quả trong khuôn khổ các quy trình hiến pháp của Hoa Kì để đạt được những mục tiêu này.[89]
Hai năm sau, trong bài phát biểu tại Đại học Gettysburg về “Tầm quan trọng của an ninh và tiến bộ của Việt Nam đối với Hoa Kì”, tổng thống Eisenhower đã đề cập đến “hai nhiệm vụ lớn” của Việt Nam: “tự vệ và tăng trưởng kinh tế”, nhu cầu về vốn và nhu cầu được trợ giúp cho lực lượng quân sự cần thiết mà không làm suy yếu nền kinh tế:
Do các đơn vị lớn của quân đội Cộng sản ở phía Bắc gần kề, Việt Nam Tự do phải duy trì một lượng lớn binh lính. Hơn nữa, trong khi Chính phủ đã thể hiện những tiến bộ đáng kể trong việc truy quét du kích Cộng sản, nhưng số còn lại vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng bất ổn trong đời sống quốc gia.
Nếu không được trợ giúp, Việt Nam hiện không thể tự mình lập ra và duy trì các lực lượng quân sự cần thiết cho mình vào lúc này, hay cũng quan trọng không kém là tinh thần – hi vọng, sự tự tin, lòng tự hào – cần thiết để đối phó với mối đe dọa kép về xâm lấn từ bên ngoài và phá hoại bên trong biên giới.
Một thực tế khác nữa: Về mặt chiến lược, việc Cộng sản chiếm được Nam Việt sẽ đưa quyền lực của họ tiến sâu hàng trăm dặm trong một khu vực vốn dĩ tự do. Các quốc gia còn lại ở Đông Nam Á sẽ bị đe dọa bởi một cuộc tấn công bọc sườn quy mô lớn. Tự do của 12 triệu người sẽ mất đi ngay lập tức và tự do của 150 triệu người khác ở các vùng đất lân cận sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Việc mất Nam Việt sẽ khởi động một quá trình sụp đổ mà khi diễn ra, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho chúng ta và cho tự do.
Việt Nam cần có mức độ an ninh thỏa đáng ngay bây giờ – cả cho người dân và cho tài sản của mình. Vì những lí do này, viện trợ quân sự cũng như kinh tế hiện đang rất cần cho Việt Nam.
Chúng tôi đi đến kết luận không thể tránh khỏi rằng lợi ích quốc gia của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải có sự giúp đỡ nào đó để duy trì tinh thần, sự tiến bộ kinh tế và sức mạnh quân sự cần thiết cho sự tồn tại lâu dài của Việt Nam trong tự do.[90]
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc Hoa Kì đã cung cấp sư trợ giúp như thế cho Việt Nam và nhà lãnh đạo “khó tính” của nước này trong 9 năm từ 1954 đến 1963 tốt hay tệ đến mức nào.
Như một người Anh nhận xét, ban đầu người Mĩ đã bị mối nguy cơ bị xâm lược quân sự từ phía Bắc làm ám ảnh quá mức, xem nhẹ mối đe dọa lật đổ chính quyền, và quá lạc quan về khả năng làm giảm sức hấp dẫn của cộng sản qua việc nâng cao mức sống ở miền Nam. Ông nhận thấy người Mĩ quá thận trọng đối với việc xâm phạm sự độc lập và quyền tự quyết của Việt Nam, và quá tự tin vào khả năng quản trị của Diệm do sự đáng tin cậy khó thể nghi ngờ về mặt tư tưởng của ông ta. Ông cũng nhận thấy người Mĩ ngần ngại sử dụng viện trợ tài chính vì sợ bị công chúng chỉ trích trong tương lai. Ông cho rằng, dù Hoa Kì có những phản đối đối với Hiệp định Geneva, họ vẫn tôn trọng những giới hạn mà Hiệp định đặt ra liên quan đến viện trợ quân sự. Ông nhận xét rằng cho đến năm 1961, “tròn một năm sau khi Việt Cộng công khai cầm vũ khí chống lại VNCH”, số lượng nhân sự trợ giúp quân sự của Hoa Kì tại Việt Nam không vượt quá tổng số nhân viên của Phái đoàn Quân sự Pháp và Nhóm Cố vấn Viện trợ Quân sự sau Hiệp định Geneva (888).” Ông cho rằng số lượng nhân viên của các cơ quan dân sự tham gia vào việc trợ giúp, cho đến năm 1961, “rất ít – có lẽ chỉ khoảng 300 người – so với số nhân viên tham gia sau họ trong những năm sau khi Cộng sản cầm lại vũ khí.”[91]
Cũng nhà quan sát này đã chia “9 năm hợp tác” giữa Hoa Kì và chính phủ của Diệm thành 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu, 1954-56, về cơ bản là một chiến dịch cứu trợ. Giai đoạn thứ hai, 1957-61, chứng kiến sự củng cố của chính phủ Diệm, sự xuất hiện của những điểm yếu và những thất vọng về sự phát triển kinh tế. Giai đoạn này cũng chứng kiến sự suy giảm chung về mức độ ủng hộ của công chúng Mĩ đối với chính phủ Diệm và sự ủng hộ của nhiều cá nhân người Mĩ làm việc tại Việt Nam. Ông cho rằng, sự lo lắng về sự thành công ngày càng tăng của Việt Cộng đã đảo ngược xu hướng này vào năm 1962 và 1963, dẫn đến “việc Mĩ hào phóng trở lại và quyết tâm trợ giúp một đồng minh đang gặp khó khăn trong cuộc chiến tranh lạnh, ngay cả khi điều đó được sử dụng để lật đổ cá nhân tổng thống Diệm sau này”. Ông kết luận, với sự tiếc nuối, rằng chương trình viện trợ của Mĩ đã thất bại, chủ yếu là do không chính thức hóa mối quan hệ giữa các cố vấn Mĩ và các quan chức Việt Nam trong một “hiệp ước”, mà lại để mọi việc tùy thuộc vào “thiện chí lẫn nhau” và “sự hợp lí”. Ông cũng cho rằng người Mĩ đã quá dựa vào việc tập trung sự ủng hộ “vào một nhà lãnh đạo như một điểm tập hợp cho các lợi ích nhóm gắn liền với nỗ lực quốc gia” trong khi bỏ qua “các thể chế phi cá nhân của nhà nước” và “đánh giá thấp giá trị của bộ máy công chức”. Ông cho rằng sự thiếu tự tin của các cố vấn người Mĩ, những định kiến và thiên kiến của công chúng, báo chí và các chính trị gia trong nước Mĩ, và cuối cùng là “sự thiếu phối hợp và thiếu định hướng trong việc áp dụng viện trợ và tư vấn đều góp phần dẫn đến thất bại.” Ông kết luận rằng, với việc viện trợ và cố vấn mà không có bất kì khuôn khổ thỏa thuận chính thức nào – điều có thể bị chỉ trích là thực dân – người Mĩ đã xác nhận những khiếm khuyết của chế độ Diệm thay vì sửa chữa chúng. Đồng thời, người Mĩ liên tục khuyên chính phủ nên chia sẻ quyền lực với các chính trị gia khác, hoặc thiết lập các thể chế đại diện, hoặc cho phép tự do bày tỏ nhiều hơn. Diệm coi những thúc đẩy kiểu này chính là loại áp lực mà người Mĩ đang cố để tránh.[92]
Ngược lại, một nhà quan sát người Mĩ giàu kinh nghiệm lại nhìn thấy diễn biến của giai đoạn 9 năm này như một sự tích tụ những sai lầm và thiếu sót của Diệm làm cho những nỗ lực của người Mĩ giúp ông mất tác dụng. Đó là một diễn biến về sự xa lánh của các giáo phái, giới trí thức, dân cư nông thôn, Phật tử, sinh viên và quân đội. Ông tin rằng Diệm đã không tìm cách hoà giải với các giáo phái, xích lại gần với giới trí thức, hay sửa chữa những sai phạm liên quan đến việc sở hữu đất đai hoặc việc thi hành luật an ninh quốc gia. Việc quản lí yếu kém chương trình ấp chiến lược và cư xử sai lầm với giáo hội Phật giáo và dân thường đã làm mọi việc tồi tệ hơn và dẫn đến cuộc bạo loạn quy mô lớn năm 1963. “Trong kinh hãi, người Mĩ bất lực nhìn Diệm xé nát cấu trúc xã hội Việt Nam hiệu quả hơn cả những gì mà những người Cộng sản từng làm được. Đó là hành động có hiệu quả nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông ta.”[93]
Một nhà quan sát người Mĩ khác có mặt tại chỗ năm 1963 đã viết rằng, trong thời kì 9 năm đó, hầu hết các chuyên gia ngoại giao trong và ngoài báo giới ở Hoa Kì đều phàn nàn rằng đại sứ Mĩ tại Sài Gòn vào bất kì lúc nào cũng đang làm việc sai cách. Họ đưa ra nhiều đề xuất khác nhau về cách làm việc đúng đắn. Một số người cho rằng đại sứ nên cứng rắn; phải làm cho Diệm hiểu rằng ông ta phải làm như được bảo, nếu không sẽ mất viện trợ của Mĩ. Những người khác cho rằng đại sứ nên mềm mỏng, thấu hiểu Diệm và để ông ta làm mọi thứ theo cách của mình. Những người khác nữa thì cho rằng nên loại bỏ Diệm vì vô vọng. Theo nhà quan sát này: 4 đại sứ đầu tiên cố giải quyết vấn đề với Diệm đã luân phiên dùng cách tiếp cận “cứng rắn” và “mềm mỏng”.
Tướng J. Lawton (“Lightning Joe”) Collins (1954-1955) đã cố gắng một cách vô ích để làm việc với Diệm theo cách ông đã chỉ huy Quân đoàn VII trong Thế chiến II. G. Frederick Reinhardt (1955-1957), người có điều kiện tương đối dễ dàng vì [lúc đó] phe Cộng sản đi vào trạng thái nằm yên, đã tỏ ra mềm mỏng và hàn gắn quan hệ. Elbridge Durbrow (1957-1961) lại quá cứng rắn đến nỗi Diệm gần như tẩy chay ông. Nolting (1961-1963) thì mềm mỏng và cuối cùng rơi vào tuyệt vọng. Trong quan hệ giữa Mĩ và Diệm, điều duy nhất không thay đổi chính là Diệm – cho đến đại sứ thứ năm, Henry Cabot Lodge (1963-1964) áp dụng chính sách “loại bỏ ông ta”.
Người quan sát này không chắc chính sách nào có tác động tốt với Diệm, nhưng cho rằng chính sách mềm mỏng có lẽ sẽ có cơ hội thành công cao nhất, vì kinh nghiệm cho thấy tổng thống đôi khi có thể bị thuyết phục nhưng không bao giờ sợ đe dọa. Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng, về lâu dài, dư luận Mĩ sẽ không chấp nhận đường lối mềm mỏng.[94]
Tài liệu Lầu Năm Góc cho chúng ta biết rằng vào ngày 16/9/1960, đại sứ Durbrow đã báo cáo với Bộ Quốc phòng rằng chính phủ Diệm đang bị hai mối nguy hiểm riêng biệt nhưng có liên quan với nhau đe dọa :
Nguy hiểm từ các cuộc biểu tình hoặc âm mưu đảo chính ở Sài Gòn có thể xảy ra sớm hơn; nhiều khả năng có nguồn gốc không Cộng sản vượt trội nhưng có thể dự đoán rằng Cộng sản sẽ tìm cách thâm nhập và lợi dụng bất kì mưu đồ nào như vậy. Nguy hiểm còn nghiêm trọng hơn là việc Việt Cộng mở rộng dần quyền kiểm soát vùng nông thôn, nếu tiến trình hiện tại của Cộng sản tiếp tục, sẽ đồng nghĩa với việc Việt Nam Tự do sẽ rơi vào tay Cộng sản. Hai mối nguy hiểm này có liên quan với nhau vì những thành công của Cộng sản ở vùng nông thôn khiến họ tự tin mở rộng hoạt động tới Sài Gòn và vì việc những người không Cộng sản bị lôi cuốn tham gia biểu tình hoặc đảo chính một phần xuất phát từ thành ý muốn ngăn chặn Cộng sản nắm quyền ở Việt Nam.[95]
Báo cáo của Durbrow tiếp tục với việc thừa nhận sự bất mãn của Diệm trong quá khứ và có thể cả trong tương lai đối với “các cuộc trao đổi thẳng thắn”, nhưng cũng gợi ý rằng ông có thể sẽ hành động theo một số đề xuất mới của Mĩ vì có vẻ ông đã từng hành động theo một số đề xuất trong quá khứ. Dù sao thì, cần phải có hành động nhanh chóng và quyết liệt. Durbrow đề nghị gặp Diệm và đưa ra một số đề xuất cụ thể nhằm giúp ông trong tình hình nghiêm trọng hiện tại. Các đề xuất bao gồm: chỉ định phó tổng thống làm bộ trưởng nội vụ; bổ nhiệm một bộ trưởng toàn thời gian tiếp quản Bộ Quốc phòng từ Diệm; bổ nhiệm Ngô Đình Nhu vào toà đại sứ ở nước ngoài; phái trưởng cơ quan tình báo Trần Kim Tuyến ra nước ngoài làm nhiệm vụ ngoại giao; bổ nhiệm một hoặc hai bộ trưởng trong nội các từ phe đối lập; giải tán hoặc ít nhất là cho Đảng Cần Lao lộ diện; cho phép Quốc hội có sáng kiến lập pháp rộng rãi hơn và một không gian tranh luận thật sự, đồng thời cho phép Quốc hội tiến hành điều tra công khai bất kì bộ phận nào của chính phủ; yêu cầu tất cả các quan chức chính phủ kê khai tài sản và các khoản tài chính đang nắm giữ; cho phép báo chí hoạt động theo một quy tắc ứng xử tự nguyện; và thông qua một loạt các biện pháp liên quan đến giá gạo, tiền công lao động cưỡng bức, trợ cấp cho các hộ nông dân và tăng lương cho đội thanh niên – tất cả đều nhằm mục đích tăng cường ngay lập tức sự ủng hộ của nông dân đối với chính phủ. Báo cáo cũng khuyến nghị tổng thống Eisenhower gửi cho Diệm một “thư bày tỏ sự ủng hộ tiếp tục nhân kỉ niệm 5 năm ngày thành lập nước Việt Nam Cộng hoà, ngày 26/10.”[96]
Đoạn cuối cùng của báo cáo có nội dung như sau:
Chúng tôi tin rằng vào thời điểm này, Hoa Kì nên ủng hộ Diệm với tư cách là nhà lãnh đạo Việt Nam tốt nhất hiện có, nhưng cần nhận ra rằng mục tiêu tối thượng của Hoa Kì là một chính phủ Việt Nam chống Cộng mạnh mẽ, có thể nhận được sự ủng hộ trung thành và nhiệt tình của đông đảo người dân Việt Nam, và có khả năng tiến hành cuộc chiến hiệu quả chống lại du kích Cộng sản. Nếu vị thế của Diệm trong nước tiếp tục xấu đi do không áp dụng các biện pháp chính trị, tâm lí, kinh tế và an ninh thích hợp, thì Chính phủ Hoa Kì có thể cần phải bắt đầu xem xét các phương án hành động và các nhà lãnh đạo thay thế để đạt được mục tiêu của chúng ta.[97]
Trong khi đó, sự chú ý ngày càng tập trung vào các hoạt động của Cộng sản Việt Nam tại Lào. Như Bernard Fall đã nhắc nhở chúng ta trong cuốn sách The Two Viet-Nams, cuộc xâm lấn nước ngoài đầu tiên của tướng Giáp diễn ra vào đầu mùa xuân năm 1953 khi ông ta điều khoảng 4 sư đoàn sang Lào.[98] Tướng Salan đã thiết lập một doanh trại kiên cố ở Cánh đồng Chum (Plaine des Jarres) để ngăn chặn mối đe dọa này đối với Lào và, với mùa mưa bắt đầu, Cộng sản Việt Nam rút lui về các trạm tiếp liệu chính. Souphanouvong, người sáng lập Phong trào Kháng chiến Pathet Lào (sau này là chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào), đã theo đơn vị Việt Minh tiến vào Bắc Lào trong dịp này. Ông đã đưa ra một tuyên bố phát trên đài phát thanh của Việt Minh, khẳng định mình đại diện cho “chính quyền hợp pháp của Pathet Lào” nhưng buộc phải rút theo cùng lực lượng Việt Minh khi họ rút lui. Sau đó, ông thiết lập sự chiếm đóng trên danh nghĩa hai tỉnh Sầm Nứa (Sam Neua) và Phong Xa Lì (Phongsaly) giáp biên giới Bắc Việt. Sau đó, tại Hội nghị Geneva, ông đã thành công trong việc làm cho phong trào của mình được công nhận dưới danh nghĩa “Các đơn vị chiến đấu Pathet Lào”.[99] Điều 14 của Hiệp định Geneva về Lào quy định rằng, “trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị”, các đơn vị Pathet Lào này phải chuyển đến Sầm Nứa và Phong Xa Lì, trừ những nhân sự nào muốn giải ngũ tại chỗ.[100] Tất nhiên, Điều 13 quy định rằng Lực lượng Tình nguyện Nhân dân Việt Nam phải được rút khỏi Lào.[101] Không cần phải nói, điều này không hề xảy ra. Tuy nhiên, Chính phủ Lào và Pathet Lào đã bắt đầu tiến hành đàm phán vào ngày 3/1/1955, gần Xiêng Khoảng (Xieng Khouang) trên Cánh đồng Chum, và trong thời gian đó, Pathet Lào tiếp tục phát triển các đơn vị chiến đấu của họ ở Sầm Nứa và Phong Xa Lì. Những người khác được huấn luyện ở Bắc Việt.
Trong khi đó, Việt Minh tiếp tục các hoạt động tuyên truyền và tuyển mộ ở Lào và Uỷ hội Kiểm soát quốc tế (ICC) tỏ ra bất lực trong việc ngăn chặn họ. Tháng 8/1956, thủ tướng Lào, hoàng thân Souvanna Phouma, đáp lại lời mời do Chủ tịch ICC người Ấn Độ chuyển tới, đã đến Trung Quốc và Bắc Việt, bề ngoài có vẻ là qua mặt các nhà đàm phán Pathet Lào vốn tỏ ra ít đáp ứng khi hoạt động một mình. Sau đó là các thỏa thuận năm 1957 (2/11/1957), thoạt nhìn có vẻ như thể hiện cho sự thống nhất trở lại của Lào. Những người khác, bao gồm cả Bộ Ngoại giao, coi đó là một “đường hướng hành động nguy hiểm” mà, dựa trên lịch sử ở những nơi khác trên thế giới, sẽ “kết thúc bi thảm với việc Cộng sản xâm nhập và chiếm lấy đất nước.”[102] Ngày 18/11, Souphanouvong đã trả lại tượng trưng hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Xa Lì cho thái tử Lào, và Quốc hội đã bỏ phiếu thành lập chính phủ liên minh mới của Souvanna Phouma, bao gồm các đại diện của Pathet Lào, trong đó có Souphanouvong làm bộ trưởng Tái thiết và Kế hoạch, và Phourai Vongvichit làm bộ trưởng Tôn giáo và Mĩ thuật. Ngày 4/5/1958, một cuộc bầu cử bổ sung, được quy định trong thỏa thuận năm 1957, đã được tổ chức để chọn 21 thành viên mới của Quốc hội, nâng tổng số thành viên của cơ quan này lên 59. Tất cả các đảng đều phải đề cử ứng cử viên, bao gồm cả Neo Lao Hak Sat (NLHS), tổ chức kế thừa Pathet Lào cũ. Đảng NLHS vận động tranh cử dựa trên tuyên bố rằng các ứng cử viên của họ phải được bầu để duy trì hoà bình, vốn chỉ được lập lại nhờ việc họ hạ vũ khí. Trong khi NLHS liên minh với một đảng khác, Santiphab, vốn tự nhận là trung lập, thì những người ủng hộ chính phủ lại chia rẽ theo vùng miền và phe phái cá nhân thành 3 nhóm riêng biệt. Kết quả là, NLHS đã giành được 9 trong số 21 ghế. Phản ứng trước sự phô diễn sức mạnh của phía cộng sản, các phần tử thuộc 3 phe phái dân tộc chủ nghĩa đã thành lập Liên minh Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma, người được kì vọng sẽ nắm lại chức thủ tướng sau khi từ chức theo nghi thức. Tuy nhiên, sự bùng phát các vụ ám sát chính trị, đặc biệt là ở Nam Lào, và việc phát hiện các kho vũ khí, đã dẫn đến những lời chỉ trích đối với chính sách hoà giải và dàn xếp của Souvanna Phouma đối với phe cộng sản. Chính phủ Hoa Kì, vốn đã bày tỏ sự không hài lòng với các thỏa thuận năm 1957, cũng bắt đầu thể hiện sự không hài lòng với các chính sách của Souvanna Phouma. “Qua việc do dự trong nhiều tháng đối với câu hỏi về việc tiếp tục viện trợ bằng đô la Mĩ cho Lào, Washington đã thể hiện rõ sự thiếu nhiệt tình đối với một chương trình viện trợ tốn kém cho một quốc gia đang lừng khừng với những kẻ thù tệ hại nhất của mình.”[103]
Như một chính trị gia Lào đã nói, “Những cân nhắc này chắc chắn đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn thủ tướng mới. Bị nghi ngờ là khoan dung hoặc ít nhất là mềm yếu đối với Pathet Lào, Souvanna đã bị thay thế bằng Phoui Sananikone, một người có tinh thần dân tộc và chống Cộng, dường như hoàn toàn đáng tin cậy. Vốn đã nổi bật trong RPL, ông nhanh chóng trở thành lãnh đạo của đảng này.”[104] Chính phủ của Phoui được thành lập vào ngày 18/8/1958 và theo đuổi đường lối cứng rắn đối với Pathet Lào cộng sản. Chính phủ này cũng bao gồm không chỉ các chính trị gia kì cựu mà còn một số thành phần trẻ hơn của Uỷ ban Bảo vệ Lợi ích Quốc gia (CDIN [Comité pour la Défense des Intérêts Nationaux]). Đây là một nhóm các quan chức và sĩ quan quân đội trẻ tuổi tự coi mình là tầng lớp tinh hoa của tương lai và có đường lối mạnh mẽ chống lại tham nhũng trong chính phủ cũng như chống lại sự lật đổ của cộng sản. Liên minh giữa các thành phần mới và cũ này là một liên minh không mấy dễ chịu, ít nhất là về chiến dịch chống tham nhũng. Tuy nhiên, đảng này nhận được sự ủng hộ của thái tử (vua tương lai) Savang Vatthana, đã thông qua việc phá giá tiền tệ nhằm tấn công thị trường chợ đen, và thành lập Bộ Nông thôn. Các thành viên già trẻ của đảng đều đoàn kết trong mọi sự kiện chống lại những gì họ coi là kế hoạch của cộng sản đối với Lào.
Thái độ này được phản ánh qua sự thay đổi chính sách. Chính phủ của Phoui đã từ bỏ chính sách trung lập của Souvanna Phouma và tìm kiếm quan hệ gần gũi hơn với các đồng minh phương Tây ở châu Á. Ngô Đình Nhu, em trai và cố vấn chính trị của Ngô Đình Diệm, được mời đến Vientiane trong một chuyến thăm mà Phoui nói rằng, “đã chứng minh quan điểm giống nhau và tình hữu nghị vững chắc giữa hai nước chúng ta.” Một thời gian ngắn sau, Lào đã nâng phái đoàn ngoại giao của họ tại Sài Gòn lên cấp Đại sứ và sau đó chấp nhận một Lãnh sự Trung Hoa (Quốc dân đảng) tại Vientiane. Chính phủ cũng loại bỏ một số “người ủng hộ Cộng sản và những người đồng hành lâu năm của Pathet Lào” khỏi bộ máy chính phủ.[105] Cộng sản phản ứng lại vào tháng 1/1959 khi quân đội Việt Minh (Bắc Việt) tiến vào Nam Lào và chiếm đóng 3 làng gần Tchepone. Khi Lào phản đối với Hà Nội, Bắc Việt trả lời rằng họ đã hành động để trả đũa cho những cuộc xâm nhập của Lào vào Bắc Việt bằng lực lượng không quân và mặt đất như đã cáo buộc và đề nghị đàm phán. Lào từ chối và kháng cáo với Liên Hợp Quốc, và Phoui đã yêu cầu Quốc hội trao cho ông “toàn quyền” trong một năm và cho phép cải tổ chính phủ vì lợi ích hiệu quả. Ông đã được cho toàn quyền, nhưng việc cải tổ nội các có thể không diễn ra như ông mong đợi. Sau cuộc đấu tranh giữa các thành phần già và trẻ, trong đó phe trẻ chiếm ưu thế, rốt cuộc ông có 3 sĩ quan quân đội, trong đó có đại tá Phoumi Nosavan, trong nội các. Trong khi đó, Cộng sản Việt Nam vẫn ở nguyên tại vị trí của họ tại Tchepone. Phoui báo rằng ông sẽ không sợ bị hăm dọa khi kháng cáo với Uỷ hội Quốc tế về vấn đề Tchepone vì chính phủ của ông coi “việc áp dụng Hiệp định Geneva đã hoàn tất”, và rằng Lào, “với tư cách là một quốc gia có chủ quyền, độc lập, không thể dung thứ cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình”. Tổng thư kí Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjöld đã có chuyến viếng nhanh tới Vientiane vào ngày 9/3 liên quan đến vụ Tchepone nhưng không thể đạt được bất cứ điều gì vì cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều không công nhận Liên Hợp Quốc vào thời điểm đó.[106]
Cuộc khủng hoảng tiếp theo là sự kiện Cánh đồng Chum. Vẫn còn hai tiểu đoàn quân Pathet Lào, hầu hết là dân miền núi, chưa được sáp nhập vào Quân đội Hoàng gia. Sau các cuộc đàm phán kéo dài, một trong hai các tiểu đoàn đóng quân tại tỉnh Luang Prabang đã được sáp nhập, nhưng tiểu đoàn kia đã rút vào rừng để tiếp tục tồn tại như du kích thuộc Pathet Lào. Ngay sau khi họ bỏ chạy vào tháng 5/1959, một cuộc tấn công của quân nổi dậy bắt đầu ở các tỉnh phía bắc và những nơi khác, với các cuộc tấn công đầu tiên diễn ra vào ngày 20/7. Những cuộc tấn công này diễn ra cùng thời điểm với các cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở khu vực biên giới Đông Bắc và Ladakh. Dù có hay không có sự liên hệ nào giữa các sự kiện ở Lào và những sự kiện trên biên giới Trung-Ấn, rõ ràng là các cuộc tấn công của Lào đã được tiến hành trên quy mô vượt xa khả năng của lực lượng Pathet Lào; vai trò của Bắc Việt là hiển nhiên. Chương trình phát thanh tuyên truyền chống Vientiane của Hà Nội đã xác nhận điều này, và Vientiane đã khiếu nại với Tổng thư kí Liên Hợp Quốc về “sự can thiệp gần như không che đậy” của Hà Nội.[107]
Tiếp theo, vào tháng 8, phía cộng sản tập trung các nỗ lực quân sự của mình tại tỉnh Sầm Nứa; Vientiane lại một lần nữa kêu gọi Liên Hợp Quốc can thiệp, và một cuộc tranh luận của Liên Hợp Quốc về Lào bắt đầu vào tháng 9. Liên Hợp Quốc đã cử một tiểu ban điều tra gồm các thành viên từ Nhật Bản, Tunis, Italia và Argentina. Họ đến đúng vào lúc tình hình lắng dịu và báo cáo của họ chỉ đề cập đến hành động gây hấn “gián tiếp”, hơn là trực tiếp. Trung Quốc, Liên Xô và một số nước phương Tây cho rằng không hề có cuộc xâm lược nào của Bắc Việt. Tuy nhiên, Hammarskjöld đã thực hiện một chuyến đi khác đến Vientiane và đồng ý để đại diện cá nhân của mình dành một tháng ở đó để nghiên cứu các điều kiện liên quan đến một chương trình trợ giúp kĩ thuật có thể có, nhưng đồng thời cũng tạo ra một dạng hiện diện của Liên Hợp Quốc.[108]
Đến cuối tháng 12, những khác biệt giữa các thành phần trẻ và già trong nội các của Phoui đã lên đến chỗ dẫn đến một cuộc đảo chính, dường như được nhà vua chấp thuận nhưng lại là một bất ngờ cho các tòa đại sứ nước ngoài, lật đổ Phoui và để cho Bộ Chỉ huy tối cao nắm quyền cho đến khi thành lập chính phủ tiếp theo. Người Anh bày tỏ hi vọng rằng các chính sách của chính phủ mới sẽ phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết theo Hội nghị Geneva và rằng Lào sẽ không đánh mất tính trung lập của mình. Bộ Ngoại giao “đã tuyên bố đơn giản rằng Quân đội Hoàng gia được giao nhiệm vụ duy trì trật tự và an ninh ở Lào trong khoảng thời gian từ lúc Phoui Sananikone từ chức đến khi chính phủ tiếp theo được thành lập” và bày tỏ hi vọng “rằng sẽ không có sự thay đổi nào trong chính sách của chính phủ Lào có thể ảnh hưởng đến thái độ hoà bình và trung lập mà vương quốc đã tuân thủ trong các vấn đề quốc tế.”[109]
Phía Pháp lo ngại về những rắc rối có thể ảnh hưởng xấu đến việc giảm bớt căng thẳng Đông-Tây. Các đại sứ Pháp, Mĩ và Anh, cùng với đại biện lâm thời Australia, đã đến gặp nhà vua để bày tỏ mối quan ngại của chính phủ họ, và Dag Hammarskjöld đã gửi điện tín cho nhà vua. Trong bối cảnh không có quốc hội, đã bị quân đội giải tán, nhà vua đã chỉ định một nhân sĩ dân sự cao tuổi và có uy tín, Kou Abhay, thành lập chính phủ chịu trách nhiệm trước Hoàng gia. Chính phủ này dự định tiến hành cuộc tổng tuyển cử dự kiến vào tháng 4. Souphanouvong và các lãnh đạo chủ chốt khác của Pathet Lào đã bị giam giữ từ ngay sau sự kiện Cánh đồng Chum, còn Souvanna Phouma đang ở Paris với tư cách là đại sứ.
Chính phủ đã cố gắng giảm thiểu cơ hội của Pathet Lào bằng cách thao túng việc phân chia khu vực bầu cử và siết chặt các điều kiện ứng cử, và quân đội đã tiến hành bố trí an ninh cực kì nghiêm ngặt cho việc bỏ phiếu, điều này càng hạn chế cơ hội của phe cộng sản. Trong cuộc bầu cử, cả NLHS cộng sản và Santiphab “tiến bộ” đều bị loại bỏ hoàn toàn khỏi Quốc hội mới. Đáp lại những lo ngại từ các đại sứ Anh, Pháp và Mĩ về mối nguy hiểm tiềm tàng trong một chính phủ do quân đội kiểm soát, nhà vua trấn an họ rằng Lào sẽ vẫn giữ trung lập. Một nhân sĩ dân sự khác, Tiao Somsanith, trở thành thủ tướng. Trong khi đó, hoàng thân Souvanna Phouma từ Paris trở về, và Souphanouvong cùng 15 đồng sự trốn thoát khỏi nơi giam giữ và lẩn trốn. Souvanna Phouma trở thành chủ tịch Quốc hội. Còn Souphanouvong vẫn chưa được biết chính xác ở đâu.
Ngày 9/8/1960, trong khi hầu hết các thành viên chính phủ vắng mặt tại Luang Prabang để dự lễ tang của cố Quốc vương Sisavang Vona, đại úy quân đội Kong Le, 26 tuổi, đã tiến hành một cuộc đảo chính ở Vientiane với Tiểu đoàn Dù số 2 của mình. Tuyên truyền ban đầu của ông mang tính chống Mĩ và kêu gọi hoà giải với Pathet Lào. Ông kêu gọi Souvanna Phouma tiếp nhận việc lãnh đạo phong trào của mình. Souvanna đồng ý, với điều kiện phải được Quốc hội phê chuẩn. Quốc hội, họp với một số vắng mặt và sau khi bị đám đông tràn vào, đã bầu Souvanna Phouma làm Thủ tướng. Trong khi đó, tướng Phoumi và các thành viên khác của Chính phủ Somsanith đã thành lập một ủy ban chống đảo chính tại Savannakhet. Nhà vua triệu tập Quốc hội về Luang Prabang, kinh đô hoàng gia, ở đó Quốc hội nhất trí thành lập chính phủ liên minh với Hoàng thân Souvanna Phouma làm thủ tướng và tướng Phoumi Nosavan làm phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Nội vụ. Kong Le không chấp nhận chính phủ mới và Phoumi không dám quay trở lại Vientiane do Kong Le vẫn nắm quyền kiểm soát với lực lượng lính dù của mình ở đó. Vì những lí do khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi người, nỗ lực hoà giải đã thất bại. Một phái đoàn Pathet Lào đến Vientiane, tiếp theo ngay sau đó là đại sứ Liên Xô. Washington tạm ngưng viện trợ quân sự và kinh tế. Người Nga bắt đầu chuyển nhiên liệu, thực phẩm, vật tư y tế, vũ khí và đạn dược tới bằng đường hàng không. Ngày 8/12, quân lính khu vực Vientiane đã đánh đuổi quân của Kong Le ra khỏi thành phố, rồi chính họ lại bị đánh đuổi đi vào ngày hôm sau. Ngày 10/12, quân của Phoumi từ Savannakhet tăng viện cho quân Vientiane của tướng Kouprasith và họ cùng nhau đánh đuổi lực lượng của Kong Le một lần nữa sau 3 ngày giao tranh gây thương vong nặng nề cho quân đội và dân thường. Souvanna Phouma bỏ trốn vào ngày 10/12 và đến sống lưu vong tạm thời ở Phnom Penh, Cambodia. Kong Le rút lui về phía bắc Vientiane và hoạt động vận chuyển bằng đường hàng không của Liên Xô tiếp tục tại địa điểm đó.[110]
Đây đại khái là tình hình mà chính quyền mới của Kennedy phải đối mặt liên quan đến Lào. Trong cuộc nói chuyện với tổng thống mới đắc cử vào ngày 19/1, tổng thống Eisenhower đặc biệt tập trung vào Lào, nêu rằng nếu không thể dàn xếp được một giải pháp chính trị, ông sẽ sẵn sàng can thiệp đơn phương như một hi vọng liều lĩnh cuối cùng. Dẫn kinh nghiệm của Trung Quốc và Phái bộ Marshall, ông nói rằng sẽ là thảm họa nếu để phía cộng sản đóng bất kì vai trò nào trong chế độ mới ở Lào.[111]
Vào lúc đó, chính quyền mới nhận thấy triển vọng ở Việt Nam khả quan hơn so với ở Lào. Theo người viết tiểu sử của tổng thống Kennedy, tổng thống cho rằng giữ trung lập là chính sách đúng đắn đối với Lào nhưng uy tín của Mĩ đã bị ảnh hưởng sâu sắc và trước tiên cần phải thuyết phục Pathet Lào rằng họ không thể thắng, và Liên Xô rằng họ không nên cung cấp thêm viện trợ quân sự trước khi cố gắng trung lập hóa.[112] Ông thành lập lực lượng đặc nhiệm Lào và yêu cầu báo cáo hàng ngày về tiến độ của lực lượng này. Sau khi các nỗ lực quân sự của Phoumi tiếp tục không thành công, Kennedy quyết định rằng Lào phải có một liên minh, dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma, thuộc loại mà chính quyền Eisenhower đã bác bỏ:
Ngày 19/2, vua Lào, từng dành phần lớn thời gian cố tránh xa chính trị, đã đưa ra một tuyên bố, được soạn thảo tại Bộ Ngoại giao, tuyên bố chính sách không liên kết, kêu gọi tất cả các quốc gia tôn trọng nền độc lập và tính trung lập của quốc gia mình và yêu cầu 3 nước láng giềng đóng vai trò là người bảo lãnh. Tuy nhiên, Cambodia (dù Kennedy có thư cá nhân gửi cho hoàng thân Sihanouk) và Miến Điện đều từ chối, và trong bất kì trường hợp nào, Moscow, Bắc Kinh và hoàng thân Souphanouvong đều chỉ trích kế hoạch này.[113]
Kennedy tin rằng Hoa Kì đã quá sa đà ở Đông Nam Á, nhưng ông phải giữ Vientiane không lọt vào tay cộng sản để có cơ sở cho các cuộc đàm phán, và ông không thể chấp nhận bất kì sự sỉ nhục thấy được nào liên quan đến Lào. Ông cũng cho rằng sự can thiệp đơn phương của Mĩ trên quy mô lớn là không khả thi và sẽ không được các đồng minh ủng hộ. Ông ủng hộ kế hoạch của Anh nhằm khôi phục Uỷ hội Quốc tế (ICC) và tổ chức một Hội nghị Geneva mới sau khi xác thực việc ngừng bắn.[114]
Ngày 23/3/1961, Kennedy tổ chức cuộc họp báo nổi tiếng với bản đồ Lào làm phông và nói rằng Hoa Kì, bất chấp mọi hiểu lầm trong quá khứ, giờ đây muốn một nước Lào trung lập, rằng các cuộc tấn công vũ trang của cộng sản từ bên ngoài phải chấm dứt và, trên thực tế, Hoa Kì sẽ phải xem xét phản ứng của mình nếu các cuộc tấn công không dừng lại. Ông cũng điều Hạm đội 7 tới biển Đông, báo động các đơn vị chiến đấu ở Okinawa, và điều 500 lính thủy đánh bộ cùng trực thăng đến Thái Lan. Ông nhận được sự ủng hộ của Nehru cho một cuộc ngừng bắn và sự ủng hộ của Macmillan cho việc can thiệp hạn chế dọc sông Mekong, nếu cần thiết. Ngày 27/3, Ngoại trưởng Rusk nhận được cam kết sẽ cung cấp quân của Thái Lan, Pakistan và Philippines. Tổng thống cảnh báo bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Andrei Gromyko không nên phán đoán sai quyết tâm của Mĩ. Ông cũng chuyển đổi nhóm trợ giúp quân sự không chính thức ở Lào (Văn phòng Đánh giá Chương trình) thành một Nhóm Cố vấn trợ giúp Quân sự chính thức và cho phép nhóm này tháp tùng quân đội Lào. Ngày 24/4, người Nga đồng ý với lời kêu gọi ngừng bắn. Trong khi đó, tất nhiên, sự kiện ở Vịnh Con Heo đã diễn ra ở Cuba.[115]
Hội nghị Mười Bốn Quốc gia về Lào khai mạc vào ngày 16/5 tại Geneva. Theo lời một thành viên của phái đoàn Mĩ, “Thỏa thuận cuối cùng đã đạt được vào ngày 23/7/1962, sau 14 tháng với hàng tỉ từ. Trong giai đoạn này, tình hình ở Lào, cùng với Cuba, vốn bày ra những vấn đề quốc tế rắc rối nhất của Kennedy, đã ít nhiều ổn định. Cũng trong giai đoạn này, Hà Nội và Washington ngày càng hướng sự chú ý của họ về phía Nam Việt.”[116]
Trong khi đó, Nam Việt đã theo dõi sát sao và hết sức quan tâm câu chuyện Lào. Như một thành viên của Phái đoàn Hoa Kì tại Sài Gòn sau này viết: “Washington cũng nhận thức được rằng họ đã gây tổn hại nghiêm trọng đến an ninh của Nam Việt qua việc chấp nhận ‘sự trung lập’ của Lào tại Geneva vào giữa năm 1962, ít nhiều loại bỏ mọi hi vọng về hành động hiệu quả chống lại sự xâm nhập của Việt Cộng qua ngã Lào.”[117]
Tại chính Lào, “cuộc chiến bí mật” sắp sửa bắt đầu. Việc kí kết Hiệp định Geneva về Lào được cho là có ý rằng “15 quốc gia đồng ý rút toàn bộ lực lượng quân sự, ngừng trợ giúp bán quân sự cho 3 phe phái cạnh tranh ở Lào, và công nhận Souvanna Phouma, một người trung lập, là lãnh đạo của chính phủ liên minh ba bên.” Mĩ và Liên Xô đã ngừng các chuyến bay tiếp tế và các đội huấn luyện của quân đội Mĩ cũng rời đi. “Tất cả các quốc gia đều tuân theo lời lẽ gốc đã thỏa thuận, ngoại trừ một: Bắc Việt.” Chỉ có 40 trong số khoảng 7 000 bộ đội Bắc Việt tại Lào vào thời điểm kí kết rời đi và 10 năm sau, con số này đã tăng gấp 10 lần. Trợ lí Ngoại trưởng Averell Harriman đã soạn thảo thỏa thuận dựa trên sự đồng thuận giữa tổng thống Kennedy và thủ tướng Liên Xô Khrushchev rằng họ không muốn một cuộc đối đầu ở Lào. Người ta hi vọng rằng nếu Hoa Kì và Liên Xô thật sự có thể tránh được một cuộc đối đầu ở Lào, họ có thể áp dụng cùng kĩ thuật đó ở những nơi khác trên thế giới. Sau đó, khi rõ ràng là, bất chấp thỏa thuận, Bắc Việt và thuộc hạ Pathet Lào vẫn đang mở rộng khu vực kiểm soát và tấn công các lực lượng trung lập, Hoa Kì đã chuyển sang cung cấp đồ dùng cần thiết cho chiến đấu phòng thủ. Khi rõ ràng là Nga không buộc Bắc Việt tuân thủ Thỏa thuận năm 1962, các lực lượng bộ lạc Lào được CIA trợ giúp đã nhận nhiệm vụ phòng thủ chống lại áp lực của Bắc Việt; “… và chính quyền Kennedy không chút nghi ngờ rằng điều đó phải được thực hiện.” Lợi thế của việc sử dụng CIA cho mục đích này là vấn đề Lào không phải trở thành một cuộc đối đầu lớn giữa hai siêu cường. “Sự phân biệt mà Khrushchev đã đưa ra trong vụ U-2 giữa những gì Moscow biết và những gì Washington chính thức thừa nhận đã được áp dụng trong lĩnh vực này, và Liên Xô thậm chí vẫn giữ đại sứ ở Vientiane khi ‘cuộc chiến bí mật’ leo thang.”[118]
Tại Việt Nam, Kennedy kế thừa điều được mô tả như là một cam kết “cụ thể và đáng kể đến mức uy tín của Mĩ ở châu Á và xa hơn nữa, gắn bó mật thiết với vận mệnh đang suy tàn của Ngô Đình Diệm”.[119]
Đại sứ Durbrow đã thúc đẩy Diệm khá mạnh trong việc thay đổi các chính sách và tổ chức được coi là cần thiết để đối phó với mối đe dọa cộng sản ngày càng tăng lên đối với Nam Việt. Diệm đã không đáp ứng mà cũng không hài lòng. Các nhà quan sát đã mô tả Durbrow như là “đã làm mòn đi sự niềm nở”[120] và “gần như là nhân vật không được hoan nghênh (persona non grata).”[121] Tướng Lansdale, từ một chuyến thăm gần đây trở về, đã báo cáo rằng tình hình ở vùng nông thôn rất bấp bênh, cấu trúc chính phủ của Diệm không đủ mạnh và chính phủ của ông nói chung chưa chuẩn bị về mặt tâm lí để chiến đấu với kiểu chiến tranh du kích mà họ đang phải đối mặt.[122]
Tháng 5/1961, đại sứ Frederick Nolting thay thế Durbrow tại Sài Gòn. Năm 1977, Nolting nói với BBC rằng Chính phủ Hoa Kì đã không coi toàn bộ bán đảo Đông Dương là một khu vực chiến lược duy nhất “như lẽ ra phải như vậy”, mà thay vào đó lại lập kế hoạch đối phó với các quốc gia khác nhau, trong khi phía cộng sản, đặc biệt là ở Hà Nội, lại coi khu vực này như một đơn vị. Toà Đại sứ Mĩ tại Sài Gòn cũng như Chính phủ Việt Nam ngày càng lo ngại về Hiệp định Lào năm 1962 và dự đoán nó sẽ đổ vỡ. BBC lưu ý rằng tất cả các quyết định của Mĩ được đưa ra sau Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào đều dựa trên nhận thức rằng Hiệp định này chắc chắn sẽ đổ vỡ. Ngoại trưởng Rusk bình luận với BBC rằng chính quyền Kennedy đã tập trung sự chú ý lớn vào Lào vì tổng thống Eisenhower đã khuyến nghị tổng thống Kennedy một ngày trước lễ nhậm chức rằng ông nên đưa quân vào Lào, “cùng với những nước khác nếu có thể, hoặc một mình nếu cần”. Chính quyền Kennedy đã kết luận sau khi nhận thấy rằng bản thân Lào không là một đe dọa đối với ai và giao tranh chỉ xảy ra khi quân Việt Nam can thiệp. “Vì vậy, chúng tôi cảm thấy giải pháp tốt nhất ở đó là đạt được việc tất cả mọi bên ra khỏi Lào – chúng ta, Bắc Việt, Pháp, tất cả mọi người.” Ý tưởng là tạo ra được một hòn đảo hoà bình, nếu có thể, giữa Bắc Việt một phía và Thái Lan cùng Nam Việt phía kia, để cho người Lào tự quản lí và điều hành công việc của mình. Hoa Kì đã nỗ lực rất nhiều cho Hiệp định năm 1962 nhưng không thể đạt được việc tuân thủ với họ. Về lí do tại sao Liên Xô không thể buộc Bắc Việt rút quân khỏi Lào, Rusk cho rằng Liên Xô không muốn gây áp lực quá mạnh lên Bắc Việt đến mức đẩy họ vào vòng tay của Bắc Kinh. Ông đồng ý rằng, do đường biên giới Lào-Việt dài, sự đổ vỡ của Hiệp định năm 1962 đã làm cho những khó khăn quân sự của Nam Việt tăng lên đáng kể.[123]
Nolting nói với BBC rằng các chỉ thị cho nhiệm vụ đại sứ của ông xuất phát từ khuyến nghị của một nhóm đặc nhiệm họp tại Washington để tư vấn cho tổng thống về các chính sách cần theo đuổi ở Việt Nam. Khuyến nghị của nhóm đặc nhiệm, một khi được tổng thống phê duyệt, trở thành chỉ thị cho đại sứ. Theo lời Nolting, đó là:
Tôi nghĩ cần phải nhấn mạnh lại chính sách này. Tiếp tục chính sách của Eisenhower về việc giúp Nam Việt thông qua chính phủ dân cử của họ mà không đưa lực lượng chiến đấu Mĩ vào. Thực hiện điều này theo cách từng bước đi lên, trước tình trạng bạo lực ngày càng tăng của Việt Cộng vốn đã bắt đầu từ năm 1960 hoặc thậm chí sớm hơn từ năm 1959. Thực hiện điều này thông qua nhiều phương cách khác nhau, viện trợ kinh tế, trợ giúp chính trị, thu thập thông tin tình báo, đặc biệt là cung cấp vũ khí cho lực lượng Nam Việt, và thông qua một hệ thống huấn luyện của quân đội Mĩ, bao gồm không chỉ các vấn đề hậu cần và nhập khẩu vào Nam Việt, mà còn cả việc sử dụng vũ khí, huấn luyện và các trại huấn luyện. Vì vậy, để thực hiện điều này, các chỉ thị nhấn mạnh rất nhiều vào việc xây dựng cầu nối lòng tin giữa Phái đoàn Hoa Kì và Chính phủ Nam Việt, tức là Chính phủ Diệm, lúc đó đã nắm quyền được khoảng 6 năm và vừa tái đắc cử.[124]
Nolting nói thêm rằng Diệm đã được tạm thời quyết định là “lựa chọn tốt nhất” và ông ấy xứng đáng được ủng hộ, nhưng tổng thống Kennedy đã chỉ ra rằng sự thành công của nỗ lực tăng lên này của Mĩ sẽ phụ thuộc vào Diệm, và tổng thống muốn Nolting đưa ra đánh giá thẳng thắn về nhà lãnh đạo này của Việt Nam. Nolting nói rằng trong nhiều tháng ông vẫn rất để mở nhận xét về vấn đề này vì ông nghĩ đó là một vấn đề then chốt. Cuối cùng, ông cảm thấy rằng Diệm “trung thực, tận tâm, và có cơ hội tốt nhất để tập hợp tinh thần dân tộc của người dân Nam Việt không cộng sản hơn bất kì ai trên chính trường.” Nolting đồng ý rằng Diệm có những thiếu sót như bướng bỉnh, lắm lời và thiếu khả năng quản lí, nhưng ông không phải là một nhà độc tài, không phải là một người tàn nhẫn. “Ông ấy độc đoán và gia trưởng theo nghĩa quan lại xưa vốn khá khác biệt.” Khi được hỏi liệu việc nhấn mạnh thêm vào chính sách có hạn chế quyền tự chủ mà Diệm đã thực hiện hay khả năng hành động của Chính phủ Nam Việt hay không, Nolting trả lời, “Không mà ngược lại. Điểm đó rất quan trọng. Các chỉ thị của tôi không phải là giành lấy quyền kiểm soát nào mà là cố xây dựng lòng tin lẫn nhau sao cho lời khuyên của chúng tôi được tiếp nhận nghiêm túc; nhưng trách nhiệm hành động rõ ràng vẫn nằm trong tay Chính phủ Việt Nam.”[125]
BBC bình luận rằng tổng thống Kennedy đã bắt đầu quá trình đưa Hoa Kì can dự sâu hơn ở Việt Nam khi ông hành động theo một số trong các khuyến nghị của Phái đoàn Taylor/Rostow (tháng 10/1961).[126] Nhà xuất bản của Tài liệu Lầu Năm Góc cho chúng ta biết rằng “Tổng thống John F. Kennedy đã biến ‘canh bạc rủi ro hạn chế của Chính quyền Eisenhower’ thành một ‘can dự rộng lớn’ để ngăn chặn sự thống trị của Cộng sản ở Nam Việt.”[127] “Hơn nữa, theo nghiên cứu được các nhà phân tích của Chính phủ chuẩn bị vào năm 1967-68, chiến thuật của Kennedy đã làm sâu sắc thêm sự can dự của Mĩ vào Việt Nam từng mảng một, với mỗi bước đều cố giảm thiểu sự nhận biết của công chúng rằng vai trò của Mĩ đang tăng lên.”[128] Tài liệu cho biết Kennedy đã thực hiện việc đưa quân mới đầu tiên vào Việt Nam một cách bí mật khi ông ra lệnh phái 400 binh sĩ Lực lượng Đặc biệt và 100 cố vấn quân sự khác đến Nam Việt mà không công khai. Theo Tài liệu đó, ông cũng đã chỉ đạo vào cùng ngày – 11/5/1961 – một chiến dịch bí mật chống Bắc Việt được tiến hành do các gián điệp Nam Việt, do CIA chỉ đạo và huấn luyện, cùng một số binh sĩ Lực lượng Đặc biệt Mĩ thực hiện. Tài liệu cho biết tổng thống cũng ra lệnh “đưa lực lượng Nam Việt xâm nhập vào đông nam Lào để tìm và tấn công các căn cứ và tuyến tiếp tế của Cộng sản”, và chỉ đạo lực lượng đồng minh “khởi động hành động trên bộ, bao gồm cả việc sử dụng cố vấn Mĩ, nếu cần”, chống lại các hoạt động tiếp tế trên không của cộng sản trong khu vực Tchepone, ở phía nam vùng cán chảo của Lào. Tài liệu trên mô tả các quyết định của tổng thống Kennedy “như một phần của chuỗi liên tục tích tụ dần thành cuộc chiến tranh bí mật tham vọng hơn nhiều dưới thời tổng thống Johnson năm 1964”. “Tuy nhiên, các nhà phân tích nghiên cứu về thời kì Kennedy nhấn mạnh hơn vào sự phát triển các quyết định của tổng thống Kennedy vào tháng 11/1961 mở rộng đáng kể phái đoàn cố vấn quân sự của Mĩ tại Việt Nam và, lần đầu tiên, đặt binh sĩ Mĩ vào các vai trò yểm trợ chiến đấu, điều này khiến họ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc giao tranh thật sự.” Tài liệu dẫn một bức điện tín ngày 18/11, trong đó đại sứ Nolting giải thích với Diệm rằng các binh sĩ Mĩ có thể bị phô mình trước hành động của kẻ thù trong vai trò mới của họ và trả lời câu hỏi của Diệm rằng, “… theo ý kiến cá nhân của tôi, những nhân viên này sẽ được phép tự vệ nếu bị tấn công. Tôi đã chỉ ra rằng đây là một lí do tại sao các quyết định này rất nghiêm trọng theo quan điểm của Hoa Kì.”[129]
Như vậy, trong năm đầu tiên nhậm chức, tổng thống Kennedy đã đưa ra quyết định thứ sáu, thứ bảy và thứ tám của Mĩ liên quan đến Đông Dương. Trợ lí Ngoại trưởng Bundy đã tóm tắt các quyết định này trong bài phát biểu tại College Park:
Tại Lào, vào mùa xuân năm 1961, tổng thống Kennedy đã bác bỏ ý tưởng hành động quân sự mạnh mẽ mà nghiêng về tìm kiếm một giải pháp nhằm thiết lập một chính phủ trung lập dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma, một giải pháp đặc biệt phù hợp cho riêng Lào…[130]
Mặc dù các chi tiết có phần làm mờ bức tranh tổng thể, tôi nghĩ bất kì nhà sử học công bằng nào trong tương lai cũng phải kết luận rằng ngay từ mùa xuân năm 1961, tổng thống Kennedy trên thực tế đã đưa ra quyết định chính sách thứ bảy của Hoa Kì: rằng chúng ta sẽ tiếp tục can dự sâu rộng vào Đông Nam Á, vào Nam Việt, và theo các quy tắc cơ bản mới, cả ở Lào nữa…[131]
Tiếp theo là giai đoạn thứ tám ra quyết định – mùa thu năm 1961. Vào lúc đó, “cuộc tấn công du kích” [cụm từ của Hillsman] đã đạt đến mức độ nghiêm trọng thật sự, và tinh thần ở Nam Việt đã bị lung lay. Có vẻ khá chắc chắn rằng nếu Hoa Kì không có thêm những hành động lớn thì mối đe dọa từ Bắc Việt khó có thể bị đẩy lùi.
Tổng thống Kennedy đã quyết định nâng mức can dự thông qua một hệ thống cố vấn, phi công và nhân viên trợ giúp quân sự với số lượng tăng dần lên tới mức 25 000 người trong 3 năm tiếp theo.[132]
Trợ lí Bộ trưởng Bundy nhận xét rằng quyết định thứ tám này thể hiện chính sách được theo đuổi từ đầu năm 1962 cho đến tháng 2/1965, nhưng lưu ý rằng:
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự suy thoái chính trị ở Nam Việt đã buộc Hoa Kì phải đưa ra những quyết định vào mùa thu năm 1963, mà theo tôi phải được coi là bước ngoặt quan trọng thứ chín trong quá trình hoạch định chính sách của Hoa Kì. Vào thời điểm đó, đã có quyết định rằng trong khi Hoa Kì sẽ làm mọi điều cần thiết để trợ giúp cuộc chiến, thì họ sẽ không còn tuân thủ lập trường ủng hộ hoàn toàn chế độ Diệm nữa.trừ khi chế độ đó thực hiện những thay đổi sâu rộng trong phương thức hoạt động của mình.
Diễn biến của giai đoạn này đã được Robert Shaplen mô tả và nay được Hillsman ghi lại. Chắc chắn là lập trường mới này của Mĩ đã góp phần vào việc Diệm bị lật đổ vào tháng 11/1963.
Bản thân tôi không nghĩ rằng cuối cùng chúng ta có thể làm khác đi; nhưng điểm quan trọng về lịch sử là hành động của chúng ta có xu hướng làm sâu sắc thêm sự can dự của chúng ta vào Nam Việt và việc chúng ta cam kết đối với sự phát triển của tinh thần dân tộc không cộng sản, luôn được dự đoán là khó khăn, sẽ diễn ra sau khi Diệm bị lật đổ.[133]
Tài liệu cho rằng tổng thống Kennedy phải đối mặt với 3 câu hỏi chính về Việt Nam: “liệu có nên đưa ra một cam kết không thể đảo ngược để ngăn chặn chiến thắng của Cộng sản; liệu có nên đưa các đơn vị chiến đấu trên bộ vào để đạt được các mục tiêu của ông; liệu có nên giành ưu tiên cho cuộc chiến quân sự chống Việt Cộng hay cho các cải cách chính trị cần thiết để giành được sự ủng hộ của quần chúng.” Họ nhận thấy rằng phản ứng của ông trong 34 tháng tại nhiệm là tăng số lượng cố vấn Mĩ từ khoảng 685 lên khoảng 16 000, đưa người Mĩ vào chiến đấu và “cuối cùng là đưa Hoa Kì dây vào các cuộc đấu đá nội bộ của Nam Việt vốn cuối cùng đã lật đổ chế độ Diệm.”[134]
BBC mô tả quyết định “nâng mức can dự” của Kennedy như một thỏa hiệp dẫn đến việc phái các cố vấn quân sự và các đơn vị yểm trợ thay vì một lực lượng đặc nhiệm quân sự, như đề xuất của phái đoàn Taylor/Rostow từng đã đến thăm Việt Nam vào mùa thu năm 1961. Đại sứ Nolting nói với BBC rằng phản ứng của ông đối với thỏa hiệp này nhìn chung là tích cực. Nếu Hoa Kì tiếp tục trên cơ sở đó, “đảm nhận việc giúp đỡ vật chất nhưng không có lực lượng quân sự của Mĩ”, ông cho rằng sẽ có cơ hội cho “sự cải thiện dần dần và một quốc gia Nam Việt có thể đứng vững được” mặc dù ông “không mong đợi một tình hình hoàn toàn hài lòng ở Nam Việt trong nhiều năm”. Colby nói với BBC rằng giải pháp do phái đoàn Taylor/Rostow đề xuất – làm chính phủ mạnh lên và thay đổi về chính trị – là sai lầm vì “Việc làm mạnh lên hóa ra lại là làm mạnh lên về quân sự”, và “Việc kêu gọi thay đổi hóa ra lại là để cho phe đối lập có vai trò trong chính phủ”. Tuy nhiên, vấn đề không phải là vấn đề quân sự. Đó là vấn đề du kích ở cấp làng xã và không có bất cơ chế nào của Mĩ để giải quyết vấn đề như vậy.[135]
Như thể rắc rối với cuộc nổi dậy của cộng sản ở các khu vực nông thôn chưa đủ, Chính phủ Việt Nam lại tắc trách dây vào cuộc xung đột với Phật tử ở Huế vào ngày 8/5/1963 với việc cấm treo cờ Phật giáo nhân lễ Phật đản thứ 2527 [đúng ra là 2507 – ND]. Một cuộc biểu tình phản kháng đã dẫn đến giao tranh giữa Phật tử và quân đội, khiến 9 Phật tử thiệt mạng và 15 bị thương. Việc chính phủ không nhanh chóng hành động để giải quyết những bất bình phát sinh từ vụ việc này đã dẫn đến các cuộc biểu tình tiếp theo ở Huế, Sài Gòn và các thành phố lớn khác, cuối cùng bao gồm cả 7 vụ tự tử bằng cách tự thiêu. Theo lời một quan chức Mĩ:
Từ góc nhìn phương Tây, cuộc nổi dậy Phật giáo là một mớ hỗn độn những mâu thuẫn. Phật giáo là một tôn giáo buông bỏ, thiền định hướng nội, thờ ơ thụ động đối với việc đời. Trừ việc kháng cự sự xâm lấn của phương Tây do các hoàng đế Phật giáo ở Huế khởi xướng, Phật giáo chưa bao giờ là một thế lực chính trong các vấn đề chính trị của Việt Nam. Phần lớn các nhà lãnh đạo của Phật giáo là những người đã dành cả đời mình trong các ngôi chùa. Tuy nhiên, chiến dịch chống lại chế độ Diệm của họ đã được thực hiện với kĩ năng tinh xảo đến mức gợi ra rằng họ đã được đào tạo trên đại lộ Madison [đại lộ Madison là nơi tập trung công nghiệp truyền thông, quảng cáo và quan hệ công chúng – ND].[136]
Quan chức đó cũng nhận xét rằng cuộc nổi dậy của Phật giáo có lẽ:
…không thể thành công nếu không có sự giúp đỡ của báo chí và đài phát thanh/truyền hình Mĩ. Nói thẳng ra hơn, việc đưa tin của truyền thông Mĩ về cuộc biến động đã góp phần trực tiếp vào việc phá hoại một chính sách quốc gia của Mĩ có tầm quan trọng trực tiếp đối với an ninh của Hoa Kì, tại một khu vực mà chúng ta đã triển khai gần 20 000 người Mĩ, nơi chúng ta đã chi khoảng $ 500 triệu mỗi năm, tại điểm duy nhất trên thế giới mà chúng ta tham gia giúp đỡ một cuộc chiến bắn nhau chống lại kẻ thù Cộng sản.
Ông giải thích rằng:
Tuy nhiên, đây không phải là một kết quả có được do ác ý. Có những nhà báo riêng lẻ ở Việt Nam, và các nhà biên tập, nhà bình luận ở tại Mĩ, ghét Diệm và thích viết về những khó khăn của ông. Nhưng việc đưa tin về cuộc khủng hoảng Phật giáo, phần lớn đều khách quan. Có rất ít sự giật gân. Chẳng có gì là cần thiết.[137]
Cái gọi là vấn đề báo chí ở Việt Nam, dẫn đến “sự đổ vỡ về thông tin giữa Phái đoàn Hoa Kì, với các nhà báo Mĩ và do đó là công chúng Mĩ,”[138] chưa kể đến thái độ của Chính phủ Việt Nam “càng làm vấn đề trầm trọng thêm,”[139] đã góp phần kéo dài cuộc nổi dậy của Phật giáo. Nhiều Phật tử đã kể câu chuyện của họ cho các nhà báo đưa tin, và câu chuyện đó được truyền tải qua Đài Tiếng nói Hoa Kì (VOA), BBC và Đài Phát thanh Australia đến người dân thành thị Việt Nam vốn có rất nhiều máy thu thanh.[140]
Ngày 27/6, “như một bước đầu tiên hướng tới giải quyết tranh chấp này… giữa người Nam Việt Nam và người Mĩ, và giữa những người Mĩ với nhau, về những ưu điểm và nhược điểm của Diệm và chế độ của ông ta,” tổng thống Kennedy thông báo rằng cựu ứng cử viên phó tổng thống của Đảng Cộng hoà, Henry Cabot Lodge, sẽ thay thế đại sứ Nolting tại Sài Gòn. Trong khi đó, tại Washington, “khi các cuộc biểu tình của Phật giáo leo thang và dư luận chống chế độ Diệm lên đến đỉnh điểm của sự phẫn nộ, quan điểm của Bộ Ngoại giao về tình hình đã chiếm ưu thế… rằng không thể thắng cuộc chiến nếu chính quyền Sài Gòn không được cải tổ để trở nên dân chủ và được lòng dân hơn, để tập hợp được người dân tham gia cuộc chiến chống lại Cộng sản.” CIA dường như tin rằng có thể tìm ra giải pháp với Diệm “để giải quyết những lo ngại của Phật tử và của chúng ta, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến chống lại Cộng sản.” Quân đội dường như “cũng theo cùng đường lối đó, ít nhất trong chừng mực họ cảm thấy vấn đề chính là giành chiến thắng trong chiến tranh và chúng ta không phải bị phân tâm khỏi việc tiếp tục gây áp lực lên nó.” Tuy nhiên, “Mặc dù mỗi cơ quan đều giữ lập trường chính thức được các lãnh đạo bày tỏ như đã mô tả, nhưng không cơ quan nào thật sự nhất trí với nhau về các vấn đề này.”[141]
Trước khi Nolting rời Sài Gòn vào ngày 15/8, ông đã tìm cách thuyết phục được Diệm đưa ra một tuyên bố công khai trong một cuộc phỏng vấn báo chí rằng việc hoà giải với Phật tử, mà ông ta khẳng định là chính sách của mình từ trước đến nay, là “không thể đảo ngược”. Tuyên bố này trong một cuộc phỏng vấn với Marguerite Higgins đã được Cơ quan Thông tin Hoa Kì [USIS] phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, vào ngày 21/8, trong lúc đại sứ Lodge đang ở Hawaii trên đường đến Việt Nam, chính phủ đã tiến hành các cuộc đột kích phối hợp vào các chùa ở Huế và Sài Gòn, thực tế là tuyên chiến với Phật tử và làm cho người Mĩ rất “mất mặt”.[142]
Đại sứ Lodge đến Sài Gòn vào tối ngày 22/8. Các cuộc biểu tình phản đối hành động của chính phủ diễn ra dưới hình thức tuần hành và bạo loạn. Hai nhà sư Phật giáo đã được cho tị nạn tại Phái đoàn Viện trợ trong cuộc tấn công vào các chùa chiền. Hai nhà sư khác, trong đó có một trong những lãnh đạo cấp cao, Thích Trí Quang, đã vào Toà Đại sứ và được cho tị nạn tại đó. Vào ngày 26/8, ngày mà ông Lodge dự kiến trình thư ủy nhiệm cho Diệm, VOA đưa tin rằng các quan chức cấp cao của Hoa Kì nói rằng Mĩ có thể sẽ cắt giảm mạnh viện trợ nếu Diệm không sa thải các quan chức cảnh sát chịu trách nhiệm về cuộc đột kích và rằng Lodge đã được chỉ thị nói với Diệm rằng các cuộc đột kích đã vi phạm các đảm bảo của Diệm rằng ông sẽ tìm kiếm một giải pháp hoà bình với Phật tử.[143]
Tài liệu Lầu Năm Góc khẳng định “Nghiên cứu bí mật của Lầu Năm Góc về chiến tranh Việt Nam tiết lộ rằng tổng thống Kennedy đã biết và chấp thuận các kế hoạch cho cuộc đảo chính quân sự lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963.”[144] Arthur M. Schlesinger đã viết trong cuốn A Thousand Days, “Điều quan trọng là phải nói rõ rằng cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 hoàn toàn do người Việt Nam vạch kế hoạch và thực hiện. Cả Toà Đại sứ Mĩ lẫn CIA đều không tham gia vào việc xúi giục hay thực hiện.”[145] Báo cáo tạm thời của Uỷ ban Chọn lọc Thượng viện về “Các âm mưu ám sát bị cáo buộc liên quan đến các nhà lãnh đạo nước ngoài” sao chép lại bức điện tín sau đây từ tổng thống Kennedy gửi ại sứ Lodge (Deptel 272, 29/8/1963):
Tôi đã chấp thuận tất cả các tin nhắn mà ông nhận được từ những người khác hôm nay, và tôi nhấn mạnh rằng mọi điều trong những tin nhắn này đều nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của tôi. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp ông hoàn thành thành công chiến dịch này. Cho đến tận thời điểm các tướng lĩnh ra hiệu lệnh bắt đầu chiến dịch, tôi vẫn phải giữ quyền thay đổi tiến trình và đảo ngược các chỉ thị trước đó. Mặc dù hoàn toàn hiểu được đánh giá của ông về hậu quả của một việc đảo ngược như vậy, nhưng theo kinh nghiệm, tôi biết rằng thất bại sẽ phá hoại nhiều hơn là việc trông có vẻ thiếu quyết đoán. Tất nhiên, tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm cho bất kì sự thay đổi nào như vậy, cũng như tôi phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho chiến dịch này và hậu quả của nó.[146]
Vào lúc 1:30 chiều giờ Sài Gòn, một nhóm tướng lĩnh Việt Nam đã tiến hành đảo chính lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm. Vào khoảng ngày 2/11, sau khi đầu hàng lực lượng đảo chính, tổng thống Ngô Đình Diệm và em trai kiêm cố vấn chính trị của ông, Ngô Đình Nhu, đã bị giết chết. Uỷ ban Chọn lọc Thượng viện kết luận:
Chúng tôi nhận thấy rằng cả Tổng thống lẫn các quan chức trong Chính phủ Hoa Kì đều không cho phép giết chết Diệm và Nhu – em trai ông ta. Tuy nhiên, cả giám đốc Tình báo Trung ương (DCI [Director of Central Intelligence]) lẫn các quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao đều biết rằng cái chết của Nhu, ít nhất là vào một thời điểm nào đó, đã được các lãnh đạo cuộc đảo chính nhắm tới. Nhưng khi khả năng các lãnh đạo cuộc đảo chính đang cân nhắc việc mưu sát được DCI chú ý tới, ông ta đã chỉ thị rằng Hoa Kì sẽ không tham gia vào hoạt động như vậy, và có một số bằng chứng cho thấy thông tin này đã được chuyển đến các lãnh đạo cuộc đảo chính.[147]
Như Tài liệu Lầu Năm Góc nêu, “Với việc ủng hộ cuộc đảo chính lật Diệm, nhà phân tích khẳng định, Hoa Kì đã vô tình làm sự can dự của mình sâu thêm. Sự thiếu thận trọng là yếu tố then chốt.”[148] Hai mươi ngày sau khi Diệm bị giết, tổng thống Kennedy bị ám sát ở Dallas vào ngày 23/11/1963. Như BBC đã đưa tin:
Người Mĩ vừa mong muốn vừa gợi ý cho cuộc đảo chính lật đổ Diệm… Do đó, việc lật đổ Diệm đã thay đổi cả về bản chất và mức độ sự can dự của Mĩ vào Việt Nam… Theo nghĩa này, vào lúc Lyndon Johnson nhậm chức, Việt Nam đã trở thành một cuộc chiến của Mĩ.[149]
[1] Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change. (New York: Signet Books, 1965), 452.
[2] Ibid, 539-40.
[3] Ibid, 543-44.
[4] Ibid, 559-60.
[5] Ibid, 575-76
[6] Ibid, 573 note.
[7] Ibid, 576.
[8] U.S. Senate, Committee on Foreign Relations. Background Information Relating to Southeast Asian and Vietnam, 3d Revised Edition “(Washington, D.C .: U.S. Government Printing Office, 1967, 79-662-0), 50-83.
[9] Michael Charlton and Anthony Moncrieff, Many Reasons Why (New York: Hill and Wang, 1978), 41.
[10] Ibid.
[11] Ibid, 42.
[12] U.S. Department of State, “The Path to Viet-Nam.” Released September 1967, 4-5.
[13] John Robinson Beal, John Foster Dulles: A Biography. (New York: Harper & Brothers, 1957), 239.
[14] Ibid, 240.
[15] Ibid.
[16] Ibid, 243.
[17] Ibid, 241-43.
[18] Chester L. Cooper, The Lost Crusade, America in Vietnam. (New York: Dodd, Mead and Company, 1970), 129, 130.
[19] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 42.
[20] Ibid, 43.
[21] Dennis J. Duncanson, Government and Revolution in Viet-Nam. (New York: Oxford University Press, 1968), 202.
[22] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 43-6.
[23] Ibid, 49.
[24] Ibid, 50.
[25] Ibid, 52-3.
[26] Ibid, 50.
[27] Ibid, 53.
[28] Ibid, 54-5.
[29] Ibid, 37-8.
[30] Ibid, 57.
[31] Cooper, The Lost Crusade,129.
[32] Ibid, 128.
[33] Ibid, 129.
[34] Ibid, 131-33.
[35] Ibid, 134.
[36] U.S. Senate Committee, Background, 89.
[37] Cooper, The Lost Crusade, 136.
[38] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the Vietnam War (New York: Stein and Day, 1978), 34.
[39] Edward Geary Lansdale, In the Midst of Wars, An American’s Mission to Southeast Asia (New York: Harper and Row, 1972), 176.
[40] U.S. Senate Committee, Background, 80.
[41] Cooper, The Lost Crusade, 137.
[42] Ibid, 137
[43] New York Times, The Pentagon Papers (New York: Bantam Books, 1971), 62-4.
[44] Cooper, The Lost Crusade, 137-38.
[45] Ibid, 138.
[46] Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952 (Paris: Editions du Seuil, 1952), 68, 89, 91.
[47] Cooper, The Lost Crusade, 139.
[48] Robert McClintock, The Meaning of Limited War (Boston: Houghton, Mifflin, 1967), 160.
[49] Lansdale, In the Midst of Wars, 245-47.
[50] Ibid, 244.
[51] Ibid, 244-45.
[52] Cooper, The Lost Crusade, 140-43; Lansdale, In the Midst of Wars, Chapters 14-6.
[53] Cooper, The Lost Crusade, 146.
[54] Ibid, 148.
[55] Ibid, 149.
[56] Ibid.
[57] Ibid, 149-50.
[58] U.S. Department of State, “Path to Viet-Nam,” 5.
[59] Ibid, 5.
[60] Guenter Lewy, America in Vietnam, (New York: Oxford University Press,1978),7.
[61] Ibid, 7-8.
[62] Ibid, 9.
[63] Bernard B. Fall, The Two Viet-Nams, A Political and Military Analysis, Revised Edition (New York: Frederick A. Praeger, 1964), 156-7.
[64] Anita Lauve, On the Question of communist Reprisals in Vietnam (Reproduced by Rand Corporation, Santa Monica, California, August 1970), 3.
[65] Fall, Two Viet-Nams, 155.
[66] Lauve, Communist Reprisals, 4 (quoting Hoang Van Chi).
[67] Lauve, Communist Reprisals, 4 (quoting DRV Government Decree No. 473 TTG, March 1, 1955).
[68] Lauve, Communist Reprisals, 4.
[69] Fall, Two Viet-Nams, 155-56.
[70] Gérard Tongas, J’ai vécu dans l’enfer Communiste au Nord Viet-Nam. (Paris: Nouvelles Editions Debresse, 1960), 122.
[71] Lauve, Communist Reprisals, 8-9.
[72] Ibid, 9-10.
[73] Tongas, l’Enfer Communiste, 448.
[74] Lauve, Communist Reprisals, 11-2.
[75] Ibid, 15.
[76] U.S. Department of State, “Path to Viet-Nam,” 5.
[77] Ibid, 5-6.
[78] Lewy, America in Vietnam, 15-6.
[79] Ibid, 16-17.
[80] Cooper, The Lost Crusade, 158; Lewy, America in Vietnam, 17 et seq.
[81] Lewy, America in Vietnam, 17.
[82] Ibid, 18
[83] William Colby, Honorable Men, My Life in the CIA. (New York: Simon and Schuster, 1978), 145-46.
[84] Cooper, The Lost Crusade, 161.
[85] Ibid, 153. U.S. Department of State. Program for the Visit to the United States of America of His Excellency Ngo Dinh Diem, President of the Republic of Viet-Nam, May 1957.
[86] Cooper, The Lost Crusade, 154.
[87] Duncanson, Government and Revolution in Viet-Nam, 229.
[88] Ibid, 21.
[89] U.S. Senate committee, Background, 95-6.
[90] Ibid, 97.
[91] Duncanson, Government and Revolution, 273-76.
[92] Ibid, 277-82.
[93] Douglas Pike, Viet Cong. (Cambridge, Mass .: Massachusetts Institute of Technology Press, 1966), 72-3.
[94] John Mecklin, Mission in Torment, An Intimate Account of the U.S. Role in Vietnam.(Garden City, New York: Doubleday and Company Inc., 1965), 38-9.
[95] New York Times, Pentagon Papers, 115.
[96] Ibid, 117-18.
[97] Ibid, 118.
[98] Fall, Two Viet-Nams, 121.
[99] Sisouk Na Champassak, Storm Over Laos, A Contemporary History (New York: Frederick A, Praeger, 1961), 31.
[100] U.S. Senate committee, Background, 75.
[101] Ibid, 75.
[102] Sisouk, Storm Over Laos, 59-60.
[103] Ibid, 65.
[104] Ibid.
[105] Ibid, 67.
[106] Ibid, 74.
[107] Ibid, 92.
[108] Ibid, 127.
[109] Ibid, 136
[110] Ibid, 157-71.
[111] Arthur W, Schlesinger, Jr., A Thousand Days, John F. Kennedy in the White House (New York: Fawcett Premier Books, 1965), 156.
[112] Ibid, 308.
[113] Ibid, 309.
[114] Ibid, 310.
[115] Ibid, 311-13.
[116] Cooper, The Lost Crusade, 163-4.
[117] Mecklin, Mission in Torment, 105.
[118] Colby, Honorable Men, 192-95.
[119] Cooper, The Lost Crusade, 167.
[120] Ibid, 169.
[121] David Halberstam, The Making of a Quagmire. (New York: Random House, 1965), 161.
[122] Cooper, The Lost Crusade, 169.
[123] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 64-6.
[124] Ibid, 70.
[125] Ibid, 70-1.
[126] Ibid, 71.
[127] New York Times, Pentagon Papers, 79.
[128] Ibid, 79.
[129] Ibid, 79-83.
[130] U.S. Department of State, “Path to Viet-Nam,” 6.
[131] Ibid.
[132] Ibid, 7.
[133] Ibid, 7-8.
[134] New York Times, Pentagon Papers, 83-84.
[135] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 76-7.
[136] Mecklin, Mission in Torment, 157.
[137] Ibid, 162
[138] Ibid, 99.
[139] Ibid, 107.
[140] Ibid, 164
[141] Colby, Honorable Men, 205-7.
[142] Mecklin, Mission in Torment, 180-81.
[143] Ibid, 183, 184, 189, 192-93
[144] New York Times, Pentagon Papers, 158.
[145] Schlesinger, A Thousand Days, 909..
[146] U.S. Senate Select Committee to Study Governmental Operations with Respect to Intelligence Activities, Alleged Assassination Plots Involving Foreign Leaders, Report No. 94-465 (Washington, D.C .: U.S. Government Printing Office, 1975, 61-985 0).
[147] Ibid, 261-62.
[148] New York Times, Pentagon Papers, 158-59.
[149] Charlton and Moncrieff, Many Reasons Why, 101.