(Xem phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh)
Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử – Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh Việt Nam suốt một thế kỷ qua!
Người viết mấy dòng này từng có dịp tham quan, khảo sát một số Studio film (Phim trường) ở Trung Quốc, Hàn Quốc để rồi sau đó ngậm ngùi và tắt ngóm bao ước mộng làm phim Lịch sử – Dã sử đã/ đang ấp ủ hàng chục năm ròng, từng ngao ngán thất vọng trước khu đất toen hoẻn chỉ toàn các khu nhà chức năng không dính dáng gì với điện ảnh nhưng lại xưng xưng được gọi là “Phim trường Đông Anh” trên giấy, từng cùng nhiều anh em đồng nghiệp phải chảy máu mắt chứng kiến những “ông chủ” mới của TFS (Hãng phim truyện Việt Nam) ném ra sân các phục trang đạo cụ quý hiếm (mà đối với người làm phim dính dáng tới quá khứ thì còn quý hơn vàng) để giải phóng kho bãi cho các mục tiêu kinh doanh xa lạ với điện ảnh…
Lan man chút vậy để liên hệ tới tâm trạng háo hức mong đợi của đông đảo khán giả, và sự ngỡ ngàng khâm phục của không ít người làm phim từng mơ ước làm phim cổ trang trước cái quy mô nghệ thuật hoành tráng chứa đựng bao hồ hôi nước mắt tiền bạc của phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh, giữa cái thời nước ta chưa có Phim trường và khán giả vừa mới thoát khỏi cái nạn sợ xem phim “cúng cụ” và đại hạn phim hài nhảm hoặc câu khách bằng Tình – Tiền – Tù – Tội…
Bộ phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh được quay tại vùng đất cố đô, nơi mà chục năm trước bộ phim “bom tấn loại ba” Hollywood (tức loại phim thương mại thuần túy) Kong: Đảo Đầu Lâu (Kong: Skull Island) đã xây dựng bối cảnh phụ ở Tràng An Bái Đính mà từ đó tạo nên cơn sốt du lịch ở Ninh Bình; và giờ đây, Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh có thể là “Người tiên phong” trong sự nghiệp phát triển Công nghiệp văn hóa mà Nhà nước kêu gọi từ mấy năm trước – trong đó, Điện ảnh kích cầu du lịch văn hóa một cách hữu hiệu, phi thường – như điện ảnh Hàn Quốc mấy năm qua đã làm!
Khác với một số phim “bom tấn” được quảng bá rầm rộ song ra rạp lại bị lặng im như “đá ném ao bèo”, Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh ngay từ lúc tung trailer và ra rạp buổi đầu đã tạo nên một làn sóng rầm rộ Khen – Chê, Khen nhiều và Chê cũng dữ, đến độ có người phải “giận dỗi” thay cho người làm phim rằng: Biết đâu có thế lực nào đó đứng sau chủ đạo đánh phim này, thậm chí gán cho kẻ đó có dính dáng gì đó với kẻ thù truyền kiếp phương Bắc của nước ta!!! Sau cái tình tiết hài ngoài phim khiến dân làm phim nghiêm túc cũng phải ôm bụng cười này, T cận muốn tâm sự với những người “giận dỗi” nói trên: Không dễ mà làm được phim tạo ra làm sóng phản ứng như thế đâu, bởi những người Chê thậm tệ nọ chắc cũng là khán giả đã xem phim sau ngày bao mong đợi, và sự thất vọng của họ cũng là một tín hiệu quý, một đòi hỏi chính đáng của một thế hệ “Khán giả Vàng” đối với người làm phim đó!
Cô sinh viên vừa tốt nghiệp nhà tôi cùng các bạn nó, vốn là “fan” phim nội địa, thắc mắc: Bố ạ, phim làm rất công phu, kỳ công, tốn kém kinh khủng, ít phim Việt nào làm được như thế, nhưng bọn con và nhiều đứa cũng thuộc loại mê phim và biết xem phim tại sao lại thấy phim nặng nề, khó hiểu, ít hấp dẫn, thiếu sự lôi cuốn, các tình tiết phim và nhân vật phim cứ rời rạc, chúng mang nặng tính minh họa? Nhiều ý kiến cho rằng: Nguyên nhân chủ yếu là phim yếu kém về kịch bản. Thực ra là thế nào hở bố, “lều phê bình phim”?
Trong khi chờ đợi tiếng nói thẩm định có uy tín của những nhà phê bình phim chuyên nghiệp, T cận tôi đành “múa rìu qua mắt thợ”, “đánh trống qua cửa nhà Sấm” để góp phần giải tỏa thắc mắc nọ cũng của một thế hệ “Khán giả Vàng” – và cũng để tự rút ra bài học nghề nghiệp cần thiết cho bản thân…
Ngẫm kỹ, thấy rằng những phàn nàn về bộ phim quả là đều xoay quanh về kịch bản, có gốc gác từ kịch bản. Và theo tôi, ở đây, nhà biên kịch đã bỏ qua các quy luật sinh tử của nguyên lý Kịch học trong khi xây dựng kịch bản văn học – cơ sở của kịch bản phân cảnh để quay phim – những nguyên lý Kịch học hình thành từ mấy ngàn năm trước, từ nhà triết học cổ đại Hy lạp Aristôte được hệ thống trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca bàn về Bi kịch Hy Lạp và được tiếp nhận, kế thừa, phát triển qua Phục hưng, Cổ điển, Khai sáng cho đến tận hôm nay trong các nghệ thuật liên quan đến trình diễn của diễn viên – đặc biệt là sân khấu và điện ảnh. Tinh hoa của nguyên lý kịch học trong thi pháp kịch cổ đại đó chính là tính chất tập trung ở mức độ đậm đặc của các hành động kịch trong việc thể hiện & miêu tả tính cách ở một cốt truyện kịch cụ thể – mà cốt truyện lại là một yếu tố quan trọng hàng đầu của các trúc tác phẩm kịch (khác biệt so với sử thi kéo dài lê thê), và Aristôte nhiều lần khẳng định: Cốt truyện là cơ sở, là linh hồn của kịch. Cốt truyện liên quan đến tính trọn vẹn, thống nhất nội tại và hợp lý của hành động kịch, và liên quan đến dung lượng của hành động kịch. Cấu trúc ba hồi của cốt truyện xoắn bện (phức tạp) gồm hai phần thắt nút và mở nút của thi pháp kịch Aristôte đã là nền tảng cho các nhà lý luận biên kịch điện ảnh hiện đại phát triển thành cấu trúc năm hồi của kịch bản điện ảnh…
Trở lại phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh, với dung lượng phim dựng 4 giờ rút lại thành bản 155 phút rồi 135 phút, ta nhận thấy tác giả kịch bản khi đưa ra các sự kiện của xung đột và các nhân vật đã vi phạm tính thống nhất nội tại của hành động kịch:
1. Tuyến hành động về 99 mộ giả vua Đinh. Đề tài bí ẩn lăng mộ là đề tài lâu nay điện ảnh Phương Tây và Mỹ làm khá nhiều, và đều thu hút khán giả rất mạnh. Việc các nhà làm phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh khai thác đề tài này trong xu thế kinh doanh phim ảnh cạnh tranh là OK! Có điều, khán giả của Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh có cảm giác, bộ phim này hình như chỉ “mượn” đề tài này cho mục tiêu nghệ thuật khác, vì vậy đã không khai thác nó đến nơi đến chốn, nửa vời, và vì vậy cái mục tiêu nghệ thuật kia cũng trở thành “chơi vơi”! Ý nghĩa thật sự và sâu xa của 99 mộ giả đã được giải thích rất qua quýt bằng vài lời thoại, có vẻ bí hiểm song thực ra là nhằm che đậy sự hời hợt về mục đích cũng như việc chuẩn bị cho các sự kiện cùng tâm lý hành động tiếp sau. Thế rồi, việc di chuyển các mộ giả đến các nơi được miêu tả qua các sequence phim tựa các cuộc “trốn tìm” trẻ con, như tạo cớ cho “vật cản hành động” là thế lực xấu truy đuổi, săn tìm do “Thiên triều” chỉ đạo, và chỉ nhằm tạo cớ cho các cuộc tỷ thí võ thuật “mãn nhãn” mà thôi! Khán giả – nhất là lớp khán giả Gen Z nhiều tò mò, nhiều kiến thức phim ảnh thế giới – buộc phải tự hỏi và hỏi nhau: Bí ẩn mộ vua Đinh mà các nhà làm phim hứa hẹn là gì? Phải chăng Bí ẩn đó đang phải chạy trốn thảm hại trước lưỡi gươm truy đuổi? Máu đã đổ nhiều sau các cuộc giao tranh khốc liệt cần phải được trả giá bằng cái Bí mật linh thiêng nọ sẽ được bảo vệ hơn mọi kho báu, nhưng Bí mật thiêng liêng đó là những gì, vì sao lại được bảo vệ một cách sơ sài bất cẩn đầy tùy hứng chỉ trông mong vào sự may rủi và vài tay kiếm đơn độc như thế của quan quân triều thần nhà Đinh? Hóa ra, cái Bí ẩn đó lại chuyển sang đối tượng đang truy đuổi các mộ giả: Chúng là ai, đằng sau chúng là thế lực nào, tại sao chúng làm vậy? (Kẻ nội gián nguy hiểm tới gần cuối phim mới xuất hiện, mà lẽ ra ngay từ đầu phim cần có chi tiết gài báo trước – đó là một trong những sơ xuất nặng góp phần tạo ra sự rời rạc, lỏng lẻo, nhợt nhạt của cấu trúc truyện phim khiến khán giả mệt mỏi, chán nản!). Trường đoạn phim Lễ cúng giỗ 49 ngày thiêng liêng diễn ra giữa máu đổ và tiếng gươm đao có màu sắc của một màn bi kịch cổ xưa bỗng trở thành mảnh vá sang trọng của cả phim, khi đã không có một cốt truyện vững chãi làm nền tảng! Có thể thấy rõ các tác giả đã tham bác quá nhiều sự kiện, ý tưởng, cái đẹp của nhân vật và tạo hình mà thiếu bản lĩnh tạo tác điều khiển chúng nên đã làm ra một sản phẩm điện ảnh cực kỳ hoành tráng song đánh đố sự thụ cảm của đông đảo khán giả!
Rõ ràng là tác giả kịch bản và các nhà làm phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh đã vi phạm nặng nề quy luật “thống nhất hành động” của kịch học, lẽ ra phải chuẩn bị chu đáo cho hành động xung đột cơ bản này được hợp lý, dày dặn, làm cột sống cho cả bộ phim – bằng hình tượng điện ảnh có sức thuyết phục, thì các nhà làm phim đã cố tình (hoặc vô tình) lướt qua, coi đó chỉ là cái nền cho những câu thoại nặng chất minh họa kiểu “Lòng tự hào dân tộc” (lời nhân vật mo Cun), cũng như làm nền cho sự phát triển một mối tình cũng chứa nhiều sương khói bí ẩn rất ít giá trị…
2. Tuyến hành động về mối tình An Nhiên – Nguyên Phong. Phim, kịch nào cũng cần có Tình yêu – chính nhà văn Chekhov cũng từng khuyên vậy với những độc giả – khán giả yêu thích kịch của ông! Những cảnh phim miêu tả tình yêu trong Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh quả là khá hấp dẫn, và tạo nên sự cuốn hút nhất định cho phim này khi khán giả thất vọng với Bí mật lăng mộ vua Đinh như đã hứa hẹn! Nhưng mối tình trong Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh đã được tạo ra khi các nhà làm phim bất chấp quy luật kịch học cơ bản: Tính cách và số phận của đôi lứa yêu nhau này không được hình thành qua hành động kịch tính chủ yếu của phim đã đề xuất: Bí ẩn mộ vua Đinh, và họ chỉ trở thành nhân tố để cứu vãn tình thế bằng các màn đấu kiếm nguy hiểm “trần trụi giữa bầy sói” mà thôi! Mặc dù có cảnh chú bé Nguyên Phong gào khóc bên xác mẹ trong sự chứng kiến cảm thông của cô bé An Nhiên, song cảnh đó chỉ là sự minh họa cho thân phận của mà các trường đoạn sau đó sẽ vội vã đến vụng về tìm cách làm sáng tỏ thêm. Giữa phim, ông mo Cun (Tự Long đóng) đã tuyên bố với An Nhiên về số phận khác lạ, bí ẩn của Nguyên Phong. Song, các tác giả tạo ra màn sương bí ẩn đó của thân phận Nguyên Phong để làm gì? Chúng có tác dụng gì, có ý nghĩa gì đối với các tuyến truyện đang rời rạc và lổn nhổn cố gắng đạt tới chủ đề phim vốn đã nhạt nhòa và khiên cưỡng cho đến lúc đó và tới kết phim? Nhân vật Nguyên Phong được xây dựng tựa như một kiếm khách cô độc của phim võ hiệp Tàu, hành xử nghĩa hiệp theo lối “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha”, luôn xuất hiện sau khi An Nhiên đã gạt anh ta ra ngoài cuộc để cứu cô thoát khỏi mấy lần vây bắt lúc đơn độc – đó là cái cớ để hai người thêm gắn bó và giúp anh tự “minh oan” trước sự hoài nghi có cơ sở của viên võ tướng đầu triều (J. Trí Nguyễn đóng). Điều đó cũng rất là “xi nê”, có điều, vì không gắn với một tổng thể cần có sự thống nhất hành động cơ bản của toàn phim, nên chúng đã bị bật ra khá vô duyên, trở thành chiêu trò câu khách khá “rẻ tiền”! Diễn xuất rất tinh tế nhiều thú vị quen thuộc của diễn viên Tuấn Trần (và các diễn viên “ngôi sao” khác) đã không cứu nổi tuyến truyện này cũng như cả bộ phim rơi vào sự minh họa – sự minh họa phá vỡ cảm xúc thiêng liêng – bí ẩn của Lịch sử mà phim cần hướng tới!
3. Như vậy, cái chưa được nhất của phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh dẫn tới sự kêu ca phàn nàn của đông đảo khán giả, chính là sự vụng về, kém cỏi về cấu trúc truyện phim mà nhiều nhà làm phim Việt – trong đó có tôi – cần rút kinh nghiệm: các tác giả đã không tuân theo lời cảnh báo tâm huyết của không ít nhà điện ảnh giàu kinh nghiệm của những nền điện ảnh thế giới về việc hãy giữ chân khán giả trong rạp bằng những quy luật kịch học kinh điển cùng các thủ pháp nghệ thuật điện ảnh đã được đúc kết, để tránh cái cảnh mà một nhà lý luận biên kịch điện ảnh Mỹ dí dỏm: Sau 15 phút chiếu phim, đột nhiên lượng tiêu thụ nước toàn thành phố bỗng dưng cao vọt…
Nhưng nói gì thì nói, Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh có thể coi là một cột mốc đáng kể của dòng phim Cổ trang – Lịch sử – Dã sử Việt, là sự khích lệ to lớn đối với những người làm phim yêu thích đề tài quá khứ bi thương oai hùng của dân tộc!