Một chút công bằng đối với trời đất

Thích Ngộ Chánh

Có một câu nói của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn mà tôi mãi nhớ: “Tôi ăn chay không phải vì ông Thích Ca ra đời, tôi ăn chay vì một chút công bằng đối với trời đất.”

Nghe qua, đó là một câu nói đậm chất Nguyễn Đức Sơn: có chút ngang tàng, chút bất cần, tưởng như đùa cợt với mọi hệ thống lý luận, nhưng càng ngẫm càng thấy phía sau là một thái độ vô cùng nghiêm túc đối với sự sống. Nguyễn Đức Sơn ăn chay nhiều năm. Nhưng điều đáng nói không nằm ở chuyện một thi sĩ ăn chay hay ăn mặn, mà ở cách ông lý giải sự lựa chọn ấy. Ông không viện dẫn giới luật, không nói đến công đức, cũng không đặt mình vào vị trí của một người tu hành. Ông chỉ nói đến “một chút công bằng đối với trời đất.”

Hai chữ “công bằng” ở đây nghe vừa lạ vừa đau. Con người thường nói đến công bằng giữa người với người, công bằng xã hội, quyền lợi, hay giữa kẻ mạnh và người yếu. Nhưng ít khi chúng ta nghĩ đến một thứ công bằng giữa con người với những sinh vật đang cùng mình có mặt trên trái đất này. Một con bò không biết viết thơ. Một con heo không biết nói về quyền sống. Một con gà không thể đứng trước tòa để biện hộ cho mạng sống của nó. Nhưng chúng biết đau. Chúng biết sợ. Và khi đứng trước cái chết, chúng cũng tìm cách chạy trốn.

Nguyễn Đức Sơn nhìn thấy điều đó. Trong thơ ông có bốn câu:

Một chiều nắng đẹp rải bao la
Tôi thấy trâu bò phải thiết tha
Máu xối gọn gàng lò mổ sạch
Êm ấm hồn nhiên khắp mọi nhà.

Bốn câu thơ thoạt đọc gần như bình thản. Không một tiếng kêu gọi, không một lời kết án, chẳng lên giọng đạo đức. Nhưng chính sự bình thản ấy lại làm người đọc lạnh người. Một bên là “nắng đẹp rải bao la”, một bên là “máu xối”. Một bên là “lò mổ sạch”, một bên là “êm ấm hồn nhiên khắp mọi nhà”. Cái dữ dội của bài thơ nằm ngay trong sự đặt cạnh nhau ấy. Lò mổ có thể rất sạch. Miếng thịt khi đến bàn ăn có thể được cắt ngay ngắn, đóng gói đẹp đẽ, xóa sạch dấu vết của một sinh vật từng thở, từng chạy, từng nhìn thế giới bằng đôi mắt của nó. Và ở một nơi khác, những căn nhà vẫn sáng đèn, bữa cơm vẫn ấm cúng, con người vẫn “hồn nhiên”. Chỉ có máu đã được lau sạch.

Có lẽ Nguyễn Đức Sơn không muốn thuyết phục ai ăn chay. Thơ ông cũng không phải một bài giảng về giới sát. Ông chỉ đặt trước mắt người đọc hai hình ảnh tưởng chừng chẳng liên quan: lò mổ và mái nhà, rồi để chúng ta tự hỏi sự êm ấm của mình đôi khi được xây dựng trên điều gì. Đó cũng là lý do tôi thấy câu nói “một chút công bằng đối với trời đất” trở nên đáng suy ngẫm hơn rất nhiều khi đặt cạnh bốn câu thơ này.

Ăn chay, với Nguyễn Đức Sơn, dường như không phải là một thứ căn cước tôn giáo. Nó là một cách ứng xử. Tôi có thể ăn, nhưng tôi chọn không ăn. Tôi có thể xem cái chết của một con vật là chuyện hiển nhiên, nhưng tôi chọn không hoàn toàn bình thản trước nó. Tôi có quyền lực hơn một sinh vật khác, nhưng không có nghĩa mọi quyền lực trong tay đều phải được sử dụng. Có lẽ cái ông gọi là “công bằng” bắt đầu từ một suy nghĩ đơn giản như thế.

Đời sống của Nguyễn Đức Sơn vốn đầy những nghịch lý. Một con người nổi tiếng với thơ ca dữ dội, với những phát ngôn ngang tàng, với cách sống như muốn bước ra ngoài mọi quy ước, lại dành phần lớn đời mình giữa cây cỏ, núi đồi và những sinh vật quanh mình. Người ta thường nhớ Sơn Núi với sự cô độc, với những bài thơ kỳ dị, với những năm tháng trên đồi thông. Nhưng phía sau con người tưởng như rất dữ dội ấy lại có một vùng rất mềm: sự nhạy cảm trước sự sống.

Có lẽ bởi vậy mà câu nói về ăn chay không hề lạc lõng trong thế giới của ông. Nó nằm cùng một mạch với cách ông sống giữa thiên nhiên, với những năm tháng gắn đời mình vào cây cối, với cái nhìn nhiều khi đau đớn trước sự tàn phá của con người đối với những gì yếu thế hơn mình.

Trong truyền thống Phật giáo cũng lưu truyền bốn câu thơ giới sát:

Xưa nay trong một bát canh
Oán sâu như bể hận thành non cao
Muốn hay nguồn gốc binh đao
Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh.

Thật lạ khi đặt bốn câu thơ cổ ấy cạnh bốn câu của Nguyễn Đức Sơn. Một bên là “lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh”, một bên là “máu xối gọn gàng lò mổ sạch”. Cách nói khác nhau, thời đại khác nhau, nhưng đều buộc con người nhìn về một nơi mà bình thường chúng ta không muốn nhìn: Lò mổ, nơi một sinh mạng biến thành thực phẩm. Và có lẽ điều đáng sợ nhất không phải chỉ là cái chết đang diễn ra ở đó, mà là khả năng con người có thể hoàn toàn dửng dưng, không còn cảm thấy gì trước cái chết ấy.

Đạo Phật gọi sự rung động trước đau khổ của chúng sinh là lòng từ bi. Nhưng lòng từ không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao. Đôi khi nó chỉ khởi phát từ khả năng nhận ra rằng nỗi đau của một sinh vật khác cũng là nỗi đau. Ăn chay vì thế chưa chắc làm một người trở nên cao quý hơn. Một người có thể ăn chay mà vẫn sân hận, ích kỷ và làm tổn thương người khác. Cũng không nên lấy chuyện ăn chay làm thước đo đạo đức để phán xét những ai có lựa chọn khác mình. Nhưng nếu một người đặt xuống một miếng thịt chỉ vì trong một khoảnh khắc nào đó, họ nghĩ đến sinh mạng đã ngã xuống để thành miếng thịt ấy, thì ít nhất trong khoảnh khắc đó, lòng trắc ẩn đã hiện diện.

Có lẽ điều Nguyễn Đức Sơn muốn giữ lại chính là khoảnh khắc ấy. Không phải để thành Phật. Không phải để trở thành một con người đạo đức hơn thiên hạ. Chỉ để giữa một thế giới mà con người đã quen xem muôn loài như tài nguyên phục vụ cho mình, vẫn còn lại một chút ngần ngại trước khi tước đoạt một sự sống.

Tôi vẫn nghĩ câu nói của ông đẹp nhất ở hai chữ “một chút”. Nguyễn Đức Sơn không nói mình trả lại công bằng cho trời đất – một con người làm sao đủ sức làm điều đó. Ông chỉ xin giữ một chút. Một chút thương xót. Một chút nhường nhịn. Một chút ý thức rằng ngoài sự sống của mình còn có vô số sự sống khác. Và một chút tỉnh thức rằng con người tuy mạnh hơn nhiều loài, nhưng không vì thế mà có quyền coi mọi sinh mạng khác sinh ra chỉ để phục vụ mình.

Giữa cái bao la của trời đất, “một chút” ấy tưởng chừng nhỏ bé. Nhưng có khi, chính cái “một chút” ấy lại là phần người đáng quý nhất còn lại trong mỗi chúng ta.

Tôi ăn chay không phải vì ông Thích Ca ra đời, tôi ăn chay vì một chút công bằng đối với trời đất.”

Nguyễn Đức Sơn đã nói như vậy. Và có lẽ, không cần phải nói thêm nhiều nữa.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.