Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (1)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Tuổi trẻ chúng con yêu nghệ thuật

Vì đã mang ơn một tiếng đàn…

Kính tặng Mẹ

 

 

Tôi không phải là đạo diễn điện ảnh.

Tôi là một nhà thơ sử dụng máy quay

như một phương tiện để đi đến những ước mơ…

Jean Cocteau, đạo diễn điện ảnh Pháp

 

 

 

 

 CẢNH PHIM MỞ  ĐẦU

Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy – Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…

Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma[1]

Bộ phim nhựa (thông dụng cỡ 35mm, hay phim 3×4) trước tiên phải quay bằng phim Négatif, gọi tắt là phim Nê – Âm bản, sau đó đem in tráng thành phim Positif, phim Pô – Dương bản, rồi đem dựng (montage) và xử lý các khâu kỹ thuật phức tạp về âm thanh & hình ảnh để thành bộ phim hoàn chỉnh, sau đó mới chiếu lên màn ảnh lớn qua máy chiếu phim. Trong thực tế, có khá nhiều hộp phim Négatif của không ít nhà làm phim độc lập các nước Âu – Mỹ đã không/ chưa được in tráng sang phim Positif để xây dựng thành bộ phim, bởi không có kinh phí làm hậu kỳ (Đặc biệt ở Pháp, Nhà nước khuyến khích mọi ý tưởng sáng tạo điện ảnh, nhưng chỉ tài trợ cho giai đoạn tiền kỳ quay phim Nê mà thôi). Còn ở nền điện ảnh nước ta, chẳng những không thể có nổi những thước/ hộp phim Négatif được lộ sáng như thế, mà ngay ý tưởng để quay ra chúng cũng sẽ bị bóp chết ngay từ trứng nước – một khi dám liều trệch hướng phương pháp sáng tác Hiện thực XHCN, phương pháp góp phần (hay chủ đạo) tôn vinh Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng mà trong đó, mỗi con người của Tổ chức thiêng liêng hay ăn theo Tổ chức đó buộc phải “lấp lánh như một vì sao” theo hình mẫu của một “Nghệ sĩ cung đình” thì mới có thể được coi là có Giá trị chính thống…

Nhiều Ý tưởng & Đề cương chi tiết loại đó của người viết cuốn sách này – dù bị bóp chết hay may mắn “chạy trốn” và “ẩn dật” được, – lâu nay chỉ được “xi-nê mồm” theo cách nói vui của dân làm phim, hiện giờ sẽ tạm trở thành Âm bản, biết đâu tới lúc nào đó sẽ biến thành Dương bản – chắc chúng cũng tương đồng với những gì được nói đến trong bộ phim 100 Years lấy cảm hứng từ quá trình ủ 100 năm của chai rượu Louis XIII Cognac của giới làm phim Hollywood thực hiện vào năm 2015, kể về hình ảnh Trái đất một trăm năm trong tương lai nhưng để dành đến 100 năm sau mới ra mắt khán giả…

Còn Dương bản là những gì người viết đã thể hiện được ra giấy hoặc trên màn ảnh mà tác giả của chúng may mắn không bị mắc vào tội “yêu thư yêu ngôn” như các cụ trung thực nhà ta xưa kia từng mắc phải, thậm chí còn được trao các giải thưởng này nọ… Có điều, cái phần “Dương bản” đó cũng chỉ là bề nổi của một tảng băng, là niềm mơ ước vô vọng về cái phần chìm kia còn là “Âm bản” không biết đến bao giờ, vì vậy vô tình nó cũng chỉ là một thứ “Âm bản” nhợt nhạt nhiều khi vô vị… Như tất cả những người viết & người làm phim có lương tâm, trong quá trình nỗ lực biến Âm bản thành Dương bản cho những ý đồ sáng tạo tâm huyết của bản thân, tác giả lắm khi phải “cầm đèn chạy trước ô tô” tự kiểm duyệt cho lành, vì thế Âm bản và Dương bản có lúc trở thành mớ bát nháo tầm thường đáng bị ném vào sọt rác văn hóa… Cuốn sách này có thể chỉ là một cố gắng tuyệt vọng trong việc đi tìm Âm bản đích thực rồi sau đó tìm cách tái hiện thành Dương bản, trong mối quan hệ Âm Dương – Nhân Quả, và phục hồi những Dương bản đã bị lỗi không do tác giả, với một nỗi buồn cùng nỗ lực chống lại bao sự thù ghét, đố kỵ, nghi ngờ, chèn ép từng đổ lên đầu tác giả và một vài nhà điện ảnh cùng chí hướng – song chống lại chỉ bằng sự thật và lòng thương cảm cho chính những người gây ra những điều đó; có lẽ bởi người viết lâu nay gắng nương theo bóng Thiền và Từ bi của đạo Phật như lẽ sống chính của dân tộc đau thương này; và cũng đã nhiều lần “thoát hiểm” bởi may mắn có được Tâm Phật không phải như một thứ phương tiện để nuôi giữ niềm tin lẫn ảo tưởng. Sau nữa, bởi tác giả tâm đắc với lời nhắn nhủ của nhà văn Milan Kundera trong tập tiểu luận Les testaments trahis[2] (Những di chúc bị phản bội): “Trong thế giới của tính tương đối tiểu thuyết, không có chỗ cho hận thù: nhà tiểu thuyết nếu viết một cuốn tiểu thuyết với mục đích thanh toán hận thù – dù là hận thù riêng tư hay hận thù ý thức hệ – thì chắc chắn hoàn toàn sẽ rơi vào hố chết chìm về mỹ học!”.

“Âm bản” ở đây không chỉ là phim Nê đã quay hoặc những kịch bản điện ảnh – scenario film (hay truyện phim-romans cinématiques) chưa thể làm phim, mà còn là những ý tưởng rời rạc, những ghi chép vụn vặt dành cho các Dự án phim ảnh mà tác giả mới chỉ tâm sự bằng nhật ký, thư từ, status dành cho cô con gái sinh viên đang bước vào nghề chông gai của tác giả – cái nghề ở một xứ sở mà liều lĩnh bước vào sẽ có thể bị mang tiếng (và mang tội) là “sinh nhầm địa lý”… Và cốt lõi của Âm bản & Dương bản đích thực là gì, làm thế nào để tìm ra chúng, con gái tác giả và những người bạn yêu nghệ thuật của nó chắc có thể tìm thấy trong những trang sách này (và tập nhật ký-tùy bút Bà Hoàng Nhóc đang hoàn thiện) đôi ba chỉ dẫn có ích.

Trong thời đại Kỹ thuật số và bắt đầu tràn ngập công nghệ AL, câu chuyện về Âm bản liên quan đến Sự thật của đời sống & lịch sử chắc còn có ý nghĩa đặc biệt và lâu dài, bởi nhiều Sự thật đã bị bóp méo xuyên tạc nhằm phục vụ những mưu đồ chính trị không lương thiện của lợi ích nhóm, lợi ích giai cấp, góp phần làm đảo lộn Giá trị xã hội và đầu độc Dân trí… Các kỹ xảo tinh vi hiện đại đã là phương tiện hữu hiệu để biến Âm bản & Dương bản trở thành các tấm bình phong cho Đạo đức và Lý tưởng của riêng tầng lớp thống trị nhằm phục vụ lợi ích nhóm – như thực tế ở nhiều nước…

Tác giả thấy cần kể lại câu chuyện về một bức ảnh kỳ lạ liên quan tới Âm bản mà tác giả đã phải làm cả một bộ phim tài liệu khoa học (documentaire scientifique) để bênh vực người chụp: Đó là bức ảnh nổi tiếng Bát đế vân du đang được treo tại chính điện của Đền Đô – Bắc Ninh. Nhà nhiếp ảnh Hòang Tuấn Đại, nguyên là một phi công, vào đúng ngày lễ hội rằm tháng 3 năm Đinh Sửu tại Đền Đô đã vô tình “hình tượng hoá” được khí thế rồng bay của triều đại nhà Lý tám triều vua – ứng với tám áng mây trắng toả trên nóc điện. Tác phẩm hé lộ sự huyền bí kỳ diệu của đời sống tâm linh. Nhưng không ít người có trách nhiệm cho rằng bức ảnh Bát đế vân du là giả, đó chẳng qua chỉ là ảnh ghép, ảnh sửa bằng kỹ xảo điện ảnh, fotoshop. Tác giả còn bị quy kết là tuyên truyền mê tín bậy bạ, uy tín nghề nghiệp và cả “sinh mệnh chính trị” bị đe dọa! Trước tình cảnh ấy, một đoàn làm phim đã được thành lập, và đã tới Đền Đô vào dịp lễ kỷ niệm 999 năm ngày đức Lý Thái Tổ đăng quang, có tác giả bức ảnh đi cùng. Chúng tôi đã quan sát ở đúng góc mà nghệ sĩ từng chụp. Ông Đại nói rõ về yếu tố kỹ thuật khi chụp, như khẩu độ (11), tốc độ (125/s), tiêu cự ống kính (80mm), loại máy (Nikon) loại ống kính (télé room 35-125), loại phim (người làm phim đã “mục sở thị” năm tấm phim négatif color AGFA 35mm 100 ISO, được bấm máy liên tiếp cùng vị trí, mà tấm thể hiện đầy đủ tám vầng mây ở nóc điện chính là bức Bát đế vân du này). Ông Đại chụp tấm hình vào lúc khoảng 12h trưa ngày trung tuần tháng 3 ÂL – tức là vào ngày 21 tháng 4 năm 1997. Vị trí mặt trời trong ngày này tạo ánh sáng trên đỉnh ngọn cây và chóp kiệu trước sân phản ánh đúng thời gian chụp. Đó chính là ánh sáng chiếu gần như vuông góc tạo nên phần sáng trên ngọn cây và bóng đổ ở chóp kiệu. Đoàn phim đã làm hình ảnh 3D mô tả về các vị trí tương quan của các vật thể chụp, ánh sáng mặt trời, góc chụp… để giúp khán giả hiểu rõ hơn về ánh sáng phân bổ trên tấm ảnh là hoàn toàn chính xác với ngoại cảnh lúc đó. Ông Đại chỉ tay vào cái chóp kiệu màu đỏ sát nóc đền ở trên ảnh: “Kiệu Thánh Mẫu (tức thân mẫu của Đức Lý Thái Tổ) chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, đi từ chùa Dạm tới Đền Đô, và có ở đây vào lúc chính ngọ ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang!”. Vì cũng đi theo kiệu đức Thánh Mẫu về Đền Đô để quay tư liệu, nên người làm phim đã xác nhận được đúng thời điểm chụp bức ảnh!

Sau đó, trong các bài giảng cho sinh viên đạo diễn, tác giả không ít lần đem ảnh chụp mấy tấm phim négatif Bát Đế vân du cùng một số đoạn phim quay âm bản[3] hiếm hoi còn sót lại của chính mình làm giáo cụ trực quan, mong giúp các bạn trẻ đồng nghiệp chuẩn bị đi vào thế giới “Âm bản” của lịch sử dân tộc và đời sống hiện tại bằng ống kính máy quay thời Kỹ thuật số sẽ có thêm một “La bàn” đáng tin cậy, đồng thời có thêm niềm tin tưởng: khi có được Âm bản tử tế nương theo triết lý vĩnh hằng: Sự thật là một thứ nhân đức (Aristotle) thì rồi trước sau cũng sẽ có Dương bản tử tế…

Tác giả cần bày tỏ lòng biết ơn đối với các lớp lãnh đạo của mấy Hãng phim nói riêng và lãnh đạo ngành Điện ảnh nói chung đã vô tình tạo điều kiện cho tác giả – trong khi bị đày xuống Dưới đáy [4] làng nghề đã có cơ hội lắng sâu vào những số phận tựa Cọng rơm dưới đáy ao[5] ở nhiều vùng quê đất nước – đặc biệt là ở những làng bản mù sương miền Tây Bắc, Đông Bắc…

Những Âm bản chân thực được tả lại một cách thật thà khiến cuốn sách này mang đậm tính chất của một “tiểu thuyết Tư liệu”, “tiểu thuyết Tự truyện”; song chất Tư liệu, chất Tiểu sử ở đây chỉ làm nền cho những cuộc hành trình nhọc nhằn mong tìm ra cái lý do cầm bút cầm máy quay của tác giả nhằm tới cái đích khiêm nhường là: Tri ân phần nào các thế hệ Điện ảnh Việt Nam – trong đó có những nghệ sĩ tài năng số phận bi thảm bởi không gặp thời, song trên miền Mây Trắng vẫn đang đau đáu hy vọng các thế hệ Điện ảnh tiếp nối thực hiện giấc mơ của mình, để nền Điện ảnh nước nhà mau chóng có tên trên Bản đồ Điện ảnh Thế giới – cũng có nghĩa hầu hết những gì là Âm bản đích thực sẽ trở thành Dương bản trong ánh sáng dành cho máy quay phim và ánh sáng của chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu…

Cuốn sách có 05 phần:

Một. LÂU ĐÀI ĐIỆN ẢNH TRONG HỐ THẲM

Hai. HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN I

Ba. HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN II

Bốn. HÀNH TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP CHO CON GÁI

Năm. ÂM BẢN: THEO BƯỚC HÀNH HƯƠNG TÌM PHẬT

[1] Tên một cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường.

[2] https://fr.scribd.com/document/561431762/Milan-Kundera-les-testaments-trahis

[3] Phim âm bản thông dụng (đen trắng hoặc màu) dành cho máy chụp ảnh và máy quay phim điện ảnh đều cùng cỡ 35mm, những người làm phim thường lấy phim quay négatif còn thừa sau mỗi đợt quay tự lắp vào mobil phim để chụp.

[4] Dưới đáy (На дне, 1902) – tên một vở kịch của M. Gorki

[5] Tên một cuốn tiểu thuyết của nhà thơ Võ Văn Trực.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.