Bước ngoặt vai trò của Bộ Ngoại giao ở Việt Nam (kỳ 4)

Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran

Người dịch: Phan Văn Song

PHẦN IV

Hoa Kì kết thúc can dự (1968-1975)

 

Khi viết về cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống năm 1968, Richard M. Nixon nhận thấy rằng chiến tranh Việt Nam là vấn đề nổi bật nhất trong cuộc bầu cử sơ bộ ở New Hampshire và vẫn giữ nguyên như vậy trong suốt chiến dịch tranh cử. Về phần mình, ông nói rằng ông muốn chiến tranh kết thúc, nhưng theo cách “sẽ cứu Nam Việt khỏi thất bại quân sự và sự lệ thuộc vào chế độ Cộng sản Bắc Việt.” Ông nghĩ rằng vẫn còn một số cách thức chưa được thử nghiệm để xem xét và tìm cách chấm dứt chiến tranh. Ông cũng cho rằng Hoa Kì có thể sử dụng sức mạnh quân sự của mình hiệu quả hơn nữa để thuyết phục Bắc Việt rằng một chiến thắng quân sự đối với phía họ là chuyện bất khả. Ông cho rằng chúng ta chưa khai thác hết các nguồn lực ngoại giao đáng kể của mình và rằng “trọng tâm của vấn đề nằm ở Bắc Kinh và Moscow hơn là ở Hà Nội.” Chúng ta có thể huấn luyện và trang bị cho người Nam Việt để nâng cao khả năng tự vệ của họ. Ông không có kế hoạch cụ thể nào để đưa ra và ngay cả khi có ông cũng sẽ không đưa ra cho công chúng biết.[1]

Ngày 26/7/1968, tổng thống Johnson đã cung cấp báo cáo tình báo tập trung vào Việt Nam riêng biệt cho ông và thống đốc Wallace, ứng cử viên còn lại . Ngoại trưởng Rusk, có mặt tại cuộc họp, nhấn mạnh “sự hoảng loạn” sẽ xảy ra ở phần còn lại của châu Á nếu Hoa Kì rút khỏi Việt Nam “mà không có một dàn xếp  hoà bình danh dự.” Johnson nói rằng ông đang chờ phản ứng của Liên Xô và Bắc Việt đối với đề xuất ngừng ném bom mới, mặc dù “các lần ngừng ném bom trước đó không mang lại kết quả gì.” Nixon đảm bảo với tổng thống Johnson rằng mặc dù ông sẽ không làm suy yếu lập trường đàm phán “nếu như” phe cộng sản chấp nhận các điều kiện của Johnson cho một lần ngừng ném bom mới, ông vẫn sẽ chỉ trích một số chiến thuật của chính quyền Johnson.[2]

Ngày 31/10, Johnson gọi điện cho Nixon ở New York báo rằng ông sẽ tuyên bố ngừng hoàn toàn việc ném bom trong vòng hai giờ nữa. Johnson nói thêm rằng ông đã không thể thuyết phục được phía Nam Việt đồng ý và do đó, họ sẽ không tham gia vào tuyên bố này. Nixon, Wallace và Humphrey đều hứa sẽ ủng hộ tổng thống trong bước đi này. Tuy nhiên, Nixon có phần thất vọng vì ông cảm thấy Johnson đang làm điều gì đó có thể “quyết định kết quả cuộc bầu cử.” Ông nhớ lại lời miêu tả khinh miệt trước đó của Johnson về những người thúc đẩy việc ngừng ném bom và việc ông khăng khăng rằng ông sẽ không để cho những người cộng sản tự do chuyển đạn dược vào miền Nam “để giết hại những chàng trai Mĩ.” Nixon không thật sự ngạc nhiên trước tuyên bố này, vì ông đã biết về nó trước đó ít lâu. Ông chỉ nghĩ rằng thời điểm đưa ra tuyên bố “quá gần với cuộc bầu cử là hết sức nhẫn tâm nếu tính toán về mặt chính trị và hoàn toàn ngây thơ nếu chân thành.” Ông đã được Kissinger cảnh báo thông qua John Mitchell rằng “một điều gì đó lớn lao sắp xảy ra liên quan đến Việt Nam.”[3] Ngày 16/10, trong một cuộc họp qua điện thoại với các ứng cử viên tổng thống, Johnson đã nói rằng ông “vẫn cho rằng có 3 điểm phải được đáp ứng: (1) Đàm phán nhanh chóng và nghiêm túc phải được tiến hành sau bất kì lần ngừng ném bom nào; (2) Hà Nội không được vi phạm khu phi quân sự, và (3) Việt Cộng hoặc Bắc Việt sẽ không tiến hành các cuộc tấn công quy mô lớn bằng tên lửa hoặc pháo binh vào các thành phố lớn của Nam Việt.” Nixon sẵn sàng ủng hộ bất kì thỏa thuận nào mà Johnson có thể đưa ra trong những điều kiện này. Tại Rochester vào ngày 17/10, ông nói, “Nếu có thể đạt được thỏa thuận ngừng ném bom ở Việt Nam… một thỏa thuận sẽ không gây nguy hiểm đến tính mạng người Mĩ, và một thỏa thuận sẽ làm tăng cơ hội mang lại một giải pháp  hoà bình và danh dự cho cuộc chiến, thì chúng tôi ủng hộ điều đó.” Ông nói thêm rằng ông không muốn chơi trò chính trị với  hoà bình. Trong hồi kí của mình, ông viết “Nhưng những gì đang xảy ra là không thể tránh khỏi.”[4] Nixon nghe được từ “một người trong vòng thân cận nhất của Johnson” rằng Johnson đang nỗ lực hết sức để đạt được một thỏa thuận với Bắc Việt và sẽ chấp nhận hầu hết mọi cách dàn xếp như một cái cớ để ra lệnh ngừng ném bom nhằm giúp ứng cử viên Hubert Humphrey. Nixon “ngay lập tức quyết định rằng cách duy nhất để ngăn Johnson phá hoại hoàn toàn việc ứng cử của tôi vào phút chót là tôi phải công khai sự thật rằng việc ngừng ném bom sắp xảy ra. Ngoài ra, tôi muốn tạo ấn tượng – điều mà tôi tin là đúng – rằng động cơ và thời điểm của ông ấy không chỉ do ngoại giao quyết định.”[5]

Theo đó, vào ngày 26/10, Nixon đã đưa ra một tuyên bố về các cuộc đàm phán  hoà bình:

Trong vòng 36 giờ qua, tôi được thông báo về hàng loạt cuộc họp đang diễn ra tại Nhà Trắng và các nơi khác về Việt Nam. Tôi được biết các quan chức cấp cao trong chính quyền đang nỗ lực hết sức để đạt được thỏa thuận ngừng ném bom có thể kèm theo ngừng bắn, trong tương lai trước mắt. Và tôi đã được biết những thông tin này là đúng sự thật.

Tôi… được cho biết rằng đợt hoạt động đột ngột này là một nỗ lực vào phút chót đầy toan tính của tổng thống Johnson nhằm cứu ứng cử viên Humphrey. Tôi không tin điều đó.

Trong suốt chiến dịch tranh cử, tôi chưa từng thấy ở Tổng thống điều gì khác ngoài thái độ công bằng và thẳng thắn trong các cuộc trao đổi với các ứng cử viên tổng thống chính về vấn đề Việt Nam.

…….

Trong mọi cuộc trò chuyện tôi từng có với ông ấy, ông ấy đều nói rõ rằng ông ấy sẽ không lợi dụng cuộc chiến này để làm chính trị.[6]

Tại cuộc mít tinh ở Madison Square Garden vào ngày 31/10, Nixon đã phản ứng với thông báo ngừng ném bom với việc đơn giản nói rằng cả ông và người bạn đồng tranh cử của mình sẽ không nói “bất cứ điều gì có thể phá huỷ cơ hội  hoà bình.” Ông tin rằng, và tuyên bố rằng các nghiên cứu sau này đã xác nhận, thông báo và hi vọng mà nó khơi dậy về một thỏa thuận  hoà bình đã gây ra “sự chuyển dịch cử tri lớn sang Humphrey.” Tuy nhiên, Thiệu đã làm giảm bớt phần nào sự hào hứng vào ngày 2/11 khi ông tuyên bố sẽ không tham gia vào các cuộc đàm phán mà Johnson đang nói đến. Nixon tiếp tục với việc để Robert Finch nói với báo chí rằng triển vọng  hoà bình không tiến triển xa như tuyên bố của Johnson và nói rằng, “Tôi nghĩ điều này sẽ phản tác dụng. Nó được dàn dựng vội vàng.” Johnson rất tức giận và Nixon đã gọi điện để làm dịu ông ta nhưng cũng đã nói với một cuộc mít tinh ở Texas cùng ngày, “Xét theo những báo cáo ban đầu mà chúng tôi nhận được sáng nay, triển vọng  hoà bình không tươi sáng như chúng ta thấy chỉ vài ngày trước.”[7]

Năm ngày sau cuộc bầu cử, Nixon viết, ông đã tham dự một cuộc họp báo cáo tình hình với tổng thống Johnson trong phòng nội các với sự có mặt của ngoại trưởng Rusk và bộ trưởng Clifford, tướng Wheeler, Richard Helms và Walt Rostow, chủ đề chính là Việt Nam. Nixon viết rằng tất cả những người có mặt “nhấn mạnh rằng Hoa Kì phải theo đuổi cuộc chiến đến cùng và giành được thắng lợi – qua đàm phán nếu có thể, nhưng tiếp tục chiến đấu nếu cần. Họ nhất trí rằng việc Mĩ rút lui, hoặc một thỏa thuận qua đàm phán có thể được diễn giải là một thất bại, sẽ gây ra hậu quả tai hại khủng khiếp đối với các đồng minh và bạn bè của chúng ta ở châu Á và trên toàn thế giới.”[8]

Khi mô tả việc hình thành nội các của mình, Nixon viết, “Bill Rogers, một nhà quản lí tài ba, sẽ đảm nhận nhiệm vụ khó khăn là quản lí bộ máy bàn giấy ngang ngạnh của Bộ Ngoại giao.”[9] Ông cũng viết, “Khi Eisenhower chọn Foster Dulles làm ngoại trưởng, ông ấy muốn Dulles trở thành cố vấn chính sách đối ngoại hàng đầu của mình, một vai trò mà Dulles có đủ điều kiện để đảm nhiệm. Tuy nhiên, ngay từ đầu nhiệm kì của mình, tôi đã có kế hoạch chỉ đạo chính sách đối ngoại từ Nhà Trắng. Do đó, tôi coi việc lựa chọn cố vấn An ninh Quốc gia là rất quan trọng.”[10] Sau cuộc gặp với Henry Kissinger tại khách sạn Pierre ở New York vào ngày 25/11, Nixon hỏi ông liệu có muốn đứng đầu Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC [National Security Council]) hay không; Kissinger đã chấp nhận. Nixon “biết rằng chúng tôi rất giống nhau về quan điểm chung ở chỗ chúng tôi cùng chia sẻ niềm tin vào tầm quan trọng của việc cô lập và gây ảnh hưởng đến các yếu tố tác động đến cán cân quyền lực toàn cầu. Chúng tôi cũng đồng ý rằng dù chính sách đối ngoại là gì đi nữa, nó phải mạnh mẽ để có uy tín – và nó phải có uy tín để thành công.” Ông cho rằng “chúng ta cần phải xem xét lại toàn bộ chính sách ngoại giao và quân sự của mình ở Việt Nam.” Ông cũng “quyết tâm tránh cái bẫy mà Johnson đã mắc phải, đó là dành gần như toàn bộ thời gian và năng lượng cho chính sách đối ngoại của mình vào Việt Nam, trong khi thực chất đó chỉ là một vấn đề ngắn hạn.” Ông nhớ lại:

Kissinger [lưu ý rằng] Kennedy đã thay thế việc lập kế hoạch chiến lược của NSC bằng việc quản lí khủng hoảng mang tính chiến thuật và Johnson, phần lớn vì lo ngại rò rỉ thông tin, đã giảm bớt quá trình ra quyết định của NSC xuống chỉ còn các phiên họp ăn trưa hàng tuần không chính thức với một vài cố vấn… khuyến nghị tôi nên xây dựng một bộ máy An ninh Quốc gia trong Nhà Trắng mà, ngoài việc phối hợp chính sách đối ngoại và quốc phòng, còn có thể phát triển các lựa chọn chính sách để tôi xem xét trước khi đưa ra quyết định.[11]

Vào ngày 12/12, khi Nixon thông báo với tổng thống Johnson về ý định “khôi phục Hội đồng An ninh Quốc gia đang ‘suy yếu’”, vị tổng thống sắp mãn nhiệm đã nghi ngờ về sự khôn ngoan của quyết định này:

Để tôi nói cho anh biết, Dick [Richard – ND], tôi sẽ là một thằng ngu nếu thảo luận những quyết định quan trọng khi toàn bộ nội các có mặt, vì tôi biết rằng nếu tôi nói điều gì đó vào buổi sáng, chắc chắn nó sẽ xuất hiện trên báo buổi chiều. Hội đồng An ninh Quốc gia cũng vậy. Ai ở đó cũng có cấp phó và người ghi chép ngồi dọc theo tường. Tôi cảnh báo anh trước, những vụ rò rỉ có thể giết chết anh. Tôi thậm chí không cho Hubert tham dự một số cuộc họp vì sợ nhân viên của ông ta sẽ làm lộ điều gì đó. Và ngay cả với tất cả các biện pháp phòng ngừa tôi thực hiện, mọi thứ vẫn bị rò rỉ.[12]

Về phần mình, Kissinger viết rằng Nixon nói ông muốn một nhà đàm phán giỏi làm ngoại trưởng hơn là một người hoạch định chính sách vì ông dành vai trò sau cho chính mình và trợ lí của ông về các vấn đề an ninh quốc gia, “và vì không tin tưởng vào ngành ngoại giao, Nixon muốn một người điều hành mạnh mẽ, người sẽ đảm bảo Bộ Ngoại giao ủng hộ các chính sách của tổng thống.” Ông coi William Rogers là lựa chọn lí tưởng; “Với tư cách là một nhà đàm phán, ông ấy sẽ khiến Liên Xô đau đầu và ‘những cậu bé trong Bộ Ngoại giao’ tốt hơn là nên cẩn thận vì Rogers sẽ không dung thứ cho bất kì sự vô lí nào.”[13]

Kissinger tiếp tục nhận xét rằng việc thiếu kiến thức cốt yếu là vấn đề đối với bất kì thành viên nội các nào và “đặc biệt là vấn đề đối với Ngoại trưởng.” Kissinger cho rằng dù các viên chức ngoại giao có thể tài giỏi, thông minh, có năng lực và chăm chỉ đến đâu, họ vẫn phải có:

… niềm tin rằng cả đời phục vụ và học tập đã mang lại cho họ những hiểu biết vượt xa những quan điểm nông cạn và thiếu kinh nghiệm của những người được bổ nhiệm chính trị … Khi không có một lãnh đạo mạnh mẽ, chủ nghĩa bè phái có xu hướng lấn át kỉ luật. Các nhân viên văn phòng trở thành người bênh vực cho các quốc gia mà họ giao dịch chứ không phải là người phát ngôn cho chính sách quốc gia. Các trợ lí ngoại giao hầu như chỉ thúc đẩy các mối quan tâm của khu vực mình phụ trách. Các viên chức sẽ đấu tranh cho lợi ích cục bộ với sự kiên trì và kĩ năng hành chính được mài giũa qua nhiều thập kỉ đấu tranh để tồn tại. Họ sẽ thực hiện các chỉ thị rõ ràng với lòng trung thành cao độ, nhưng một viên chức ngoại giao điển hình không dễ bị thuyết phục rằng một chỉ thị mà họ không đồng ý là thật sự rõ ràng.[14]

Kissinger cũng cho rằng các thủ tục của Bộ Ngoại giao “được thiết kế tốt để đề cao tính tự chủ của bộ máy bàn giấy.” Ông viết: “Mặc dù chỉ nói suông về việc lập kế hoạch, nhưng thực tế lại có sự thiên vị mạnh mẽ đối với việc hoạch định chính sách để phản hồi các bức điện tín và dưới hình thức các bức điện tín.” Sau đó, ông “phát hiện ra rằng việc khống chế hệ thống điện tín của Bộ Ngoại giao là một nỗ lực phi thường, ngay cả đối với người đã dành cả đời mình cho chính sách đối ngoại.” Ông thấy thật trớ trêu khi “quyết định của Nixon chọn một người có ít sự chuẩn bị thực chất làm Ngoại trưởng lại càng làm tăng thêm ảnh hưởng của hai thể chế mà ông không tin tưởng nhất – Bộ Ngoại giao và Báo chí.” Kissinger cho rằng “Vì ông ta có xu hướng đồng nhất tâm trạng của công chúng và Quốc hội với lập trường biên tập của các tờ báo hàng đầu miền Đông, và vì những tờ báo này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấp dưới của ông ta, nên tại những thời điểm quan trọng, Rogers tự nhận thấy mình không muốn đứng ra bảo vệ tổng thống và thường ủng hộ những quan điểm trái ngược với của Nixon.”[15]

Do đó, theo Kissinger, tổng thống và ông, với tư cách là người đại diện cho tổng thống, ngày càng giao dịch nhiều hơn với các lãnh đạo nước ngoài “thông qua các kênh kết nối trực tiếp Phòng Tình huống Nhà Trắng với thực địa mà không thông qua Bộ Ngoại giao – cái gọi là các kênh sau lưng. Quá trình này bắt đầu vào ngày sau Lễ nhậm chức.”[16]

Tổng thống cũng không tự tách mình khỏi các hoạt động chính sách đối ngoại của Bộ Ngoại giao. Vì vậy, vào tháng 3/1969, Nixon đã yêu cầu tôi thông báo riêng với đại sứ Dobrynin rằng trong cuộc nói chuyện dài đầu tiên về Việt Nam với phái viên Liên Xô, ngoại trưởng đã vượt quá cách nghĩ của Tổng thống… Tuy nhiên, không thể nghi ngờ rằng hành động của cả Nhà Trắng lẫn Bộ Ngoại giao đã khiến Liên Xô nhận biết được cuộc tranh luận nội bộ của chúng ta và họ đã cố hết sức để khai thác điều đó. Nixon đã giữ kín cuộc trao đổi riêng tư của mình với chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt vào tháng 7-8/1969 với Rogers mãi cho đến 48 giờ trước khi ông tiết lộ nó trên truyền hình vào tháng 11.[17]

Sau này, sau kinh nghiệm của chính mình với tư cách là cố vấn an ninh quốc gia và ngoại trưởng, Kissinger đã “…tin chắc rằng Tổng thống nên coi ngoại trưởng là cố vấn chính của mình và sử dụng Cố vấn An ninh Quốc gia chủ yếu với vai trò là một nhà quản lí và điều phối viên cấp cao để đảm bảo rằng mọi quan điểm quan trọng đều được lắng nghe.”[18]

Tổng thống cũng ra lệnh giải tán Nhóm Liên bộ Cao cấp (SIG [Senior Interdepartmental Group]) được thành lập năm 1967 dưới sự chủ trì của thứ trưởng Ngoại giao và bao gồm các đồng cấp của ông ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính, phó giám đốc CIA và chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Chức năng của nhóm là xem xét các lựa chọn được chuyển tới Hội đồng An ninh Quốc gia và theo dõi việc thực thi các quyết định đã được đưa ra. “Tin chắc về sự thù địch không thể xóa bỏ của Bộ Ngoại giao đối với mình, Nixon thẳng thừng từ chối xem xét việc duy trì SIG.[19] Kissinger nhận xét rằng cựu tổng thống Eisenhower và tướng Goodpaster, người sau này tạm thời nằm trong đội ngũ chuyển giao của Nixon, đã biện minh về việc bãi bỏ SIG với lí do Lầu Năm Góc “sẽ không bao giờ tự nguyện chấp nhận sự chi phối của Bộ Ngoại giao đối với quy trình An ninh Quốc gia. Họ sẽ cố gắng lách luật hoặc phản công bằng việc rò rỉ thông tin… và mặc dù rất ngưỡng mộ Dulles, ông ấy luôn khăng khăng giữ quyền kiểm soát bộ máy NSC tại Nhà Trắng.”[20]

Như Kissinger đã lưu ý, SIG không đóng vai trò quan trọng trong chính quyền Johnson vì NSC họp rất ít. Do đó, việc bãi bỏ nó về cơ bản là một đòn mang tính biểu tượng giáng vào “vai trò của Bộ Ngoại giao trong chính sách đối ngoại.”[21] Bộ đã cố gắng chống trả nhưng không thành công và Bản ghi nhớ Quyết định An ninh Quốc gia 2 – được kí ngày 19/1/1969 và ban hành ngay sau Lễ nhậm chức (ngày 20/1) – đã thiết lập một cấu trúc NSC mới với việc duyệt xét lại cuối cùng “dưới sự chủ trì của Nhà Trắng như đã từng có trong chính quyền Eisenhower.”[22]

Kissinger bình luận:

Chắc chắn rằng tổ chức này đã giúp việc kiểm soát của Nhà Trắng dễ dàng hơn. Nó cho tôi phương tiện để tham gia cùng các nhân viên của mình vào các giai đoạn đầu của việc hoạch định chính sách. Mặc dù điều này không được dự trù ngay từ đầu, nhưng nó cũng tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán bí mật mà theo thời gian, tôi ngày càng can dự nhiều hơn. Nixon và tôi có thể sử dụng bộ máy liên bộ để tự trau dồi kiến thức qua việc yêu cầu cung cấp các tài liệu kế hoạch về các cuộc đàm phán mà, theo quan điểm của bộ máy bàn giấy, chỉ là giả thuyết; những nghiên cứu này cho chúng tôi biết phạm vi các lựa chọn và có thể nhận được sự ủng hộ gì trong chính phủ. Sau đó, chúng tôi có thể đưa các ý tưởng của các bộ vào thực tiễn ngoài các kênh chính thức. Dù nghe có vẻ kì lạ, tôi chưa bao giờ đàm phán mà không có sự đóng góp lớn từ các bộ, ngay cả khi các bộ không biết tôi đang làm gì.[23]

Kissinger cho rằng, vì tầm ảnh hưởng của trợ lí tổng thống thật sự bắt nguồn từ sự tin tưởng mà tổng thống dành cho người đó, nên “việc kiểm soát bộ máy liên bộ và quyền trình bày các phương án tại các cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia là hữu ích nhưng không mang tính quyết định.” Ông đã tóm tắt vấn đề như sau:

Cuối cùng, dù không phải trong một năm rưỡi đầu, tôi đã trở thành cố vấn chính. Cho đến cuối năm 1970, tôi rất có ảnh hưởng nhưng không chi phối. Từ đó trở đi, vai trò của tôi tăng lên khi Nixon tìm cách bỏ qua sự chậm trễ và đôi khi là sự phản đối của các bộ. Thực tế vẫn là bộ máy NSC đã được sử dụng triệt để hơn trước khi quyền hạn của tôi được xác nhận, trong khi sau đó các quyết định chiến thuật ngày càng được đưa ra bên ngoài hệ thống trong các cuộc trò chuyện riêng với Tổng thống.[24]

Theo quan điểm của những người phỏng vấn của BBC, tổng thống Nixon được bầu vào thời điểm chiến tranh ở Việt Nam đã kéo dài 20 năm. Việc tổng thống Johnson từ chối phái thêm 200 000 quân đến Việt Nam được xem là “sự thừa nhận rằng chiến lược được áp dụng từ năm 1965, nhằm tìm kiếm một chiến thắng quân sự, không còn có thể đạt được trong một khoảng thời gian và với cái giá có thể chấp nhận được về mặt chính trị đối với số lượng đủ người Mĩ trong nước.” Họ cũng đánh giá rằng quyết định không tranh cử lại vào năm 1968 của ông, dù khá gần với lúc chấm dứt việc ném bom ở miền Bắc, đã khiến phe cộng sản đồng ý bắt đầu đàm phán ở Paris. Đối với họ, dường như “Lần đầu tiên kể từ Thế chiến II, nước Mĩ dường như đang rút lui,” khi buộc phải tìm kiếm một giải pháp qua đàm phán. Do đó, chính quyền của tổng thống Nixon bị hạn chế trong việc lựa chọn hành động bởi tình hình dư luận Mĩ và kết quả của phong trào phản chiến. Trong suốt chiến dịch tranh cử, đã trở thành điều rõ ràng là vai trò của lực lượng chiến đấu Mĩ sẽ phải giảm bớt. Do đó, Nixon buộc phải bắt đầu rút quân. Số lượng binh lính Mĩ dự kiến sẽ giảm từ 500 000 xuống còn 70 000 trong vòng hai năm; tỉ lệ thương vong của Mĩ giảm mạnh. “Nhưng cam kết chính trị đối với sự tồn tại của một Nam Việt không cộng sản vẫn còn đó.” Nixon đã nói với David Frost “mới gần đây” (sau khi rời nhiệm sở) rằng “lí do chúng ta ở Việt Nam đã không được người dân Mĩ hiểu một cách đầy đủ.” Ông nghĩ rằng Kennedy và Johnson đã đúng khi tiến vào Việt Nam nhưng họ, đặc biệt là Johnson, lẽ ra có thể điều hành cuộc chiến một cách hiệu quả hơn nhiều. Nixon có những nghi ngờ, nhưng ông sẽ không chọn cách dễ dàng là “rút lui” và đổ lỗi tất cả cho những tiền nhiệm của mình. Một hành động như vậy có thể rất được lòng dân, nhưng hậu quả sẽ rất tốn kém đối với Hoa Kì và thậm chí còn tốn kém hơn nữa đối với thế giới tự do.[25]

Nixon đã bắt đầu quá trình từ bỏ can dự của lực lượng Mĩ, nhưng ông không muốn phải thực hiện “một cuộc rút đi nhục nhã khỏi Việt Nam,” vì điều đó sẽ gây tổn hại đến “các đảm bảo của Mĩ ở những nơi khác trên thế giới.” Ý kiến phân tán về khả năng tồn tại của Nam Việt với tư cách là một quốc gia độc lập. Warren Nutter, người được Nixon bổ nhiệm làm trợ lí Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách An ninh Quốc tế, đã nói với các phóng viên của BBC rằng “Vấn đề giành chiến thắng về mặt quân sự thật sự đã bị loại trừ. Vào lúc đó, không có cách nào để huy động loại lực lượng quân sự cần thiết để kết thúc chiến tranh.” Các lựa chọn còn lại là:

  • Cố gắng đàm phán một thỏa thuận, điều mà chúng vốn dĩ đã làm rồi.
  • Từ bỏ Việt Nam đi hoặc “rút ra.”
  • Cố gắng huấn luyện cho người Việt Nam tự đảm nhiệm việc phòng thủ và dần dần rút ra, lực lượng còn lại của chúng ta chỉ tham gia ở mức độ cung cấp vật tư, trang thiết bị và “bí quyết.”

Ông nói rằng quyết định được đưa ra vào thời điểm đó là thử kết hợp đàm phán với cái mà sau này được gọi là “Việt Nam hóa,” về cơ bản là phương án thứ ba được mô tả ở trên. Ông cho rằng không có bất kì tiến triển nào trong các cuộc đàm phán vì phe cộng sản một mực đòi hỏi rằng chúng ta phải từ bỏ quân sự và loại bỏ Chính phủ Việt Nam vốn “hoàn toàn trái ngược với cam kết của chúng ta.” Ông cho rằng khi chúng ta lần đầu tiên can dự vào Việt Nam, chúng ta đã nghĩ đến việc giúp đỡ dân Nam Việt “tự vệ và duy trì một quốc gia riêng biệt.”

Nhưng rồi trong khoảng thời gian 4 năm, điều đó đã hoàn toàn bị bỏ rơi và trên thực tế, hướng đi ngược lại đã được thực hiện, chúng ta áp đặt lên họ cách thức xử lí các vấn đề quân sự của riêng mình và tước bỏ mọi trách nhiệm của họ đối với bất kì hành động quân sự nào. Họ hầu như không còn trách nhiệm gì nữa. Và rồi đột nhiên, sau Tết Mậu Thân, chúng ta quyết định huấn luyện họ ít nhất là để bảo vệ chống lại Việt Cộng, chống lại đe dọa nội bộ, nhưng không chống lại đe dọa từ bên ngoài.

Những người phỏng vấn của BBC cho rằng việc có thể thành lập một quốc gia có thể đứng vững được ở Nam Việt đã trở nên phi thực tế, nhưng Nutter nghĩ rằng chúng ta đã lạc quan hơn thế.[26]

Những người phỏng vấn của BBC cho rằng sự lạc quan đó được khuyến khích bởi những người tin rằng chiến lược quân sự được theo đuổi trước đó đã thiết lập những ưu tiên sai lầm. Họ cũng nhận thấy rằng, sau Chiến dịch Tết Mậu Thân, phe cộng sản đã được biết rõ là đã chịu “thương vong nặng nề” và mặc dù họ đã thành công về mặt chính trị trong việc buộc Mĩ rút quân, nhưng họ quá yếu để khai thác lợi thế của mình trên thực địa. Ngài Robert Thompson nói với những người phỏng vấn rằng có một chiến lược thay thế cho phép Mĩ tiếp tục rút quân.[27]

Thompson cho rằng thay vì dựa vào việc đánh nhau với Bắc Việt trong một cuộc chiến tranh tiêu hao, dù điều đó có cần thiết đến đâu, ưu tiên thật sự đáng lẽ nên là kiềm chế lực lượng Bắc Việt trong khi tái thiết miền Nam. Ông nghĩ, “Đó là chỗ khiến người Mĩ hoàn toàn thất bại trong giai đoạn 1965-1968.” Ông đã đưa ra lời khuyên này cho Kissinger thậm chí trước khi Nixon đắc cử. Nghĩa là, người Mĩ nên quay lại tập trung vào bình định và Việt Nam hóa, và nếu làm như vậy, họ vẫn có thể rút 100 000 quân trong năm đầu tiên nhờ sự cải thiện tình hình nội bộ. Ông nói rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã khiến hầu hết các đơn vị chính quy và địa phương của Việt Cộng ở Nam Việt bị tiêu diệt và trên thực tế, Nam Việt đã nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát ở vùng nông thôn trong các năm 1969-1970.[28]

Năm 1977, Nixon nói với những người phỏng vấn của BBC rằng trong nhiệm kì đầu của mình, ông đã cân nhắc khả năng đàm phán “một cuộc rút quân hỗ tương của tất cả các lực lượng Mĩ và nước ngoài, bao gồm cả lực lượng Bắc Việt – trong vòng 12 tháng kể từ khi đạt được thỏa thuận, cùng với một cuộc bầu cử có giám sát và một cuộc ngừng bắn có giám sát.” Tuy nhiên, không có tiến triển nào theo lộ trình này. Phe cộng sản vẫn giữ lập trường cứng rắn cho đến ngày 8/10/1972. Ông cho rằng Hoa Kì nên tiếp tục đàm phán, nếu rơi vào bế tắc thì kết hợp đàm phán với việc tăng cường áp lực quân sự, kết hợp áp lực quân sự đó với việc huấn luyện lực lượng Nam Việt để gánh vác nhiều hơn gánh nặng cuộc chiến.[29]

Những người phỏng vấn của BBC cho rằng Bắc Việt không phải là bên duy nhất nghĩ rằng Hoa Kì sẽ mất kiên nhẫn. Nam Việt cũng lo ngại về khả năng này; Thiệu nhận xét vào năm 1970:

Vì vậy, chúng ta không có lí do gì để giữ họ ở lại đây mãi mãi, và chúng ta phải thay thế họ; điều đó là hoàn toàn bình thường. Nhưng việc thay thế quân đội Mĩ bằng quân đội Việt Nam nên diễn ra dần dần và theo từng bước. Việc này mất nhiều năm, nhưng hiện nay chúng ta đang cảm thấy ngày càng tự tin hơn và chúng ta đang cố gắng hết sức để giảm bớt gánh nặng cho người dân Mĩ. Và tôi nghĩ rằng nếu kế hoạch Việt Nam hóa được thực hiện tốt, đó sẽ là giải pháp tốt nhất cho chúng ta, và cả cho người Mĩ nữa.[30]

Chính sách Việt Nam hóa có hai phần, tăng cường Lực lượng Vũ trang Nam Việt và cố gắng một lần nữa “kiểm soát và bình định các làng mạc ở Nam Việt.” Chiến lược tiêu hao đã “bị mất uy tín phần lớn.” “Tổng thống Nixon đã cử Colby đến Việt Nam vào năm 1969 với ngạch đại sứ để trực tiếp phụ trách ưu tiên mới – bình định.” Colby nói với các phóng viên của BBC rằng “cuộc chiến thật sự vẫn diễn ra ở cấp làng xã.”[31] Những người phỏng vấn cho rằng người Mĩ nhận thức được khả năng cộng sản sẽ phát động một cuộc tấn công lớn khi họ sẵn sàng, để phá vỡ nỗ lực bình định. Họ nghĩ rằng:

Trong nỗ lực ngăn chặn điều đó và cũng để cảnh báo trước về phản ứng có thể dự đoán từ phía mình, tổng thống Nixon đã điều quân đội Mĩ vào Cambodia năm 1970, vào các khu vực trú ẩn nơi du kích Cộng sản huấn luyện và dưỡng quân đồng thời cũng là nơi họ dùng làm điểm xuất phát cho các hoạt động quân sự lớn. Một số nơi chỉ cách Sài Gòn khoảng 50 dặm.

Phản ứng chống chiến tranh, bao gồm cả vụ Kent State, đã nhắc nhở tổng thống rằng “Sẽ có những hạn chế mạnh mẽ trong nước đối với việc ông sử dụng lực lượng Mĩ trong việc đánh nhau trên bộ.”[32]

Ngài Robert Thompson cho rằng Bắc Việt và Việt Cộng hiểu rằng nỗ lực bình định và Việt Nam hóa đang có hiệu quả, ngay cả khi những người chỉ trích không đồng tình. Họ biết rằng họ đang mất dần lãnh thổ ở miền Nam và chính phủ đang ngày càng mạnh hơn về mọi mặt. Họ phải phản ứng và công cụ hiệu quả duy nhất của họ là Quân đội Bắc Việt. Vì vậy, họ đã sử dụng nó vào tháng 3/1972, với 12 sư đoàn. Họ đã đạt được một số thành công ban đầu, nhưng quân đội Nam Việt đã giữ vững trận địa và tạo điều kiện cho không quân Mĩ can thiệp, gây thương vong nặng nề cho quân đội Bắc Việt vốn được trang bị xe tăng và pháo binh, trở thành mục tiêu tấn công dễ dàng.[33]

Những người phỏng vấn của BBC nhận thấy rằng, trong những tháng trước cuộc tấn công của cộng sản, Henry Kissinger đã tham gia vào các hoạt động ngoại giao bí mật “trong đó ông và tổng thống Nixon tìm cách thay đổi toàn bộ bối cảnh mà Việt Nam đã được nhìn nhận.” Kissinger đã bí mật gặp gỡ với một thành viên của Bộ Chính trị Bắc Việt tại nhà của Jean Sainteny ở Paris. “Ngoài ra, vào tháng 7/1971, Nhà Trắng đã thông báo rằng Kissinger đã bí mật đến Bắc Kinh để gặp Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông và chính tổng thống Nixon sẽ đến thăm chủ tịch Mao vào năm 1972.” Đối với những người phỏng vấn, dường như Nixon và Kissinger đang bắt đầu coi Việt Nam “như một sự kiện hơn là một mối quan tâm toàn diện. Trong trường hợp đó, liệu Việt Nam hóa về bản chất có phải là một tấm màn che đậy một sự thay đổi khác và cơ bản hơn?” Warren Nutter đã trả lời rằng:

Nhìn lại, tôi càng ngày càng thấy rõ rằng có lẽ người đứng đầu nhánh hành pháp, tổng thống Nixon, quan tâm nhiều hơn đến việc tìm kiếm một lá nho, như các bạn gọi, để che đậy sự thay đổi cơ bản trong lập trường của chúng ta trên thế giới hơn bất cứ điều gì khác; và tôi hoàn toàn không chắc đó không phải là mối quan tâm chính của Henry Kissinger vào lúc đó.[34]

Ông nói thêm:

Hơn nữa, trong thời gian dẫn đến cuộc bầu cử tổng thống nhiệm kì thứ hai của Nixon, ngày càng rõ ràng rằng lịch trình được đặt ra cho các mốc quan trọng trong chính sách đối ngoại hầu như chỉ hướng đến cuộc bầu cử, do đó việc giải quyết vấn đề Việt Nam trước năm 1972 là điều bắt buộc.Chắc chắn là điều đó phải xảy ra bởi vì nếu không, nó sẽ trở thành một vấn đề tranh cử không có lợi cho ổng thống. Tương tự, toàn bộ quá trình nới lỏng, hay sự khởi đầu của chính sách  hoà hoãn, v.v., chính sách cấp cao – tất cả đều phù hợp với những gì mà giờ đây, khi nhìn lại, dường như là một lịch trình được thiết kế chủ yếu để đảm bảo tái đắc cử với sự uỷ thác .[35]

Nhưng đó là nói trước câu chuyện.

Nixon viết rằng, trong giai đoạn chuyển tiếp năm 1968, ông và Kissinger đã phát triển khái niệm “kết nối,” nhằm thừa nhận những lợi ích rộng khắp và chồng chéo của hai siêu cường. Điều này có nghĩa là tiến bộ trong các lĩnh vực mà Liên Xô quan tâm, chẳng hạn như hạn chế vũ khí chiến lược và tăng cường thương mại, sẽ được liên kết với tiến bộ trong các lĩnh vực quan trọng đối với Hoa Kì, chẳng hạn như Việt Nam, Trung Đông và Berlin. Ông nói rằng phía Mĩ đã mất hai năm nỗ lực gian khổ trước khi Liên Xô chấp nhận ý tưởng này.[36]

Vấn đề ngoại giao cấp bách nhất mà Nixon dự đoán phải đối phó, tất nhiên, là Việt Nam; Kissinger bắt đầu xem xét lại tất cả các chính sách có thể có được thu gọn thành các “lựa chọn cụ thể” trải dài từ leo thang quân sự quy mô lớn đến rút quân đơn phương ngay lập tức. Ví dụ, có lựa chọn leo thang bao gồm việc dỡ bỏ các hạn chế của Johnson đối với các hoạt động quân sự cho phép ném bom miền Bắc, đe dọa xâm lược Bắc Việt, rải thuỷ lôi tại cảng Hải Phòng và truy đuổi tự do lực lượng cộng sản chạy sang Lào và Cambodia. Nixon viết, “Đó là một lựa chọn mà chúng tôi đã loại bỏ rất sớm.”[37] Tỉ lệ thương vong dự kiến của Hoa Kì khiến lựa chọn này không thực tế. Việc ném bom đê điều thuỷ lợi ở Bắc Việt với thương vong dân thường rất lớn hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật sẽ gây ra một “sự phẫn nộ trong nước và quốc tế” không thể chấp nhận được.[38] Ở thái cực khác là khả năng đơn giản là đảm bảo việc rút nhanh chóng và có trật tự tất cả các lực lượng Mĩ. Nixon cho rằng dù có “một số lập luận chính trị thuyết phục không thể phủ nhận khuyến nghị hướng hành động cụ thể này,” nhưng đó là một lựa chọn “đã bị loại bỏ từ lâu.” Điều đó có nghĩa là bỏ mặc “17 triệu người Nam Việt, nhiều người trong số đó đã làm việc cho chúng ta và ủng hộ chúng ta, rơi vào sự thống trị và tàn bạo của Cộng sản… Chúng ta đơn giản là không thể hi sinh một đồng minh theo cách như vậy… chúng ta sẽ không xứng đáng với lòng tin của các quốc gia khác và chắc chắn chúng ta sẽ không chấp nhận điều đó.”[39] Nixon nói rằng, theo quan điểm của ông, “hầu như mọi thứ liên quan đến việc giải quyết vấn đề Việt Nam đều có thể thương lượng được ngoại trừ hai điều: Tôi sẽ không đồng ý với bất cứ điều gì mà không bao gồm việc trả lại tất cả… [tù binh chiến tranh] của chúng ta và một giải trình về những người bị mất tích khi làm nhiệm vụ; và tôi sẽ không đồng ý với bất kì điều khoản nào đòi hỏi hoặc tương đương với việc chúng ta lật đổ tổng thống Thiệu.”

Theo ông, không chọn được ai khác sáng suốt hơn, khoan dung hơn hay dân chủ hơn Thiệu, mà chỉ có người yếu hơn, không thể đoàn kết các phe phái khác nhau ở Nam Việt.[40] Do đó, ông coi việc ủng hộ Thiệu là cam kết vì sự ổn định ở Nam Việt. Ông viết rằng “Trong 3 năm rưỡi, cho đến mùa thu năm 1972, Bắc Việt một mực đòi chúng ta phải sẵn sàng lật đổ hoặc hi sinh Thiệu như một điều kiện tiên quyết để đạt được thỏa thuận. Chỉ khi họ từ bỏ yêu cầu này, các cuộc đàm phán mới bắt đầu tiến hành nghiêm túc.”[41]

Trong suy nghĩ của Nixon, khi bắt đầu nhiệm kì, ông đã đưa ra 3 tiền đề cơ bản về vấn đề Việt Nam:

  • Ông “phải chuẩn bị dư luận cho thực tế rằng chiến thắng quân sự toàn diện không còn khả năng nữa.”
  • Ông “phải hành động dựa trên những gì lương tâm, kinh nghiệm và sự phân tích của tôi bảo tôi là đúng về sự cần thiết phải giữ lời hứa.”
  • Ông “phải kết thúc chiến tranh càng nhanh càng tốt trong khi vẫn giữ được danh dự.”

Vì không có cơ hội giành chiến thắng quân sự, ông tin rằng mình phải cố gắng đạt được một giải pháp qua đàm phán giữ được nền độc lập của Nam Việt và ông đã chuẩn bị dành phần lớn năm đầu tiên làm tổng thống để đạt được thỏa thuận như vậy.[42]

Tháng 12, ông quyết định gửi thông điệp như vậy tới Bắc Việt thông qua Jean Sainteny, người mà ông và Kissinger đều đã gặp. Thông điệp đầu tiên của Nixon “trình bày bằng những lời lẽ  hoà giải các đề xuất của chúng tôi về một giải pháp đàm phán.” Phúc đáp, 11 ngày sau đó, công kích Nam Việt vì đã trì hoãn việc mở đàm phán  hoà bình và Hoa Kì vì đã ủng hộ các yêu sách của Nam Việt. Tuy nhiên, phúc đáp đó cũng thể hiện sự sẵn sàng tiếp nhận thêm thông tin về lập trường của Hoa Kì. Nixon đáp lại rằng ông sẵn sàng đàm phán thiện chí. Trong bài phát biểu nhậm chức, ông một lần nữa nói về mong muốn đạt được một giải pháp  hoà bình nhưng cũng nói, “Đối với tất cả những ai bị cám dỗ bởi sự yếu đuối, chúng ta hãy để họ không nghi ngờ gì rằng chúng ta sẽ mạnh mẽ như chúng ta cần và chừng nào chúng ta cần.”[43]

Theo Nixon, vấn đề của ông trở nên phức tạp hơn bởi thực tế chưa từng có trong lịch sử nước Mĩ là “Nhiều người theo chủ nghĩa tự do nổi bật nhất ở cả hai đảng trong Quốc hội, từng ủng hộ sự can dự của chúng ta vào Việt Nam dưới thời Kennedy và Johnson, giờ đây đang cố gắng rút lui khỏi cam kết của họ.” Năm 1969, ông chỉ giữ được đa số sít sao trong Quốc hội về các vấn đề chiến tranh và hoàn toàn không chắc chắn đa số này sẽ giữ được bao lâu. Ông cũng lưu ý rằng “Truyền thông Mĩ đã chi phối dư luận trong nước về mục đích và cách tiến hành [cuộc chiến] cũng như về bản chất của kẻ thù.” Ông viết:

Quân đội Bắc Việt là một kẻ thù đặc biệt tàn nhẫn và độc ác, nhưng truyền thông Mĩ chủ yếu tập trung vào những thất bại và điểm yếu của quân đội Nam Việt hoặc của chính lực lượng chúng ta. Trên mỗi bản tin truyền hình tối và trên mỗi tờ báo sáng, chiến tranh được tường thuật từng trận đánh một, nhưng hầu như không truyền tải được ý nghĩa cốt lõi của cuộc chiến. Cuối cùng, điều này góp phần tạo nên ấn tượng rằng chúng ta đang chiến đấu trong một vũng lầy quân sự và đạo đức, chứ không phải hướng tới một mục tiêu quan trọng và xứng đáng.[44]

Ông cũng lưu ý rằng ông “là vị tổng thống mới đắc cử đầu tiên kể từ Zachary Taylor 120 năm trước, nhậm chức khi cả hai viện Quốc hội đều do đảng đối lập kiểm soát.” Rõ ràng, ông cần “một liên minh ủng hộ lưỡng đảng.”[45]

Tin rằng mình đang tiếp nhận vị trí tổng tư lệnh “vào thời điểm có lẽ là khó khăn nhất trong lịch sử lực lượng vũ trang của chúng ta,” lo ngại về ảnh hưởng của phong trào phản chiến đến tinh thần và kỉ luật của lực lượng vũ trang, nhận thấy vấn đề ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi ngày càng nhiều lính nghĩa vụ “bị ảnh hưởng bởi thái độ phản chiến” gia nhập quân đội, ông đã đưa ra kế hoạch thành lập lực lượng hoàn toàn tự nguyện vào năm 1969, và đến năm 1973, kế hoạch này đã chấm dứt chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc.[46]

Ngày 17/2/1969, Nixon tiếp đại sứ Liên Xô trong cuộc gặp chính thức đầu tiên và có ấn tượng rằng Liên Xô “sẵn sàng tiến hành đàm phán trên nhiều vấn đề, bao gồm Trung Đông, Trung Âu, Việt Nam và kiểm soát vũ khí.”[47] Ngày 23/2, ông bắt đầu chuyến thăm châu Âu kéo dài 8 ngày, gặp gỡ Hội đồng NATO, nữ hoàng Elizabeth, thủ tướng Harold Wilson, Giáo hoàng, và đặc biệt là tướng de Gaulle. Vị tướng Pháp này nói với ông rằng “cách duy nhất để chấm dứt chiến tranh là tiến hành đàm phán đồng thời về các vấn đề chính trị và quân sự và thiết lập lịch trình rút quân.” Sức mạnh và sự giàu có của Mĩ lớn đến mức họ có thể đạt được một thỏa thuận như vậy một cách đàng hoàng, và các cuộc đàm phán trực tiếp với Bắc Việt sẽ là cách tốt nhất để thực hiện điều đó.[48]

Tháng 2, quân đội Bắc Việt bắt đầu một cuộc tấn công nhỏ vào Nam Việt mà Nixon coi là một nỗ lực nhằm thăm dò ông ngay từ đầu nhiệm kì. Ông và Kissinger đều nhất trí rằng ông phải trả đũa hoặc sẽ mất khả năng đối phó với phe cộng sản “từ vị thế ngang bằng, chứ đừng nói đến vị thế mạnh hơn.” Họ cho rằng Johnson đã mắc sai lầm khi không phản ứng như vậy. Tướng Abrams và đại sứ Bunker đồng ý, yêu cầu tấn công bằng máy bay B-52 vào tuyến đường tiếp tế của cộng sản trong các mật khu ở Cambodia. Ngoại trưởng Rogers và bộ trưởng Quốc phòng Laird phản đối đề xuất sử dụng B-52. Tổng thống viết, “Họ lo sợ sự giận dữ của Quốc hội và giới truyền thông nếu tôi mở rộng chiến tranh sang Cambodia.” Ông đồng ý với Kissinger rằng nỗi sợ hãi về sự phản đối của giới truyền thông không nên ảnh hưởng đến quyết định của mình nhưng đã quyết định hoãn hành động cho đến khi từ châu Âu trở về để tránh nguy cơ các cuộc biểu tình phản chiến có thể làm hỏng chuyến thăm châu Âu của ông. Tuy nhiên, ông vẫn cảnh báo tướng Abrams tiếp tục lập kế hoạch dự phòng cho các cuộc tấn công bằng máy bay B-52.[49]

Phe cộng sản tăng cường tấn công và vào ngày 14/3, mở một cuộc tấn công mới vào khu phi quân sự (DMZ). Nixon đã gặp Rogers, Laird, Kissinger và tướng Wheeler vào ngày 16/3. Ông xem xét số liệu thương vong của Mĩ, ghi nhận các báo cáo tình báo về 40 000 quân cộng sản tập trung “trong một khu vực rộng từ 10 đến 15 dặm ngay bên trong biên giới Cambodia” và cân nhắc sự kiện rằng “tình hình ở Paris hoàn toàn bế tắc.” Ông nghĩ rằng cách duy nhất để thúc đẩy đàm phán là hành động trên mặt trận quân sự. Ông quyết định ra lệnh ném bom dưới mật danh Menu và ghi lại, “Đó là bước ngoặt đầu tiên trong cách chính quyền của tôi tiến hành Chiến tranh Việt Nam.”[50]

Các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt đã được đưa ra để giữ bí mật vụ ném bom. Được biết rằng Thái tử Sihanouk rất bất bình trước sự hiện diện của Quân đội Bắc Việt trên đất nước mình. “Ngay từ năm 1968, ông ta đã yêu cầu Hoa Kì trả đũa Bắc Việt, hoặc bằng cách ‘truy đuổi nóng’ trên bộ hoặc bằng cách ném bom các khu vực trú ẩn.” Tất nhiên, do vị thế trung lập của mình, ông ta không thể chính thức chấp thuận hành động như vậy. “Do đó, miễn là chúng ta ném bom bí mật, chúng ta biết Sihanouk sẽ im lặng; tuy nhiên, nếu vụ ném bom bị công khai, ông ta sẽ buộc phải công khai phản đối.” Chúng ta cũng dự đoán rằng Bắc Việt, những người đang phủ nhận không hề có binh lính nào ở Cambodia, sẽ gặp khó khăn trong việc phản đối. Phong trào phản chiến trong nước cũng là một yếu tố khác. Tổng thống đã không muốn gây ra một làn sóng phản đối lớn trong công chúng ngay từ đầu nhiệm kì của mình. “Để giữ bí mật về vụ ném bom, chúng tôi chỉ thông báo cho Richard Russell và John Stennis, chủ tịch và thành viên cấp cao của Uỷ ban Quân sự Thượng viện. Mặc dù Russell bắt đầu nghi ngờ về cuộc chiến nói chung, cả hai ông đều nói rằng họ sẽ ủng hộ tôi nếu vụ việc bị công khai.”[51]

Tổng thống Nixon nhanh chóng nhận ra những cảnh báo của người tiền nhiệm về sự nguy hiểm của “rò rỉ thông tin” là hoàn toàn có cơ sở. Những vụ rò rỉ như vậy đã bắt đầu gần như ngay sau khi ông nhậm chức. “Trong 5 tháng đầu tiên nhiệm kì tổng thống của tôi, ít nhất 21 câu chuyện lớn dựa trên những vụ rò rỉ từ hồ sơ của Hội đồng An ninh Quốc gia đã xuất hiện trên các tờ báo ở New York và Washington. Một báo cáo của CIA đã liệt kê 45 bài báo vào năm 1969 có chứa những vi phạm nghiêm trọng về bí mật.” Chi tiết về cuộc họp đầu tiên của Hội đồng An ninh Quốc gia về Trung Đông đã bị rò rỉ cho báo chí chỉ trong vài ngày. Cựu Tổng thống Eisenhower, người đã được Nixon báo cáo về cuộc họp, đã cảnh báo Kissinger phải “siết chặt” hoạt động của mình. Vào ngày 9/5, một bài báo trên tờ The New York Times, có tiêu đề “Các cuộc đột kích ở Cambodia của Mĩ không bị phản đối,” đã tung tin cuộc tập trận ném bom Cambodia; “… phóng viên đã dẫn nguồn thông tin từ chính quyền Nixon.” Nixon cho rằng cuộc ném bom Cambodia đã thành công, cứu sống nhiều người Mĩ, gây thiệt hại cho kẻ thù và tạo áp lực để đàm phán, và giờ đây “vụ rò rỉ” này đã đe dọa toàn bộ kế hoạch. Phản ứng của ông rất thú vị:

Kissinger vô cùng tức giận, và tôi cũng vậy. Ông ta lập tức suy đoán rằng việc rò rỉ chắc chắn là từ Bộ Ngoại giao hoặc Bộ Quốc phòng. Chúng tôi đều biết rằng các quan chức Bộ Ngoại giao thường xuyên làm lộ thông tin. Nhưng trong trường hợp cụ thể này, Rogers là người duy nhất ở Bộ Ngoại giao được thông báo về vụ đánh bom, và tôi chắc chắn rằng ông ta sẽ không bao giờ tiết lộ thông tin mật.

Họ cũng nghi ngờ Lầu Năm Góc nhưng dường như nghĩ rằng vì vụ rò rỉ này sẽ làm bẽ mặt bộ trưởng Laird nên nó không phải do ông ta gây ra. Nixon bảo Kissinger xem xét kĩ lưỡng đội ngũ nhân viên của mình và Kissinger đã tham khảo ý kiến của J. Edgar Hoover. Các cuộc nghe lén đã được tiến hành, nhưng “thật không may, không có cuộc nghe lén nào tìm ra được bằng chứng liên kết bất kì ai trong chính phủ với một vụ rò rỉ an ninh quốc gia cụ thể.” Vì vậy, giống như trong chính quyền Johnson, “Khi những nỗ lực tìm nguồn gốc của các vụ rò rỉ thất bại, chúng tôi bắt đầu tiến hành lập kế hoạch chính sách đối ngoại của mình trong các nhóm nhỏ. Một hậu quả trớ trêu của việc rò rỉ là thay vì tạo ra một chính phủ cởi mở hơn, nó luôn buộc chính phủ phải hoạt động theo những cách kín đáo và bí mật hơn.”[52]

Trong những tháng đầu nhiệm kì đầu tiên, Nixon nghĩ rằng, bất chấp cuộc tấn công của cộng sản vào tháng 2/1969 và việc không có tiến triển nào trong các cuộc đàm phán ở Paris, áp lực quân sự từ các vụ ném bom bí mật và áp lực dư luận từ nhiều đề nghị đàm phán của ông kết hợp lại sẽ buộc cộng sản phải phản hồi. Vào tháng 3, như ông đã nói với nội các, ông nghĩ rằng chiến tranh sẽ kết thúc trong vòng một năm.[53] Tại Paris, ông đề xuất khôi phục khu phi quân sự (DMZ) làm ranh giới giữa Bắc và Nam Việt và đã nói về việc rút quân Mĩ và quân Bắc Việt đồng thời khỏi Nam Việt. Tổng thống Thiệu đã nói rằng ông sẵn sàng đàm phán với Bắc Việt về một giải pháp chính trị và đề nghị tổ chức bầu cử tự do. Tuy nhiên, Bắc Việt vẫn kiên quyết, khẳng định rằng các vấn đề chính trị và quân sự không thể tách rời, Hoa Kì sẽ phải rút quân đơn phương và Thiệu phải ra đi trước khi có thể có các cuộc đàm phán nghiêm túc.[54]

Vào tháng 4, Nixon và Kissinger đã cố gây áp lực lên Liên Xô thông qua đại sứ Dobrynin để thuyết phục Bắc Việt gặp gỡ Mĩ, nếu cần thì tách khỏi các cuộc đàm phán Paris, nhằm tiến hành thảo luận về các nguyên tắc chung của một thỏa thuận. Kissinger nói với Dobrynin rằng “quan hệ Mĩ- Xô có liên quan vì, trong khi chúng ta có thể nói về tiến bộ trong các lĩnh vực khác, thì một thỏa thuận ở Việt Nam là chìa khóa cho mọi thứ.”[55] Dobrynin lập luận rằng ảnh hưởng của Liên Xô đối với Hà Nội là có hạn và Liên Xô không bao giờ có thể đe dọa cắt đứt nguồn cung cấp cho Hà Nội. Nhưng ông nói rằng các đề xuất sẽ được gửi đến Hà Nội “trong vòng 24 giờ.” Trong khi không có bất kì phản hồi nào khi nhiều tuần trôi qua, Nixon đã có bài phát biểu trên truyền hình vào ngày 14/5, đưa ra “kế hoạch  hoà bình toàn diện đầu tiên của chúng ta cho Việt Nam.” Ông “đề xuất rằng phần lớn tất cả các binh lính nước ngoài – cả Mĩ và Bắc Việt – rút khỏi Nam Việt trong vòng một năm sau khi một thỏa thuận được kí kết. Một cơ quan quốc tế sẽ giám sát việc rút quân và giám sát các cuộc bầu cử tự do ở Nam Việt.” Không có phản hồi thật sự nào. Nixon thừa nhận rằng mặc dù ông chưa bao giờ nghĩ rằng  hoà bình sẽ đến dễ dàng, nhưng giờ đây ông phải nhận ra “có thể nó sẽ không hề đến.”[56]

Ngay từ đầu, chính quyền đã quyết định rằng “việc rút một số lượng lớn quân đội chiến đấu của Mĩ sẽ chứng minh cho Hà Nội thấy rằng chúng ta nghiêm túc trong việc tìm kiếm một giải pháp ngoại giao; điều đó cũng có thể xoa dịu dư luận trong nước với việc thể hiện rõ ràng rằng chúng ta đang bắt đầu giảm dần cường độ chiến tranh.” Ngoại trưởng Laird, người “từ lâu đã cảm thấy rằng Hoa Kì có thể ‘Việt Nam hóa’ cuộc chiến,” đã từ chuyến thăm Nam Việt vào tháng 3 trở về với một báo cáo lạc quan về khả năng huấn luyện người Việt Nam tự vệ và, “phần lớn dựa trên sự nhiệt tình của Laird,” Nixon đã thực hiện chính sách “Việt Nam hóa,” qua đó đánh dấu “một bước ngoặt khác trong chiến lược Việt Nam của chính quyền tôi.”[57]

Không quá ngạc nhiên khi tổng thống Thiệu “nằm trong số những người phản đối kế hoạch rút quân của Mĩ khỏi Nam Việt.” Nixon đã đảm bảo với ông thông qua đại sứ Bunker về sự ủng hộ kiên định của chúng ta và đề xuất một cuộc gặp trên đảo Midway vào ngày 8/6 để củng cố sự đảm bảo này. Sau cuộc gặp, Nixon tuyên bố rằng “do khuyến nghị của Thiệu và đánh giá của Tư lệnh của chúng ta tại chiến trường, tôi đã quyết định ra lệnh rút ngay lập tức khoảng 25 000 quân khỏi Việt Nam. Điều này có phần phóng đại về mặt ngoại giao, bởi vì cả Thiệu và Abrams đều đã bí mật phản đối việc rút quân.”[58] Nixon nói rằng ông sẽ xem xét việc rút quân thêm dựa trên tiến độ huấn luyện và trang bị cho quân đội Nam Việt, tiến trình đàm phán Paris và mức độ hoạt động quân sự của cộng sản.

Trong cuốn sách viết về Việt Nam hóa, tướng Kỳ tuyên bố rằng trong nhiều năm ông đã “van nài người Mĩ cho Quân đội Việt Nam gánh vác nhiều trách nhiệm hơn, có tiếng nói nhiều hơn trong việc lập kế hoạch và thực hiện chiến tranh, bởi vì nếu muốn xây dựng một đội quân hùng mạnh thì không có hình thức huấn luyện thực tế nào tốt hơn là chiến đấu trên chiến trường.” Ông viết rằng ông đã hỏi tổng thống Johnson ở Honolulu liệu Hoa Kì có thể “đứng ngoài cuộc” trong khi giúp đỡ Việt Nam hay không. Johnson đã đồng ý xem xét nhưng, theo ý kiến của Kỳ, “Johnson lo rằng Nam Việt sẽ không bao giờ thắng được cuộc chiến.” Khi Kỳ đưa ra cùng quan điểm đó với phó tổng thống Spiro Agnew, ông nói rằng Agnew đã trả lời, “Nghe có vẻ là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng ông có nghĩ rằng lính của ông có thể chiến đấu được không? Tôi đã nghe báo cáo rằng họ không giỏi lắm.” Kỳ có khuynh hướng đồng ý rằng Agnew nói đúng một phần nhưng tin rằng vấn đề là quân đội Việt Nam đã quá lâu là một phần trong cỗ máy của Mĩ; “… tinh thần của lực lượng vũ trang sẽ cao hơn nhiều nếu các sĩ quan của chúng tôi có nhiều trách nhiệm hơn và cảm thấy rằng họ đang chiến đấu cho chính trận chiến của mình.”[59]

Kỳ cho rằng người Mĩ đã kìm hãm quá trình phát triển tự nhiên, lẽ ra sẽ dẫn đến việc quân đội Nam Việt đảm nhận vai trò chiến đấu quan trọng hơn. Ông trích dẫn một bài phát biểu mà ông cho là đã đọc vào tháng 7/1969 trước một nhóm “19 vị tướng cũ của quân đội Nam Việt”, trong đó ông nói:

Từ trước đến nay, người Mĩ luôn sai lầm trong việc đánh giá khả năng và năng lực của người Việt Nam. Theo báo cáo của các cố vấn Mĩ, một số đơn vị Việt Nam hoạt động kém hiệu quả và sẽ khó để họ thay thế các đơn vị Mĩ. Nhưng tôi đã nói với các cố vấn rằng khi có khả năng chúng ta làm được việc đó, họ nên để chúng ta làm, để chúng ta có thể giành được sự tôn trọng của người dân.[60]

Trong cuốn sách của mình, Kỳ đã mô tả quá trình Việt Nam hóa theo cách ông nhìn nhận. Tướng Westmoreland đã nói với người Mĩ trên truyền hình năm 1967 rằng Hoa Kì có thể bắt đầu rút quân vào năm 1969 nếu chương trình ném bom và quân sự tiếp tục, nhưng điều này cũng phụ thuộc vào việc liệu quân đội Nam Việt có thể đảm nhận nhiều vai trò hơn trong chiến đấu hay không. Tổng thống Nixon đã coi Việt Nam hóa là nền tảng trong chính sách đối với Đông Dương của mình. Để đưa binh lính Mĩ về nước, ông phải tăng cường lực lượng Nam Việt đủ mạnh để gìn giữ được chế độ không cộng sản. Kỳ cho rằng ý tưởng này là của ông, dù Westmoreland và Abrams đã ủng hộ nó. Với khoản tiền $10 triệu được cấp, tướng Abrams đã bắt đầu một chương trình cấp tốc để tăng cường huấn luyện. Phía Việt Nam đã ra lệnh tổng động viên nam giới từ 18 đến 38 tuổi, trong đó những người 17 tuổi và những người từ 39 đến 43 tuổi sẽ tham gia lực lượng tự vệ ở xã ấp.

Ông viết rằng, đến cuối năm 1970, quân đội Nam Việt Nam đã bổ sung 400 000 người vào lực lượng của họ và gộp chung tất cả được 1 100 000 người có vũ trang. Trong 3 năm, họ đã nhận được “gần một triệu vũ khí hạng nhẹ, 46 000 xe cộ và 1 100 máy bay và trực thăng.”[61]

Tuy nhiên, Kỳ cho rằng, trong quá trình Việt Nam hóa, người Mĩ đã vô tình áp đặt một “phương thức chiến đấu kiểu Mĩ” đặc trưng bởi sự phung phí đạn dược, sử dụng quá mức sức mạnh không quân và hỏa lực nói chung, và sự xa hoa quá mức dành cho binh lính trong hệ thống “PX” [Post Exchange: cửa hàng nhu yếu phẩm phục vụ lính Mĩ -ND], những sản phẩm mà người Mĩ đã chia sẻ với các đồng minh Việt Nam, nhưng sẽ biến mất cùng với quá trình Việt Nam hóa.[62]

Guenter Lewy viết rằng ý tưởng Việt Nam cuối cùng sẽ tự đảm nhận cuộc chiến của chính mình đã được nhấn mạnh nhiều lần kể từ khi Mĩ bắt đầu can dự, nhưng quá trình Việt Nam hóa chỉ thật sự bắt đầu một cách nghiêm túc từ sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân và chỉ bắt đầu mang lại kết quả sau đó nữa.[63] Cuộc chiến đã bị Mĩ hóa vì nhiều lí do. Trong nhiều trường hợp, các cố vấn Mĩ chỉ thấy dễ dàng và nhanh chóng hơn khi tự mình làm mọi việc. Việc bổ sung một lượng lớn quân đội Mĩ vào năm 1965 đã làm trầm trọng thêm quá trình này và, có một số lí do để tin rằng, càng khiến người Nam Việt có xu hướng để người Mĩ “làm việc đó thay họ.”[64] Nguồn lực vượt trội về vũ khí và yểm trợ pháo binh, không quân và trực thăng mà người Mĩ có được so với người Việt Nam cũng đã làm chậm quá trình này. Tình trạng thiếu hụt sản xuất của Mĩ là một phần nguyên nhân, nhưng cũng có ấn tượng rằng MACV (Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Vietnam [Military Assistance Command, Vietnam]) đang tập trung vào việc xây dựng lực lượng Mĩ hơn là lực lượng Việt Nam bởi vì, ít nhất là theo lời tướng Kỳ, người Mĩ lẽ ra phải bắt đầu Việt Nam hóa vào năm 1965, đã không làm vậy vì họ nghĩ rằng hỏa lực của họ sẽ mang lại một chiến thắng nhanh chóng.[65] Bắt đầu “vào mùa hè năm 1967 – sau khi thành lập CORDS [Civil Operations and Revolutionary Development Support (Trợ giúp Phát triển Cách mạng và Hoạt động Dân sự)] dưới quyền [Robert W.] Komer và việc nhấn mạnh mới vào bình định, và sau khi tổng thống Johnson quyết định về việc hạn chế đưa thêm quân Mĩ vào Việt Nam vào tháng 7, quá trình Việt Nam hóa mới được đẩy nhanh sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân và báo cáo của Lực lượng Đặc nhiệm Clifford. Kế hoạch (Giai đoạn I) bổ sung thêm pháo binh, xe bọc thép và trực thăng cho lực lượng trên bộ của Việt Nam đã được phê duyệt vào tháng 10/1968. Vào tháng 12, Kế hoạch (Giai đoạn II) đã được phê duyệt nhằm “tạo ra một Lực lượng Vũ trang Việt Nam Cộng  hoà tự túc, có khả năng đối phó với cuộc nổi dậy nội bộ sau khi Mĩ và Bắc Việt rút quân.” Sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Chính phủ Việt Nam đã sẵn sàng hơn trước trong việc huy động thêm quân và năm 1968 “kết thúc với lực lượng vũ trang đạt mức cao nhất là 819 200 người, tăng 176 000 người so với năm 1967,” dù có 116 000 người đào ngũ trong năm đó.[66]

Đến đầu năm 1972, quân lực Việt Nam Cộng  hoà, với gần 429 000 người trong Lục quân, 43 000 lính thuỷ trong Hải quân, 1 680 tàu chiến và 51 000 phi công cùng hơn 1 000 máy bay, bao gồm khoảng 500 máy bay trực thăng, “đã hoàn toàn đảm nhận nhiệm vụ chiến đấu trên thực địa.” Ngoài ra còn có khoảng 300 000 địa phương quân và 25 000 nhân dân tự vệ.[67]

Nhìn chung, người ta đồng ý rằng “trong những năm Mĩ rút quân, hiệu quả hoạt động của quân lực Việt Nam Cộng  hoà đã tăng lên đáng kể.”[68] Cũng khá rõ ràng rằng, vào đầu nhiệm kì của chính quyền Nixon, Việt Nam hóa “đã trở thành một yếu tố thiết yếu của chính sách giảm bớt gánh nặng chiến đấu của Mĩ trong khi Mĩ giảm dần việc can dự vào Việt Nam.”[69] Tuy nhiên, vẫn có một mức độ lạc quan nhất định được phản ánh trong đánh giá của các đơn vị Việt Nam.[70] Các vấn đề về lãnh đạo vẫn còn tồn tại và trở nên phức tạp hơn do thiếu sĩ quan.[71] Tình trạng đào ngũ vẫn tiếp diễn. Một vấn đề khác nảy sinh từ thực tế, như Kỳ đã nêu, rằng Quân đội Nam Việt đã phát triển theo mô hình của Mĩ với sự phụ thuộc lớn vào xe bọc thép, pháo binh, yểm trợ không quân, các loại thiết bị hiện đại và chi tiêu phung phí cho đạn dược,[72] khiến nó không phù hợp cho các hoạt động và sự sống còn nếu không có sự trợ giúp hậu cần lớn từ bên ngoài.

Trên đường trở về từ Midway, Nixon nói với những người chào đón ông trên bãi cỏ Nhà Trắng rằng sự kết hợp giữa kế hoạch  hoà bình ngày 14/5 của ông và việc rút quân được quyết định tại Midway đã mở ra cánh cửa  hoà bình; ông nói, “Và giờ đây chúng ta mời các lãnh đạo Bắc Việt cùng bước qua cánh cửa đó với chúng ta.”[73] Ông nghĩ rằng đến cuối tháng 6, Hà Nội có thể sẽ có đáp ứng. Dường như có một sự tạm lắng trong hoạt động quân sự và có những báo cáo tình báo về một số cuộc rút quân của Bắc Việt khỏi miền Nam. Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị kiêm cố vấn đặc biệt cho Phái đoàn Bắc Việt tại Paris, đột ngột trở về Hà Nội, có lẽ, theo suy đoán, để nhận chỉ thị. Mặc dù ông viết rằng ông vẫn nhận thức được nguy cơ tỏ ra quá sốt sắng đàm phán, Nixon “quyết định ‘chơi tất tay’ theo nghĩa là tôi sẽ cố kết thúc chiến tranh bằng cách này hay cách khác, hoặc bằng thỏa thuận đàm phán hoặc bằng cách tăng cường sử dụng vũ lực.”[74] Những cân nhắc khác cũng đang đè nặng lên ông. Ông dự đoán “một làn sóng phản chiến mới mạnh mẽ sẽ quét qua đất nước vào mùa thu và mùa đông” sau khi Quốc hội và các trường đại học trở lại làm việc sau kì nghỉ hè. Mùa khô ở Việt Nam gần như chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc tấn công mới của cộng sản vào tháng 2. Áp lực liên quan đến cuộc bầu cử năm 1970 sẽ tạo ra những yêu cầu từ Quốc hội về việc rút quân nhiều hơn. Ông cảm thấy rằng “sau nửa năm gửi tín hiệu  hoà bình cho Cộng sản, tôi đã sẵn sàng sử dụng bất kì áp lực quân sự nào cần thiết để ngăn chặn họ chiếm lấy Nam Việt bằng vũ lực. Trong một số buổi làm việc dài Kissinger và tôi đã cùng nhau xây dựng một kế hoạch tỉ mỉ về các áp lực ngoại giao, quân sự và tuyên truyền mà chúng tôi sẽ tác động lên Hà Nội.”[75]

Tổng thống đã xác định ngày 1/11/1969, “tròn một năm ngày Johnson cho ngừng ném bom,” làm hạn chót cho “tối hậu thư” mà ông dự định gửi tới Bắc Việt. Ông đã gửi một thư cho Hồ Chí Minh vào ngày 15/7 thông qua Jean Sainteny mà ông đã tiếp tại Nhà Trắng. Ông dặn Sainteny hãy báo cho Hồ biết rằng “trừ khi có bước đột phá đáng kể nào đó trước hạn chót ngày 1/11, nếu không tôi sẽ rất tiếc phải dùng đến những biện pháp ‘có hậu quả và sức mạnh to lớn’.” Trong thư, ông viết:

Tôi nhận thức rằng sẽ rất khó khăn để giao tiếp có ý nghĩa qua hố ngăn cách bởi 4 năm chiến tranh. Nhưng chính vì hố ngăn cách này, tôi muốn nhân cơ hội này để tái khẳng định một cách long trọng mong muốn của tôi trong việc hành động vì một nền  hoà bình công chính…

Như tôi đã nhiều lần nói, chờ đợi chẳng mang lại lợi ích gì…

Quý vị sẽ thấy chúng tôi luôn sẵn sàng và cởi mở trong nỗ lực chung nhằm mang lại phước lành của  hoà bình cho người dân Việt Nam dũng cảm. Hãy để lịch sử ghi nhận rằng, vào thời điểm quan trọng này, cả hai bên đều hướng về  hoà bình thay vì xung đột và chiến tranh.[76]

Bắc Việt nhanh chóng đề xuất một cuộc gặp bí mật giữa Kissinger và Xuân Thuỷ. Ngày 23/7, khi Nixon đến Thái Bình Dương để đón mừng Apollo 11 đáp xuống và tiếp tục chuyến công du, bao gồm các chuyến thăm Guam, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Nam Việt, Ấn Độ, Pakistan, Romania và Anh, ông quyết định Kissinger nên tách khỏi chuyến đi của tổng thống và đến Paris với cái cớ là để báo cáo cho các quan chức Pháp về các cuộc tiếp xúc của tổng thống trong các chuyến đi của ông. Tại Guam, Nixon đã công bố chủ thuyết Guam, sau này được biết đến nhiều hơn với tên gọi chủ thuyết Nixon. Nixon sớm nhận thấy một số người, bao gồm cả nghị sĩ Mansfield, đã hiểu sai thuyết Nixon như là “tín hiệu cho một chính sách mới sẽ dẫn đến việc Mĩ rút quân hoàn toàn khỏi châu Á và các khu vực khác trên thế giới.” Ông viết rằng ông đã giải thích với Mansfield, cũng như với các nhà lãnh đạo châu Á, rằng “Thuyết Nixon không phải là công thức để đưa nước Mĩ rút khỏi châu Á mà là cơ sở vững chắc duy nhất để nước Mĩ tiếp tục hiện diện và đóng vai trò có trách nhiệm trong việc giúp đỡ các quốc gia không cộng sản hay trung lập cũng như các đồng minh châu Á của chúng ta bảo vệ nền độc lập của mình.”[77] Tại Romania, ông đã nhân cơ hội này để nói với tổng thống Nicolae Ceausescu rằng nếu không nhận được phản hồi cho thông điệp gần đây của ông gửi tới Hà Nội, “Chúng tôi phải đánh giá lại chính sách của mình,” và rằng “Để có được  hoà bình, chúng tôi có thể phải mở một kênh liên lạc khác giữa hai nước.” Ceausescu hứa sẽ giúp đỡ.

Trong khi đó, Kissinger đang chuẩn bị cho cuộc gặp bí mật với Xuân Thuỷ, “cuộc đàm phán đầu tiên mà tôi tham gia với tư cách là người chủ trì.”[78]

Trong bài báo trên tạp chí “Foreign Affairs” tháng 1/1969, Kissinger đã đề xuất cách tiếp cận “hai tuyến” (two-track) trong đàm phán với Cộng sản Việt Nam. Điều này có nghĩa là Hoa Kì và Hà Nội sẽ thảo luận các vấn đề quân sự, còn các bên Việt Nam sẽ thảo luận các vấn đề chính trị. Harriman và Vance đã tán thành cách tiếp cận này khi họ là những người đàm phán của tổng thống Johnson. Nhanh chóng nhận ra “phong cách ngoại giao gây khó chịu của Bắc Việt,” Kissinger kết luận, “Khó có thể tìm thấy hai nền văn hóa nào lại ít được số phận sắp đặt để hiểu nhau hơn là văn hóa Việt Nam và văn hóa Mĩ.”[79]

Kissinger nhận thấy tổng thống hoài nghi về khả năng tiến triển trong đàm phán khi chưa có được một số tiến bộ quân sự trên thực địa, và do đó có xu hướng ủng hộ chính sách gây áp lực tối đa. Ông thấy ngoại trưởng Rogers và Bộ Ngoại giao “ở thái cực khác.” Ông cho rằng “mục tiêu chính của ngoại trưởng là tránh gây tranh cãi trong nước và bị cáo buộc là cứng nhắc.” Kissinger cũng nghĩ, “Nhiều người trong Bộ Ngoại giao chia sẻ quan điểm được các tờ báo hàng đầu hoặc các nhân vật ôn  hoà hơn trong Quốc hội ủng hộ, một phần vì niềm tin, một phần vì sợ hãi. Kết quả thực tế là chúng ta bị ngập tràn bởi các đề xuất của Bộ Ngoại giao mà đặc điểm chính là chúng chứa đựng những yếu tố mà phía bên kia đã lờ mờ ám chỉ rằng họ có thể chấp nhận.” Ông báo cáo “áp lực liên tục từ phái đoàn Paris của chúng ta trong việc bắt đầu các cuộc đàm phán riêng với Bắc Việt dựa trên đủ loại kế hoạch thỏa hiệp” mặc dù những người cộng sản vẫn cứng rắn trong các yêu cầu của họ. Kissinger cho rằng Rogers đã mắc một sai lầm, một “sai sót” trong cuộc trò chuyện với đại sứ Liên Xô Dobrynin, trong đó ông “đơn phương bỏ cách tiếp cận hai tuyến” qua việc tỏ ý sẵn sàng thảo luận đồng thời về các hành động chính trị và quân sự và đề xuất các cuộc đàm phán riêng ngay lập tức với Hà Nội bất chấp việc Sài Gòn bị pháo kích và không đòi hỏi “chấm dứt các cuộc tấn công vào các trung tâm dân cư lớn như một điều kiện.”[80] Ông cho rằng bộ trưởng Laird đã làm điều tương tự với tuyên bố đơn phương giảm 10% số chuyến bay của máy bay ném bom B-52, “có hiệu lực từ ngày 30/6, do cân nhắc về ngân sách.”[81]

Sainteny, không thể xin được visa tới Hà Nội từ phía Bắc Việt, đã chuyển bức thư của tổng thống cho Mai Văn Bộ, đại diện của Hà Nội tại Paris. Vì Lê Đức Thọ đã rời Paris, Kissinger dự kiến sẽ gặp Xuân Thuỷ, đại diện toàn quyền của Hà Nội tại các cuộc đàm phán ở Paris, tại căn hộ của ông Sainteny vào ngày 4/8. Kissinger “vẫn bán tín bán nghi rằng sẽ có tiến triển nhanh chóng nếu chúng ta có thể thuyết phục họ về sự chân thành của mình.” Ông đã trình bày “kế hoạch  hoà bình toàn diện nhất của Mĩ cho đến nay. Tôi đã vượt xa lập trường ôn  hoà nhất đang được ủng hộ trong bộ máy bàn giấy Washington lúc bấy giờ với đề xuất rút toàn bộ quân đội Mĩ mà không có dự tính để lại lực lượng còn lại nào. Tôi đã đề xuất giảm leo thang các hoạt động quân sự.” Về lập trường của ông Xuân Thuỷ:

Hà Nội tiếp tục khăng khăng đòi Hoa Kì thành lập một chính phủ mới với những điều kiện mà phe không cộng sản sẽ bị suy yếu do Mĩ rút quân và bị mất tinh thần do lãnh đạo của họ bị loại bỏ. Nếu như Hoa Kì trơ mặt rút quân mà không mang đến một cuộc biến động chính trị như vậy, chiến tranh sẽ tiếp diễn và tù binh của chúng ta sẽ vẫn ở đó.

Kissinger nói thêm rằng:

Qua nhiều năm, chúng ta đã thay đổi lập trường, từ rút quân song phương sang rút quân đơn phương, từ có lực lượng còn lại đến rút quân hoàn toàn. Nhưng Hà Nội không hề nhượng bộ. Chúng ta không thể có  hoà bình cũng như tù binh khi chúng ta chưa đạt được điều mà Hà Nội dường như không còn tin tưởng họ có thể tự làm được: lật đổ đồng minh… Việc chúng ta từ chối lật đổ chính phủ đồng minh vẫn là vấn đề duy nhất và then chốt làm bế tắc mọi cuộc đàm phán cho đến ngày 8/10/1972, khi Hà Nội rút lại yêu cầu này.[82]

Đề cập đến những lời ám chỉ của Nixon rằng “nếu không có tiến triển nào ở Paris trước ngày 1/11, ông sẽ có hành động mạnh mẽ,” Kissinger viết, “Lần đầu tiên tôi nghe về hạn chót này là khi Nixon nói với Yahya Khan vào tháng 8/1969. Và vì Nixon không bao giờ cho phép nhân viên Bộ Ngoại giao (và chỉ hiếm khi là ngoại trưởng) tham dự các cuộc họp của ông với các lãnh đạo nước ngoài, nên không ai khác trong chính phủ của chúng ta biết có một lời đe dọa đã được đưa ra.”[83]

Nixon thông báo cho Dobrynin qua Kissinger rằng Việt Nam là vấn đề then chốt trong quan hệ Xô-Mĩ và Kissinger nói thêm rằng “Bước tiếp theo là tùy thuộc vào Hà Nội,”[84] Ngày 6/10, khi gặp gỡ ngoại trưởng Rogers, Nixon :

… đã cấm đưa ra mọi sáng kiến ngoại giao mới đối với Việt Nam cho đến khi Hà Nội phản hồi theo một cách nào đó; lần đầu tiên ông đề cập đến thời hạn chót là ngày 1/3. Rogers coi mối đe dọa này rất nghiêm trọng bởi vì, như ông đã nói với tôi vào ngày 8/10, ông tin chắc rằng Tổng thống thật sự sẽ có một động thái nào đó vào ngày 1/11, mặc dù rõ ràng ông cũng không rõ hơn tôi động thái đó là gì.[85]

“Ngày 13/10, Nhà Trắng thông báo rằng Nixon đang có kế hoạch có bài phát biểu vào ngày 3/11 để xem xét lại chính sách đối với Việt Nam.” Trong khi đó, Nixon nói với Dobrynin rằng nếu không có tiến triển nào sớm xảy ra, Mĩ “sẽ phải theo đuổi các phương pháp riêng của mình để kết thúc chiến tranh. Mặt khác, nếu Liên Xô hợp tác để kết thúc chiến tranh một cách danh dự, chúng tôi sẽ ‘làm điều gì đó quyết liệt’ để chấm dứt chiến tranh.”[86]

Những nỗ lực ngoại giao nhằm gây sức ép lên Liên Xô và Bắc Việt tiếp tục diễn ra trong bối cảnh phong trào phản chiến, được đánh dấu bằng cuộc Tổng Đình công [Moratorium] Việt Nam (ngày 15/10), tập hợp sức mạnh. Nixon lưu ý rằng “Mối quan ngại thật sự của tôi là những nỗ lực công khai rộng rãi nhằm buộc tôi chấm dứt chiến tranh đang làm suy yếu nghiêm trọng những nỗ lực sau hậu trường của tôi để làm điều đó.” Mối quan ngại của ông càng tăng lên khi có bức thư của Phạm Văn Đồng, được phát trên Đài phát thanh Hà Nội, gửi đến người dân Mĩ, chúc “cuộc tấn công rộng lớn và mạnh mẽ trên khắp nước Mĩ nhằm yêu cầu chính quyền Nixon chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đưa tất cả lính Mĩ về nước ngay lập tức” được thành công rực rỡ.[87]

Khi “hạn chót” ngày 1/11 đến gần, Nixon cho biết ông đã cân nhắc 3 yếu tố:

  • Số thương vong của Mĩ tại Việt Nam đang ở mức thấp kỉ lục và ông cho rằng đây có thể là một mưu đồ của cộng sản nhằm gây khó khăn cho ông trong việc leo thang chiến sự.
  • Cái chết của Hồ Chí Minh có thể đã tạo ra những cơ hội mới để đạt được một thỏa thuận.
  • Ngài Robert Thompson đã nói với ông rằng leo thang sẽ có nguy cơ gây ra sự phẫn nộ lớn ở Mĩ và trên toàn thế giới, và vẫn không giải quyết được vấn đề cốt lõi là liệu người Nam Việt có đủ tự tin và chuẩn bị để tự vệ trước một cuộc tấn công mới của cộng sản hay không.

Xét đến những yếu tố này, và vì ông nhận ra rằng thỏa thuận tạm ngừng đã làm suy yếu uy tín của tối hậu thư ngày 1/11 của mình, Nixon nói rằng ông bắt đầu nghĩ đến việc đẩy mạnh Việt Nam hóa và duy trì giao tranh ở mức độ hiện tại thay vì tăng lên. Ông quyết định sử dụng cuộc gặp với Dobrynin vào ngày 23/10 để làm “tuyệt đối rõ” lập trường của Mĩ với Liên Xô. Tóm lại, ông nói với Dobrynin rằng Mĩ không thể để “chiến lược vừa đàm-vừa đánh tiếp diễn mà không hành động.”[88]

Khi thời điểm đọc diễn văn đến gần, Nixon nhận được “nhiều lời khuyên trái nhau” về cách ông nên trình bày bài phát biểu của mình. Ngoại trưởng Rogers và bộ trưởng Laird thúc giục ông tập trung vào hi vọng về  hoà bình. “Kissinger thì chủ trương một lập trường rất cứng rắn.” Nghị sĩ Mansfield đã gửi cho ông một bản ghi nhớ liệt kê “các hành động không khác gì đơn phương ngừng bắn và rút quân.”[89]

Trên thực tế, như Nixon đã viết:

Thông điệp trong bài phát biểu ngày 3/11 của tôi là chúng ta sẽ giữ vững cam kết ở Việt Nam. Chúng ta sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi phe Cộng sản đồng ý đàm phán một nền  hoà bình công bằng và danh dự, hoặc cho đến khi người dân Nam Việt có thể tự vệ – tuỳ theo điều nào đến trước. Đồng thời, chúng ta sẽ tiếp tục rút quân dựa trên các nguyên tắc của thuyết Nixon: tốc độ rút quân sẽ gắn liền với tiến trình Việt Nam hóa, mức độ hoạt động của địch và các diễn biến trên mặt trận đàm phán. Tôi nhấn mạnh rằng chính sách của chúng ta sẽ không bị ảnh hưởng bởi các cuộc biểu tình trên đường phố .

Mặc dù “những bình luận và phân tích được phát sóng bởi các hãng truyền thông mà phóng viên đưa tin đã chỉ trích cả lời nói lẫn động cơ của tôi,” Nixon viết, “… có những dấu hiệu cho thấy các nhà phê bình và bình luận không đại diện cho dư luận… Tôi bắt đầu nhận ra rằng phản ứng đối với bài phát biểu đã vượt quá cả những kì vọng lạc quan nhất của tôi.”[90]

Đến sáng hôm sau, phản ứng của công chúng đã được xác nhận. Phòng thư tín của Nhà Trắng báo cáo đây là phản hồi lớn nhất từ trước đến nay đối với bất kì bài phát biểu nào của tổng thống. Hơn 50 000 điện tín và 30 000 thư đã được gửi đến, và tỉ lệ các thông điệp chỉ trích trong số đó rất thấp. Một cuộc thăm dò qua điện thoại của Gallup được thực hiện ngay sau bài phát biểu cho thấy tỉ lệ ủng hộ là 77%.[91]

Sự ủng hộ mạnh mẽ từ công chúng đã tác động trực tiếp đến dư luận Quốc hội. Đến ngày 12/11, 300 thành viên Hạ viện – 119 đảng viên Dân chủ và 181 đảng viên Cộng  hoà – đã cùng bảo trợ một nghị quyết ủng hộ các chính sách của tôi về Việt Nam. 58 nghị sĩ – 21 Dân chủ và 37 Cộng  hoà – đã kí thư bày tỏ cùng quan điểm.[92]

Ngày 13/11/1969, phó tổng thống Agnew đã có bài phát biểu tại Des Moines, Iowa, chỉ trích “quyền lực vô hạn trong tay ‘giới tinh hoa không được bầu chọn’ của các hãng truyền thông.” Ngày 15/11, cuộc “Tổng Đình công tháng 11” diễn ra tại Washington với “những vụ bạo lực rải rác.”[93]

Khi đánh giá tình hình vào đầu năm 1970, Nixon nhớ lại:

Khi ngồi trong phòng làm việc ở San Clemente vào ngày đầu năm mới suy nghĩ về những vấn đề này, tôi thật sự đã cho phép mình có một cảm giác lạc quan thận trọng rằng chúng ta đã vượt qua được những cú đánh tệ hại nhất từ Việt Nam và chỉ cần giữ vững lập trường cho đến khi thời cơ bắt đầu nghiêng về phía chúng ta. Tôi cho rằng, ở một số khía cạnh, câu chuyện về Việt Nam là một câu chuyện về việc đánh giá không đúng lẫn nhau. Nhưng nếu tôi ước lượng thấp ý chí của Bắc Việt trong việc kiên trì và chống lại một thỏa thuận qua đàm phán không dựa trên điều kiện của họ, thì họ cũng ước lượng thấp ý chí của tôi trong việc bền gan bất chấp những áp lực trong nước và quốc tế sẽ chống lại tôi.[94]

Kissinger cho rằng bài phát biểu ngày 3/11 của Nixon có:

… một hiệu ứng gây sốc vì nó đã thách thức những người biểu tình, phía Bắc Việt và mọi kì vọng qua việc tuyên bố không có sự thay đổi ngoạn mục nào trong lập trường đàm phán của chúng ta và không có việc rút quân. Nó đã kêu gọi “đa số thầm lặng” người Mĩ ủng hộ Tổng tư lệnh. Lần đầu tiên trong một tuyên bố của tổng thống, nó đã nêu rõ ràng ý tổng thống muốn nói khi ông nói rằng ông có “một kế hoạch để chấm dứt chiến tranh” – cụ thể là chiến lược hai tuyến gồm Việt Nam hóa và đàm phán. Và nó nhấn mạnh rằng Việt Nam hóa đưa ra triển vọng rút quân danh dự mà không phụ thuộc vào sự hợp tác của phía bên kia.[95]

Tóm lại, theo Kissinger, chính quyền đã giành được một số không gian xoay sở nhưng sẽ cần nhiều hơn thế để đối phó với các nhà lãnh đạo ngoan cố và kiên trì ở Hà Nội. Những gì các nhà lãnh đạo này đã làm khó có thể gọi là đàm phán. “Hà Nội quyết tâm bẻ gãy ý chí của chúng ta ở trong nước và để đạt được điều này, họ không thể cho thấy có một tia hi vọng nhỏ nhoi hay dấu hiệu tiến bộ nào. Là những người theo chủ nghĩa Lenin cuối cùng trên thế giới, Bắc Việt không có ý định chia sẻ quyền lực.”[96]

Cựu tổng thống Johnson, trong cuộc gặp với tổng thống Nixon tại Nhà Trắng vào ngày 11/12/1969, nói rằng sai lầm lớn nhất của ông khi làm tổng thống là “quá tin tưởng người Nga.” Ông cho rằng tất cả các lần tạm ngừng ném bom đều là sai lầm và mỗi lần như vậy đều được thực hiện vì những lời đảm bảo nhận được từ Nga hoặc các nguồn khác rằng Cộng sản Việt Nam sẽ phản ứng tích cực.[97] Như đã đề cập ở trên, Nixon và Kissinger đã trở nên hơi thất vọng về tính hữu ích của đại sứ Liên Xô như một kênh liên lạc với Bắc Việt.

Trong cuốn sách của mình, Nixon cũng khá thẳng thắn khi mô tả những khác biệt về quan điểm và xung đột cá tính trong chính quyền của ông. Khi nói về Kissinger và bộ trưởng Laird và ngoại trưởng Rogers, những người mà ông cho rằng đã xảy ra những khác biệt và xung đột quan trọng nhất, ông nhận xét rằng những xung đột là điều không thể tránh khỏi khi “ba cá tính và tính khí khác biệt như vậy được thêm vào hỗn hợp thể chế vốn đã dễ biến động của Bộ Ngoại giao, Hội đồng An ninh Quốc gia và Lầu Năm Góc.” Ông lưu ý rằng Rogers và Laird đôi khi tiến hành các giao dịch và đàm phán nhạy cảm mà không phối hợp với Nhà Trắng và đôi khi họ làm như vậy không phải vô tình mà để tránh sự phản đối của tổng thống hoặc Kissinger hoặc “để chứng tỏ cho bản thân, bộ của họ và báo chí rằng họ có khả năng hành động độc lập.” Ông lưu ý rằng, trong một số trường hợp, kết quả đe dọa “làm suy yếu chính sách và uy tín của chúng ta với các nước ngoài.” Tổng thống viết rằng, “Rogers cảm thấy Kissinger là người mưu mô, dối trá, tự cao tự đại, kiêu ngạo và hay xúc phạm. Kissinger cảm thấy Rogers là người phù phiếm, thiếu hiểu biết, không thể giữ bí mật và hoàn toàn bị chi phối bởi bộ máy bàn giấy của Bộ Ngoại giao.”[98]

Đầu năm 1970, trước những báo cáo tình báo về việc quân đội Bắc Việt tăng cường đưa người và trang thiết bị vào Lào, Cambodia cũng như Nam Việt, Nixon bắt đầu suy nghĩ về những việc có thể làm để thuyết phục phía cộng sản rằng Mĩ vẫn coi trọng cam kết của mình ở Việt Nam. Kissinger đã có cuộc gặp bí mật lần thứ hai với phía Bắc Việt tại Paris vào ngày 21/2/1970, và Nixon cho rằng vị thế của Mĩ lần này mạnh mẽ hơn nhiều nhờ phản ứng tích cực trong nước đối với bài phát biểu ngày 3/11 của ông, và vì lúc này Mĩ đang đàm phán với cả Liên Xô (ở Bonn) và Trung Quốc (ở Warsaw). Ông cũng lưu ý rằng uỷ viên Bộ Chính trị Lê Đức Thọ đã tham gia cùng Xuân Thuỷ. Mặc dù Thọ giữ quan điểm rằng người dân và báo chí Hoa Kì, cũng như phần lớn người dân Việt Nam, phản đối chính phủ Sài Gòn của “Thiệu Kỳ Khiêm”, ôn

g vẫn bày tỏ sẵn sàng gặp lại vào ngày 16/3. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc gặp tiếp theo, Nixon nói rằng, “Chúng ta cần một bước đột phá về nguyên tắc – và thực chất.” Ngày 16/3, Kissinger nói với phía Bắc Việt rằng, nếu đạt được thỏa thuận, chúng ta có thể rút toàn bộ binh lính ra khỏi Việt Nam trong vòng 16 tháng. Tuy nhiên, hai ngày sau đó, cuộc đảo chính bất ngờ của Lon Nol đã lật đổ hoàng thân Sihanouk của Cambodia khi ông đang có chuyến công du ở Moscow.[99]

Kissinger gặp lại phía Bắc Việt Nam vào ngày 4/4 nhưng nhận thấy rằng, “Tóm lại, lập trường của Hà Nội như đã thể hiện trong 3 cuộc gặp với Lê Đức Thọ là cứng rắn và không khoan nhượng.” Ông ghi lại rằng “Loạt đàm phán bí mật đầu tiên với Lê Đức Thọ kết thúc bằng tuyên bố của ông ta rằng trừ khi chúng ta thay đổi lập trường, nếu không sẽ không còn gì để thảo luận nữa.” Khi xem xét lại biên bản sau đó, Kissinger đã kinh ngạc trước “bản báo cáo lạc quan đến mức khó tin của chính mình.” Ông viết:

Biên bản không để lại chút nghi ngờ nào rằng chúng tôi đang tìm kiếm lí do để các cuộc đàm phán thành công, chứ không phải để thất bại. Trái ngược với cáo buộc không ngừng nghỉ của những người chỉ trích rằng chúng tôi kiên quyết theo đuổi giải pháp quân sự, chúng tôi đã cố gắng hết sức để dành mọi sự tin tưởng cho việc theo đuổi một giải pháp đàm phán. Nixon cũng có thái độ tích cực này mặc dù ông ấy bi quan hơn.[100]

Phản ứng tức thì của Nixon trước tin tức từ Cambodia là muốn làm mọi thứ có thể để giúp đỡ Lon Nol, nhưng ngoại trưởng Rogers và bộ trưởng Laird khuyên nên thận trọng, giám đốc CIA Helms cũng vậy. Hai bộ trưởng cho rằng Moscow, Bắc Kinh và Hà Nội có thể lợi dụng việc Mĩ cung cấp viện trợ quân sự hoặc kinh tế làm cái cớ để xâm lược toàn diện Cambodia. Helms báo cáo rằng chính phủ Lon Nol khó có thể tồn tại và có thể bị lật đổ ngay cả trước khi viện trợ được chuyển đến. Vì vậy, Nixon quyết định chờ đợi và quan sát ít nhất một tuần, trong thời gian đó người Cambodia đã chiến đấu rất tốt và đóng cửa cảng Sihanoukville, cắt đứt một nguồn cung cấp chính của cộng sản.[101]

Bất chấp tình hình quân sự đáng lo ngại ở Cambodia và bế tắc trong các cuộc đàm phán ở Paris, Nixon vẫn quyết định tiến hành rút quân Mĩ khỏi Việt Nam, dự kiến vào ngày 20/4. Việc này sẽ hữu ích trong việc đối phó với các cuộc biểu tình phản chiến đang ngày càng gia tăng. Việc tổng thống tuyên bố rút 15 000 quân trong năm tới, thay vì một con số nhỏ hơn trong thời gian ngắn hơn, đã gây ra một “bất ngờ lớn.”

Trong khi đó, lực lượng cộng sản đã kiểm soát hơn một phần tư lãnh thổ Cambodia và đang tiến về Phnom Penh. Nixon nhận thấy Nam Việt đang bị bao vây, và chương trình rút quân của Mĩ đang bị đe dọa bởi động thái này của cộng sản, và chuẩn bị thảo luận về viện trợ cho Lon Nol trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia vào ngày 22/4. Ông đã chuẩn bị một bản ghi nhớ gửi Kissinger bày tỏ quan điểm rằng chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội ở Cambodia vì quá lo lắng về tính trung lập của Lon Nol. Chính do lỗi của “những người làm việc chuyên nghiệp trong Bộ Ngoại giao” mà chúng ta đã mắc sai lầm tương tự ở Hungary năm 1956 và sau đó ở Tiệp Khắc, và Lào qua việc trì hoãn không kích, và giờ lại một lần nữa “ở Cambodia, nơi chúng ta đã có thái độ hoàn toàn không nhúng tay qua việc phản đối với Thượng viện rằng chúng ta chỉ có một phái đoàn gồm 7 kẻ ngốc của Bộ Ngoại giao trong toà đại sứ, và sẽ không cung cấp bất kì viện trợ nào vì chúng ta sợ rằng nếu làm như vậy sẽ tạo cho họ một ‘sự khiêu khích’ để nhảy vào.”[102]

Nixon viết, “Tôi chưa bao giờ ảo tưởng về tác động tàn khốc mà quyết định tiến vào Cambodia sẽ gây ra đối với dư luận trong nước. Tôi biết rằng ý kiến giữa các cố vấn chính sách đối ngoại chủ chốt của tôi rất khác nhau về vấn đề mở rộng chiến tranh, và tôi nhận ra rằng điều đó có thể đồng nghĩa với thảm họa cá nhân và chính trị đối với tôi và chính quyền của tôi.”[103]

Ông đã xác định vào ngày 26/4/1970 và quyết định “chơi tất tay.” Quân đội Việt Nam Cộng  hoà sẽ tiến vào “Mỏ Vẹt” và một lực lượng hỗn hợp VN-Mĩ sẽ tiến vào “Móc Câu.”[104] Ngoại trưởng Rogers và bộ trưởng Laird đã cố gắng thuyết phục tổng thống không sử dụng quân đội Mĩ nhưng không thành công. Rogers cho rằng thương vong sẽ không tương xứng với bất kì thiệt hại nào gây ra cho kẻ thù. Tuy nhiên, Kissinger, đại sứ Bunker và tướng Abrams đã đồng ý với Nixon; George Meany và chánh án Berger cũng vậy. Tuy nhiên, 3 nhân viên của Kissinger đã từ chức để phản đối quyết định của tổng thống.[105] Nixon đã báo cáo với lãnh đạo Quốc hội và đã giải thích về chiến dịch trên truyền hình, nhưng việc gọi những “kẻ đốt phá trong khuôn viên trường” là “những kẻ vô lại” (bums) trong chuyến thăm Lầu Năm Góc đã bị hiểu là áp dụng cho toàn bộ phong trào phản chiến và gây ra sự phẫn nộ lớn trong các trường đại học, đặc biệt là sau vụ việc tại Đại học Kent State. Tổng thống đã bị “sốc và thất vọng” khi “một thông tin rò rỉ có vẻ như cố ý cho báo chí” tiết lộ rằng hai bộ trưởng Rogers và Laird đã phản đối quyết định của ông về Cambodia và ông “đã gọi cho Rogers và nói với ông ấy rằng tôi cảm thấy Nội các nên ủng hộ một quyết định một khi nó đã được tổng thống đưa ra.”[106]

Rõ ràng Nixon đã cảm thấy an ủi phần nào trước kết quả cuộc thăm dò của Gallup được đăng trên Newsweek vào giữa tháng 5:

Kết quả cho thấy 65% tán thành cách ông hành xử nhiệm vụ tổng thống; 30% trong số đó tự nhận là “rất hài lòng.” 50% tán thành quyết định điều quân vào Cambodia; 39% không tán thành; và 11% không có ý kiến. Trả lời câu hỏi, “Theo bạn, ai là người chịu trách nhiệm chính cho cái chết của 4 sinh viên tại Kent State?,” 58% cho rằng do lỗi của “các sinh viên biểu tình” trong khi chỉ có 11% đổ lỗi cho Lực lượng Vệ binh Quốc gia.[107]

Ngày 30/5, Nixon thông báo trên truyền hình rằng chiến dịch Cambodia là chiến dịch thành công nhất trong Chiến tranh Việt Nam, thu được “lượng vũ khí, trang thiết bị, đạn dược và lương thực của địch chỉ trong tháng qua ở Cambodia gần như nhiều bằng tổng số mà chúng ta đã thu được ở toàn bộ Việt Nam trong cả năm 1969.” Cuối tháng 6, ông tuyên bố việc rút các binh sĩ Mĩ cuối cùng khỏi Cambodia, “đúng theo kế hoạch và đúng như tôi đã hứa.” Ông tóm tắt lại như sau:

Chúng tôi đã thu giữ vũ khí cá nhân đủ để trang bị cho 74 tiểu đoàn bộ binh chính quy của Bắc Việt; đủ gạo để nuôi sống tất cả các tiểu đoàn chiến đấu của cộng sản ước tính đang đóng tại Nam Việt trong khoảng 4 tháng; 143 000 quả rocket, đạn cối và đạn súng không giật – tương đương với số lượng đã sử dụng trong khoảng 14 tháng giao tranh; 199 522 đạn phòng không, 5 582 quả mìn, 62 022 quả lựu đạn và 83 000 pound thuốc nổ; 435 xe cộ đã bị thu giữ và 11 688 hầm trú ẩn cùng các công trình quân sự khác đã bị phá huỷ.

Tỉ lệ thương vong của Mĩ giảm xuống còn 51 người mỗi tuần trong 6 tháng sau chiến dịch so với 93 người mỗi tuần trong 6 tháng trước đó, và cảng Sihanoukville vẫn đóng đối với các chuyến hàng vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc. Tuy nhiên, vào ngày rút quân khỏi Cambodia đã được thông báo trước đó, Thượng viện đã thông qua dự luật sửa đổi Cooper-Church, cuộc bỏ phiếu hạn chế đầu tiên từng được tiến hành đối với một tổng thống trong thời chiến. Nixon viết: “Cốt lõi là nó yêu cầu tôi rút toàn bộ quân đội Mĩ khỏi Cambodia trước ngày 1/7. Ý nghĩa biểu tượng của việc định thời điểm bỏ phiếu cũng nghiêm trọng không kém bản thân hành động vô nghĩa đó, vì tất cả người Mĩ đã rời khỏi Cambodia rồi.”[108]

Ngày 7/9, Kissinger gặp gỡ phía Bắc Việt lần đầu tiên kể từ khi chiến dịch Cambodia diễn ra. Như Kissinger đã ghi trong cuốn sách của mình, đó là “một tuần sau khi chúng ta vượt qua được dự luật sửa đổi McGovern-Hatfield,” vốn sẽ đặt ra thời hạn chót rút quân của Mĩ vào ngày 31/12/1971, đồng thời cho phép tổng thống gia hạn thêm 60 ngày trong trường hợp khẩn cấp. Mặc dù dự luật sửa đổi này đã bị bác bỏ, Kissinger cho rằng việc 39 nghị sĩ bỏ phiếu ủng hộ nó, và việc nó được đưa ra lại nhiều lần, đã tạo cho phe cộng sản “một động lực khác để không đàm phán.”[109]

Tuy nhiên, Kissinger không gặp phải chỉ trích nào tại cuộc họp ngày 7/9. Thế nhưng, ông sớm nhận ra rằng chẳng có gì thay đổi. Xuân Thuỷ thậm chí còn “đã bác bỏ việc chúng ta bổ nhiệm David Bruce làm nhà đàm phán cấp cao, bất chấp thực tế là tại mỗi cuộc họp vào tháng 2 và tháng 3, Lê Đức Thọ đã chỉ trích chúng tôi vì đã không thay Henry Cabot Lodge bằng một người có cùng tầm cỡ.”[110] Ngày 17/9, bà Nguyễn Thị Bình đã trình bày chương trình  hoà bình 8 điểm tại Paris, nói vắn tắt có nghĩa là Hoa Kì rút quân hoàn toàn và vô điều kiện trong vòng 9 tháng, bắt đầu ngay lập tức, loại bỏ Chính phủ Thiệu-Kỳ-Khiêm và thành lập một chính phủ lâm thời do cộng sản chi phối, chính phủ này sẽ “đàm phán với phía Cộng sản để quyết định tương lai của Nam Việt.”[111] Ngày 27/9, Kissinger đã gặp Xuân Thuỷ, ông này đã đưa ra kế hoạch riêng của mình về việc quân đội Mĩ rút đi, ngừng bắn giữa Hoa Kì và lực lượng cộng sản nhưng không phải với lực lượng Nam Việt, và việc loại bỏ Thiệu-Kỳ-Khiêm, một công thức mà Kissinger cho là “đầu hàng vô điều kiện và đào ngũ chính trị.” Tuy nhiên, vào ngày 7/10/1970, tổng thống Nixon đã có bài phát biểu trình bày “một chương trình toàn diện hoàn toàn có thể được dùng làm cơ sở cho đàm phán, trừ khi với đối thủ quyết tâm giành chiến thắng hoàn toàn.” Chương trình đó bao gồm:

  • Đề nghị một thỏa thuận ngừng bắn tại chỗ, bao gồm việc Mĩ ngừng ném bom trên khắp Đông Dương.
  • Đề xuất một hội nghị hoà bình để chấm dứt các cuộc chiến tranh ở tất cả các nước Đông Dương.
  • Thể hiện sự sẵn sàng đàm phán một lịch trình được thống nhất cho việc rút toàn bộ lực lượng Mĩ, trong bối cảnh rút quân song phương.
  • Mời Hà Nội tham gia một dàn xếp chính trị dựa trên ý chí của nhân dân Nam Việt.
  • Đề nghị tuân thủ kết quả của tiến trình chính trị đã được thỏa thuận nhưng bác bỏ yêu cầu “rõ ràng là vô lí” về việc giải tán các lực lượng không cộng sản có tổ chức.
  • Kêu gọi cả hai phía cùng thả tất cả tù binh chiến tranh.[112]

Bài phát biểu của tổng thống nhận được sự tán dương gần như của toàn bộ Quốc hội và báo chí, nhưng Xuân Thuỷ đã bác bỏ đề xuất chứa các điểm này ngay ngày hôm sau. Sự chỉ trích trong nước đối với chính quyền lại bắt đầu tăng lên, đặc biệt là sau cuộc đột kích giải cứu các tù binh Mĩ ở Sơn Tây không hiệu quả. Một yêu cầu đã được đưa ra về việc Mĩ đơn phương ngừng bắn ở Việt Nam.[113]

Kissinger tin rằng đến cuối năm 1970, có nguy cơ “chiến lược Việt Nam của chúng ta sẽ biến thành cuộc tranh luận về tốc độ rút quân đơn phương.” Áp lực ngân sách từ Quốc hội và yêu cầu chính trị phải cắt giảm số lượng binh lính nhập ngũ đã khiến tổng thống không thể giữ được sự linh hoạt mà ông mong muốn trong việc tiến hành rút quân.

Khi số lượng binh lính Mĩ ở Nam Việt giảm dần, người Việt Nam buộc phải giảm quân số ở Cambodia, do đó khiến cho việc tái thiết lập các cứ điểm của cộng sản ở đó trở nên ít khó khăn hơn. Kissinger viết rằng ông và tổng thống đã vạch ra một chiến lược thực tế hơn về việc rút quân Mĩ, tăng cường nhanh chóng lực lượng Nam Việt và làm suy yếu dần kẻ thù. “Chiến lược… về cơ bản đã được thực hiện vào năm 1971 và 1972. Và nó đã có hiệu quả. Chúng tôi đã rút toàn bộ lực lượng của mình chỉ trong hơn một năm tính từ ngày được chọn trong dự luật sửa đổi McGovern-Hatfield. Và chúng tôi đã hoàn thành việc này mà không lật đổ một chính phủ đồng minh nào.” Ông tóm tắt phần còn lại của câu chuyện trong một chú thích: “Tình cảnh duy nhất mà chúng tôi không thể lường trước được là vụ bê bối Watergate. Chính điều đó cuối cùng đã định đoạt số phận của Nam Việt do quyền hành pháp bị xói mòn, Nam Việt bị bóp nghẹt bằng việc cắt giảm viện trợ trên diện rộng và những cấm đoán được luật hóa đối với việc thi hành thỏa thuận  hoà bình trước những hành vi vi phạm vô cớ của Bắc Việt.”[114]

Ngày 6/3/1970, tại Key Biscayne, Nhà Trắng đã công bố tuyên bố của tổng thống mang tên “Phạm vi can dự của Mĩ tại Lào.” Tuyên bố này phác họa “tình hình vô cùng bấp bênh ở Lào” mà chính quyền đã kế thừa và khuôn khổ của nó “đã được thiết lập bởi các thỏa thuận năm 1962 do chính quyền Kennedy kí kết.” Tuyên bố mô tả hồ sơ không tuân thủ các thỏa thuận đó của phía cộng sản và sự hiện diện của khoảng 67 000 quân Bắc Việt tại Lào vào thời điểm đó. Tuyên bố nêu rõ việc phe cộng sản sử dụng tuyến đường tiếp tế Hồ Chí Minh để đưa vũ khí và người vào Nam Việt và việc làm suy yếu và lật đổ Chính phủ Hoàng gia Lào “… nhằm ngăn cản chính phủ can thiệp vào việc Bắc Việt sử dụng lãnh thổ Lào và mở đường cho việc thành lập một chính phủ dễ bị kiểm soát hơn bởi phe cộng sản.”

Trong tuyên bố của mình, tổng thống đã nêu rõ chính sách của ông như sau:

  • Nỗ lực cứu mạng sống người Mĩ và đồng minh ở Nam Việt bằng các cuộc không kích “đã phá huỷ vũ khí và vật tư trong 4 năm qua, nếu không có chúng thì hàng ngàn người Mĩ đã thiệt mạng.”
  • Ủng hộ nền độc lập và trung lập của Lào như đã nêu trong Hiệp định Geneva năm 1962… theo yêu cầu của Chính phủ hợp pháp Souvanna Phouma, chính phủ mà Bắc Việt đã giúp thành lập…
  • Hành động tại Lào “nhằm tạo điều kiện cho tiến trình hướng tới hoà bình trên toàn bán đảo Đông Dương.”

Nixon chỉ ra rằng những gì Hoa Kì đã làm ở Lào “có liên quan trực tiếp đến việc Bắc Việt Nam vi phạm các thỏa thuận.” Gần cuối tuyên bố của mình, ông nói: “Chúng tôi không mong muốn gì hơn ở Lào ngoài việc thấy sự trở lại của Hiệp định Geneva và việc Bắc Việt rút quân, để người dân Lào tự giải quyết những khác biệt của họ một cách  hoà bình.”[115]

Trong bối cảnh đó, Kissinger viết rằng việc theo đuổi chiến lược mà ông và tổng thống đã vạch ra để rút quân Mĩ khỏi Việt Nam đã “dẫn chúng ta đến chiến dịch Lào năm 1971.”[116] Một phân tích về triển vọng quân sự và chính trị trong hai năm tiếp theo, mà ông yêu cầu “các chuyên gia trong chính phủ và trong đội ngũ của tôi” thực hiện vào cuối năm 1970, đã dẫn ông đến hai kết luận.

  • “Phải ngăn chặn kẻ thù chiếm đóng Cambodia và Lào nếu muốn Việt Nam hóa có cơ hội thành công.”
  • “Và việc tăng cường hậu cần mùa khô của kẻ thù sẽ phải bị làm chậm lại, hoặc nếu có thể thì làm gián đoạn.”

Những kết luận này cho thấy tính hữu ích của một cuộc tấn công mùa khô của quân đồng minh, với việc các binh sĩ Mĩ còn lại đảm nhận các chức năng an ninh tĩnh và do đó quân đội Nam Việt được rảnh tay cho các hoạt động tấn công. Kissinger lần đầu tiên nghĩ đến một chiến dịch như vậy liên quan đến Cambodia nhưng hành động ở khu vực đó sẽ không trực tiếp giải quyết mối nguy hiểm quan trọng nhất: “một cuộc tấn công có thể xảy ra của Bắc Việt ở Cao nguyên Trung Bộ và xuyên qua Khu phi quân sự.” Bunker, Abrams và Thiệu đề xuất “một ý tưởng táo bạo hơn nhiều” so với Kissinger, ý tưởng này sẽ giải quyết mối quan ngại chiến lược then chốt. “Họ đề xuất giải quyết việc tăng cường hậu cần của kẻ thù trong một đòn duy nhất bằng cách cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào gần Khu phi quân sự.”[117]

Tướng Westmoreland, trong cuốn sách của mình, đã viết rằng sau khi Sihanoukville đóng cửa đối với quân cộng sản, các cuộc ném bom vào các kho tiếp tế của cộng sản và việc phong tỏa bờ biển bằng đường biển để ngăn chặn sự xâm nhập, “Bắc Việt gần như phải phụ thuộc hoàn toàn vào Đường mòn Hồ Chí Minh” và việc tấn công đường mòn này rõ ràng là bước tiếp theo cần thiết đến mức Bắc Việt đã lường trước và chuẩn bị để đối phó. Ông cho rằng kế hoạch này lẽ ra nên được thực hiện 2 năm trước đó khi MACV với các kế hoạch chuẩn bị sẵn, đang ở thời kì sức mạnh ở đỉnh cao.[118]

Tướng Abrams cho rằng “nếu Đường mòn Hồ Chí Minh có thể bị ngăn chặn đối với Cộng sản, hoặc bị gián đoạn hiệu quả dù chỉ trong một mùa khô, thì khả năng phát động các chiến dịch tấn công lớn của Hà Nội ở miền Nam (và Cambodia) sẽ bị hạn chế đáng kể, nếu không phải là bị loại bỏ, trong một tương lai không xác định.” Để đạt được mục tiêu này, Abrams đã đề xuất một kế hoạch táo bạo.[119]

Kissinger viết rằng Nixon quyết tâm để các quan chức chủ chốt trong Nội các của mình tham gia vào mọi khía cạnh của quá trình ra quyết định lần này để họ chia sẻ phần nào áp lực từ phản ứng chỉ trích của công chúng. Ông viết rằng Nixon đã khéo léo bày ra trước ngoại trưởng Rogers một “mặt trận thống nhất của tất cả các đồng nghiệp”. Rogers ủng hộ kế hoạch do bộ trưởng Laird trình bày, “sau khi tự trấn an mình rằng sẽ không có sự gia tăng đáng kể về thương vong,” nhưng “nhấn mạnh rằng điều quan trọng là chiến dịch phải thành công.” Tuy nhiên, theo lời Kissinger, “sự đồng thuận của chính phủ… bắt đầu tan biến ngay khi Rogers phải đối mặt với sự phản đối kịch liệt từ các chuyên gia của mình.” Đến ngày 21/1, rõ ràng là Bộ Ngoại giao đang trì hoãn. Tại các cuộc họp của WSAG (Nhóm Hành động Đặc biệt Washington [Washington Special Action Group]), thứ trưởng Alex Johnson bắt đầu đưa ra những phản đối dù không thách thức quyết định nhưng sẽ trì hoãn việc thực hiện nó vô thời hạn – một thủ đoạn bàn giấy mà ông ta cực kì khéo léo. Cách thức trì hoãn là nhất quyết đòi có sự chấp thuận trước của thủ tướng Lào, Souvanna Phouma.[120] Kissinger viết rằng Souvanna Phouma không có ý định đưa ra bất kì điều gì nhiều hơn sự đồng thuận ngầm vì sợ chọc giận phía Bắc Việt, đồng thời cũng không phải phản đối chiến dịch. Kissinger tin rằng Bộ Ngoại giao đang trì hoãn và “những phản đối của họ vượt ra ngoài phạm vi thủ tục.”

Trong một cuộc họp giữa tổng thống với Rogers, Laird, Helms, Moorer, Haig và Kissinger, ngoại trưởng Rogers lập luận rằng rủi ro của chiến dịch là quá lớn:

Kẻ thù đã có tin tình báo về kế hoạch của chúng ta. Một trận chiến là điều chắc chắn. Chúng ta đang yêu cầu Nam Việt tiến hành một chiến dịch mà chúng ta đã từ chối thực hiện khi có 500 000 quân ở Việt Nam vì chúng ta nghĩ rằng mình chưa đủ mạnh. Nếu Sài Gòn bị đẩy lùi, chúng ta sẽ có nguy cơ đánh mất tất cả những thành quả của năm trước và có thể làm lung lay vị thế của Thiệu trong quá trình đó.

Tổng thống không hề nao núng và, bất chấp những lời chỉ trích từ báo chí và Quốc hội do những rò rỉ từ các cuộc họp báo chính thức gây ra, đã ra lệnh tiến hành chiến dịch Lam Sơn 719.[121] Theo lời Kissinger, nó “không đạt được kì vọng của chúng tôi.”[122]

Tướng Westmoreland ghi nhận trong cuốn sách của mình rằng quân đội Nam Việt ban đầu đạt được những thắng lợi nhanh chóng trong chiến dịch Lam Sơn 719, tiến sâu tới 25 km vào lãnh thổ Lào và đạt được tất cả các mục tiêu đã định trước khi quân đội Bắc Việt bắt đầu phản công dữ dội. Trong cuộc rút lui cần thiết sau đó, những điểm yếu trong công tác chuẩn bị của quân đội Nam Việt đã bộc lộ. Cơ cấu chỉ huy không vững chắc và việc lập kế hoạch được thực hiện quá vội vàng. Sự vắng mặt của các cố vấn Mĩ, những người mà các chỉ huy VN đã quen thuộc, Điều này khiến một số chỉ huy “bỏ cuộc” và Thiệu phải cố ra lệnh xuống tận cấp trung đoàn.[123]

Kissinger viết “Từ đầu đến cuối chiến dịch ở Lào, không dưới 5 nghị quyết của Quốc hội đã được đưa ra, nhằm mục đích hạn chế quyền quyết định của tổng thống trong việc tiến hành các hoạt động quân sự, cấm chi tiêu cho chiến đấu ở Cambodia và Lào (điều mà tất cả các nghiên cứu của chúng tôi đều chỉ ra là rất quan yếu đối với cuộc chiến ở Việt Nam), hoặc ấn định ngày rút quân vô điều kiện.” Nói một cách nhẹ nhàng, “áp lực từ cả truyền thông và Quốc hội đều leo thang” sau khi rút quân khỏi Lào. “Từ ngày 1/4 đến ngày 1/7, đã có 17 cuộc bỏ phiếu tại Hạ viện hoặc Thượng viện nhằm hạn chế quyền hạn của tổng thống trong việc tiến hành chiến tranh hoặc ấn định ngày rút quân đơn phương [tổng cộng là 22 cuộc bỏ phiếu trong năm].” Bản Tuyên bố của nghị sĩ Mansfield về Nghị quyết Thượng viện, được thông qua với tỉ lệ 57-42 vào ngày 22/6, tuyên bố “chính sách của Hoa Kì là chấm dứt tất cả các hoạt động quân sự ở Đông Dương vào thời điểm sớm nhất có thể và đảm bảo việc rút quân nhanh chóng và sớm của tất cả các lực lượng Hoa Kì không quá 9 tháng sau khi dự luật được ban hành, với điều kiện là phải thả các người Mĩ… [tù binh chiến tranh].”[124] Các cuộc biểu tình phản chiến ở Washington diễn ra vào tháng 4 và tháng 5, bao gồm cả cuộc biểu tình vào Ngày Quốc tế Lao động nhằm “làm tê liệt chính phủ.”

Để chuẩn bị cho việc nối lại các cuộc đàm phán bí mật ở Paris, Kissinger đã soạn thảo một kế hoạch  hoà bình 7 điểm mới mà Nixon đồng ý trình bày như một “đề xuất cuối cùng.” Kế hoạch này đề xuất việc Mĩ đơn phương rút quân với điều kiện đạt được thỏa thuận về các vấn đề khác. Đề xuất này, mà Kissinger cho rằng đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách ngoại giao của Mĩ tại Việt Nam, thể hiện cách tiếp cận mà ông đã đề xuất trong bài báo trên “Foreign Affairs” năm 1968.[125] Thiệu đã chấp nhận nó vào năm 1971 và người ta cho rằng ông vẫn sẽ hoan nghênh nó vào năm 1972. Xuân Thuỷ dường như rất muốn duy trì thảo luận về đề xuất này. Vào ngày 22/6, Thượng viện đã thông qua với tỉ lệ 57-42 dự luật sửa đổi Mansfield “kêu gọi Tổng thống rút toàn bộ lực lượng Mĩ khỏi Việt Nam trong vòng 9 tháng nếu Hà Nội đồng ý thả tất cả tù binh của chúng ta.” Kissinger cho rằng hành động này đã khiến 5 trong số 7 điểm của các cuộc đàm phán bí mật trở nên không còn ý nghĩa. Ngày 26/6, Kissinger gặp lại Lê Đức Thọ. Lê Đức Thọ trình bày một đề xuất 9 điểm, dường như dựa trên dự luật sửa đổi McGovern-Hatfield và sửa đổi Mansfield; “Lần đầu tiên Hà Nội trình bày các ý tưởng của mình như một văn kiện đàm phán chứ không phải là một tập hợp các yêu cầu áp đặt.” Kissinger dự kiến sẽ đưa ra một phản đề xuất vào ngày 12/7 “tìm cách kết hợp văn kiện của Hà Nội và của chúng ta.” Tuy nhiên, vào ngày 1/7, bà Bình “đã công bố một kế hoạch 7 điểm mới, một phần trùng lặp với 9 điểm của Lê Đức Thọ, nêu rõ chi tiết hơn một số điểm, bỏ qua một số điểm khác và thêm một số điểm mới.” Kissinger nhận thấy kế hoạch của bà Bình “được khéo léo thiết kế hướng vào cuộc tranh luận công khai của Mĩ,” và lưu ý rằng phía Bắc Việt đã đưa ra một số “cuộc phỏng vấn lừa mị với những người Mĩ phản chiến nổi tiếng.” “Quốc hội và giới truyền thông đều đồng ý rằng chính quyền đang bỏ lỡ một cơ hội  hoà bình chưa từng có.” Đồng thời, “Chúng tôi bị hạn chế không thể chứng minh rằng ‘sự tình cờ’ đó là giả mạo và không ăn khớp với toàn bộ hồ sơ bí mật – và công khai – về các cuộc đàm phán.”[126]

Kissinger gặp lại Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ vào ngày 12/7 và bất chấp những chiến thuật thường thấy của Bắc Việt, cuộc gặp gỡ đã trở thành một phiên đàm phán thật sự. Kissinger tin rằng nó đã “thu hẹp những khác biệt xuống còn một vấn đề – việc dàn xếp chính trị ở Sài Gòn.” Tuy nhiên, tại cuộc gặp tiếp theo vào ngày 26/7, họ vẫn khăng khăng đòi chúng ta loại bỏ Thiệu.[127]

Tiếp theo, Kissinger đề xuất, với sự đồng ý của Thiệu, rằng có thể tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống mới ở Nam Việt trong vòng 6 tháng kể từ khi thỏa thuận cuối cùng được kí kết. Cuộc bầu cử sẽ do một uỷ ban bầu cử đại diện cho tất cả các lực lượng chính trị, bao gồm cả cộng sản, điều hành dưới sự giám sát quốc tế. Một tháng trước cuộc bầu cử, tổng thống Thiệu sẽ từ chức và chức vụ của ông sẽ được chủ tịch thượng viện đảm nhiệm. Vào thời điểm đó, lực lượng Mĩ nhỏ còn lại sẽ được rút đi. Chúng ta cũng sẽ rút ngắn thời hạn rút quân từ 9 tháng xuống còn 7 tháng. Nixon đã chấp thuận và đề xuất này được trao cho phía Bắc Việt tại Paris vào ngày 11/10. Họ đề xuất một cuộc họp vào ngày 17/11, nhưng sau đó nói rằng Lê Đức Thọ không thể tham dự. Kissinger nhận xét rằng “phía Bắc Việt, trong giai đoạn cuối của việc lập kế hoạch cho cuộc tấn công quân sự lớn năm 1972, đang dồn toàn bộ năng lượng vào một cuộc thử sức cuối cùng.”[128] Kissinger cho rằng “yếu tố đơn lẻ lớn nhất” gây ra sự ngoan cố của Hà Nội là sự chia rẽ ở Mĩ khiến họ tin rằng họ “không thể làm gì tệ hơn một thỏa thuận rút quân đổi lấy tù binh.” Ông cho rằng chỉ có sự kết hợp giữa tuyên bố của Trung Quốc, vốn đã làm lu mờ chiến lược 7 điểm của bà Bình, và tuyên bố của Liên Xô vào ngày 12/10 về hội nghị thượng đỉnh của Nixon tại Moscow, mới ngăn chặn được sự đổ vỡ hoàn toàn của các cuộc đàm phán. Cuối cùng, tổng thống Nixon đã công bố biên bản các cuộc đàm phán trước người dân Mĩ vào ngày 25/1/1972.[129]

Trong một thời gian, khoảng một tuần, phản ứng trước việc tiết lộ hồ sơ và ý định của chính quyền đã nhận được phản hồi tích cực từ giới truyền thông.[130] Kissinger nhận thấy Bắc Việt đã bị “mất phương hướng” và “ở thế phòng thủ.” Ông cũng nhận thấy rằng:

… theo bất kì tiêu chuẩn thông thường nào, chính sách của chúng ta đối với Việt Nam vào đầu năm 1972 là một thành công đáng kể. Chúng ta đã rút hơn 140 000 quân trong khi cải thiện vị thế quân sự của một đồng minh. Chúng ta đã cô lập Hà Nội về mặt ngoại giao khỏi các nguồn ủng hộ chính của nước này. Trong nước, chúng ta đã chống chọi được cuộc tấn công dữ dội nhất vào chính sách của chính phủ trong thế kỉ này. Chúng ta đã làm tất cả những điều này trong khi hoàn thành trách nhiệm toàn cầu của mình bằng cách giữ vững nguyên tắc không bỏ rơi đồng minh và trao những người dân thân thiện cho đàn áp.[131]

Ông nghĩ rằng nếu chúng ta có thể vượt qua cuộc tấn công dự kiến của cộng sản ở Việt Nam, “Tổng thống sẽ đến Bắc Kinh và Moscow với hi vọng rằng chúng ta có thể bắt đầu xây dựng một trật tự quốc tế mới.”[132]

Cuộc xâm lấn diễn ra vào ngày 30/3/1972. Nixon coi đó là một hành động tuyệt vọng của Bắc Việt và ra lệnh chuẩn bị cho một cuộc ném bom quy mô lớn ở miền Bắc để trả đũa.[133] Ba sư đoàn Bắc Việt Nam tràn qua khu phi quân sự (DMZ) được yểm trợ bởi hơn 200 xe tăng và một số lượng lớn pháo không giật 130mm mới, tất cả đều do Liên Xô cung cấp. Các đơn vị khác đã được bố trí để xâm lấn vùng Bắc Nam Việt từ Lào dọc theo đường 9 [Nam Lào]. Lực lượng cộng sản đang tập trung ở Tây Nguyên và 3 sư đoàn Bắc Việt khác đang tiến vào Quân khu 3, nơi có Sài Gòn. “Cái cớ rằng cuộc xung đột ở Việt Nam là một ‘cuộc chiến tranh nhân dân,’ một cuộc nổi dậy du kích ở miền Nam, đã chấm dứt; đây là một cuộc xâm lấn của Quân đội Chính quy Bắc Việt với quy mô sư đoàn.”[134]

Các cuộc không kích được tổng thống cho phép nhằm vào các cứ điểm quân sự ở Bắc Việt (trong vòng 25 dặm quanh khu phi quân sự) đã bị cản trở bởi thời tiết xấu, dẫn đến nhiều lần huỷ bỏ, nhưng theo Kissinger, “Bất kể kết quả của cuộc tấn công ra sao, nó cũng có thể kết thúc chiến tranh. Đây là nước cờ cuối cùng của Hà Nội. Dù bằng cách nào đi nữa thì giờ đây sẽ có những cuộc đàm phán nghiêm túc.” Việc ngăn chặn sự sụp đổ của Nam Việt rất quan trọng để tránh những hậu quả thảm khốc đối với các vị thế đàm phán rộng hơn với Liên Xô và Trung Quốc cũng như đối với mối quan hệ của Hoa Kì với các đồng minh của mình.[135]

Nói tóm lại, Tướng Abrams, dự đoán được cuộc tấn công của cộng sản, đã yêu cầu được phép phá vỡ các hoạt động của cộng sản bằng các cuộc không kích. Nhà Trắng lo ngại việc nối lại các cuộc tấn công sẽ cản trở chuyến đi của tổng thống đến Bắc Kinh; Bộ Ngoại giao cho rằng điều đó sẽ phá hỏng triển vọng đàm phán. Bộ Quốc phòng không muốn tốn kém chi phí cho việc đó. Việc rút quân tiếp tục diễn ra trong khi sức mạnh không quân được tăng cường. “Bằng cách đe dọa trả đũa nghiêm trọng nếu Hà Nội thách thức chúng ta, chúng ta đã cố gắng hết sức để làm tăng sự lo lắng của Moscow và Bắc Kinh.” Trong các cuộc liên lạc qua “kênh riêng”, Bắc Kinh ít nhiều đã tách mình khỏi vấn đề này và “sự ủng hộ vật chất của họ rất hạn chế do nguồn lực có hạn.” Kissinger đã nhiều lần cảnh báo Dobrynin rằng hội nghị thượng đỉnh Moscow sẽ bị đe dọa nếu Hà Nội tìm cách “cưỡng ép một quyết định quân sự.” Hà Nội đã trả lời yêu cầu của chúng ta về một cuộc gặp khác với Lê Đức Thọ bằng một “giọng điệu  hoà giải quá mức” khác hẳn với thông lệ trước đây và mâu thuẫn với các hoạt động chuẩn bị quân sự của họ đến mức Kissinger sau này cho rằng chúng tôi lẽ ra phải nhận ra rằng Hà Nội đang “hướng việc nối lại đàm phán tới việc định thời điểm của cuộc tấn công sắp tới của họ.”[136]

Khi cuộc tấn công bắt đầu, một số nhân viên dân sự trong Bộ Quốc phòng, “phần lớn Bộ Ngoại giao” và các chuyên gia phân tích hệ thống cho rằng nó nên được coi là “cuộc thử nghiệm cuối cùng của chính sách Việt Nam hóa, tăng cường khả năng tự vệ của Nam Việt nhưng không tăng nỗ lực của chúng ta.” Tuy nhiên, cả Nixon lẫn Kissinger đều không muốn có phản ứng thụ động như vậy. Kissinger cho rằng “nếu chúng ta đánh bại được cuộc tấn công, chúng ta sẽ đạt được một thỏa thuận  hoà bình.” “Trước sự phản đối mạnh mẽ của bộ máy bàn giấy,” Nixon “đã ra lệnh tăng cường liên tục lực lượng không quân và hải quân của chúng ta ở Đông Nam Á. Ông đã dỡ bỏ mọi hạn chế về ngân sách đối với các cuộc không kích. Ông chỉ đạo các cuộc tấn công hải quân kéo dài 25 dặm dọc theo bờ biển Bắc Việt.”[137] Bao gồm một cuộc tấn công vào các kho tiếp tế gần Vinh, cách khu phi quân sự khoảng 150 dặm về phía bắc, “lần đầu tiên chính quyền Nixon sử dụng máy bay B-52 ở Bắc Việt,”[138] và sau đó, vào cuối tuần ngày 15-16/4, “một cuộc tấn công dữ dội kéo dài 2 ngày bằng máy bay B-52 vào các kho nhiên liệu ở khu vực Hà Nội-Hải Phòng cùng với một cuộc bắn phá bờ biển bằng pháo hải quân.”[139] Không điều nào trong số này khiến Liên Xô huỷ chuyến đi của Kissinger đến Moscow và ông đã đến đó vào ngày 20/4 để chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh Nixon-Brezhnev.[140]

Ngày 26/4, trong một bài phát biểu trên truyền hình, Nixon đã thông báo về kế hoạch rút quân 20 000 người;[141]

Đến ngày 1/7, chúng ta sẽ rút hơn 90% lực lượng đã đóng Việt Nam năm 1969. Trước khi cuộc xâm lược của địch bắt đầu, chúng ta đã giảm một nửa số chuyến bay không kích. Chúng ta đã đưa ra những điều khoản  hoà bình vô cùng hào phóng. Điều duy nhất chúng ta từ chối không làm là chấp nhận đòi hỏi của địch muốn lật đổ Chính phủ Nam Việt được thành lập hợp pháp và thiết lập chế độ độc tài Cộng sản thay vào.[142]

Ngày 1/5, quân cộng sản chiếm được thủ phủ tỉnh Quảng Trị, gây thương vong nặng nề cho quân đội và dân thường Nam Việt.[143]

Trong cuộc họp bí mật ngày 22/5 tại Paris, Lê Đức Thọ nói về cuộc tấn công “chỉ đơn giản là đọc cho tôi nghe lập trường công khai của Hà Nội mà không giải thích, sửa đổi hay cố gắng đàm phán.” Kissinger kết luận rằng “Giờ đây không còn nghi ngờ gì nữa rằng chúng ta sẽ phải có một cuộc đối đầu. Xương sống cuộc tấn công của Bắc Việt phải bị phá vỡ về mặt quân sự… Moscow rõ ràng không thể hoặc không muốn tác động đến các quyết định của Hà Nội cho đến khi kết quả của cuộc tấn công được làm rõ.”[144]

Ngày 8/5, trong bài phát biểu trên truyền hình toàn quốc, Nixon đã mô tả tình hình quân sự và bế tắc trong các cuộc đàm phán, đồng thời tuyên bố rằng ông đã ra lệnh:

  • Thả thuỷ lôi tại cảng Hải Phòng và tất cả các cảng khác của Bắc Việt (thuỷ lôi sẽ được kích hoạt vào ngày 11/5).
  • Phong tỏa Bắc Việt.
  • Tăng cường ném bom vào đường sắt và các tuyến giao thông khác.
  • Tiếp tục các cuộc tấn công trên không và trên biển nhằm vào các mục tiêu quân sự ở phía Bắc.[145]

Ông cũng đưa ra một đề xuất  hoà bình mới, trở thành điểm tham chiếu cho các điều khoản của thỏa thuận cuối cùng vào tháng Giêng năm sau:

Thứ nhất, tất cả tù binh chiến tranh người Mĩ phải được trả về.

Thứ hai, cần phải có một cuộc ngừng bắn được quốc tế giám sát trên toàn Đông Dương. Sau khi tù binh chiến tranh được thả, sau khi việc ngừng bắn được quốc tế giám sát bắt đầu, chúng ta sẽ ngừng mọi hành động vũ lực trên toàn Đông Dương và vào thời điểm đó, chúng ta sẽ tiến hành rút toàn bộ lực lượng Mĩ khỏi Việt Nam trong vòng 4 tháng.

Đây là những điều khoản hào phóng. Chúng là những điều khoản không đòi hỏi sự đầu hàng và sỉ nhục từ bất kì ai… Chúng xứng đáng được Bắc Việt chấp nhận ngay lập tức.[146]

Kissinger nhận xét:

Trên thực tế, các điều khoản được đưa ra là những điều khoản dễ dàng nhất mà chúng tôi từng đề xuất: ngừng bắn, thả tù binh và quân Mĩ rút quân hoàn toàn trong vòng 4 tháng. Thời hạn rút quân là ngắn nhất từ trước đến nay. Đề nghị ngừng bắn tại chỗ hàm ý rằng việc ném bom của Mĩ sẽ dừng lại và Hà Nội có thể giữ lại tất cả những thắng lợi đạt được trong cuộc tấn công của mình. Chúng ta cam kết rút quân hoàn toàn để đổi lấy việc ngừng bắn và việc trả tự do cho tù binh của chúng ta.[147]

Ông viết rằng “Vào lúc đó, những lời giải thích và tín hiệu đã bị lấn át bởi sự phẫn nộ của Quốc hội và giới truyền thông,” và rằng “Nếu những người chỉ trích chú ý hơn đến thực tế và ít hơn đến sự phẫn nộ cá nhân, họ sẽ nhận thấy rằng phản ứng của phía Cộng sản kiềm chế hơn nhiều so với phản ứng của họ,”[148] “Hội nghị thượng đỉnh đã diễn ra. Cuộc khủng hoảng đó đã kết thúc.”[149]

Cuộc tấn công của Hà Nội dừng lại và các cuộc đàm phán được nối lại trong phiên họp toàn thể vào ngày 13/7 và trong một cuộc họp riêng vào ngày 19/7. Một số khác biệt bắt đầu xuất hiện giữa người Mĩ và tướng Thiệu. Những khác biệt này “nằm ở những sắc thái, ở những gợi ý mà chúng tôi không nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa.”[150] Đồng thời, có “những chuyển biến đáng kể” từ phía Hà Nội và Kissinger nghĩ rằng “Chúng ta đã tiến gần hơn đến một giải pháp đàm phán hơn bao giờ hết.”[151] Thiệu trở nên khó tính hơn về một số văn kiện đàm phán. Kissinger nghĩ rằng Thiệu hoàn toàn đúng khi muốn thuyết phục người dân của mình rằng “Một thỏa thuận không phải là một thất bại cũng không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định nội bộ của Nam Việt,” nhưng nhận thấy “phong cách đàm phán khó chịu của Thiệu đã tước đi của chúng ta bất kì hiểu biết thật sự nào về suy nghĩ của ông ấy.” Cuối cùng, ông hiểu ra rằng “Thiệu và chính phủ của ông ấy đơn giản là chưa sẵn sàng cho một nền  hoà bình qua đàm phán.”[152]

Trong một cuộc họp vào ngày 8/10, “sau 4 năm kiên quyết đòi chúng ta phải giải tán cấu trúc chính trị của đồng minh và thay thế bằng một chính phủ liên minh, Hà Nội về cơ bản đã từ bỏ các đòi hỏi chính trị của mình.”[153] “Và như vậy, cuối cùng Hà Nội đã tách biệt các vấn đề quân sự và chính trị, điều mà tôi đã thúc giục gần 4 năm trước đó như là cách tốt nhất để giải quyết. Họ đã chấp nhận đề xuất ngày 8/5 của Nixon và thừa nhận rằng Chính phủ Nam Việt không cần phải bị lật đổ như một cái giá của việc ngừng bắn. Sau khi phớt lờ đề nghị của chúng tôi về một cuộc bầu cử tổng thống, Hà Nội thậm chí còn loại bỏ sự cần thiết phải rút quân tạm thời của Thiệu trước đó. Đòi hỏi về chính phủ liên minh đã bị loại bỏ; cấu trúc chính trị của Nam Việt được để cho người Việt Nam tự giải quyết.”[154] Kissinger đã chọn “chấp nhận kế hoạch của Lê Đức Thọ về nguyên tắc và ngay lập tức tiến hành đàm phán để cải thiện nó thêm.”[155]

Vẫn còn đó câu hỏi về phản ứng của Thiệu và Tổng thống lo ngại về khả năng ông ta sẽ phản đối. Kissinger gặp Thiệu vào ngày 18/10 và trao cho ông một bức thư từ Nixon thông báo rằng “… chúng ta không có lựa chọn hợp lí nào khác ngoài việc chấp nhận thỏa thuận này.” Ông cũng mang theo một ghi chú viết tay của Nixon có nội dung: “Tiến sĩ Kissinger, tướng Haig và tôi đã thảo luận rất kĩ về đề xuất này. Cá nhân tôi tin chắc rằng đây là điều tốt nhất chúng ta có thể đạt được và nó đáp ứng điều kiện tuyệt đối của tôi – rằng Chính phủ Việt Nam Cộng  hoà phải tồn tại như một quốc gia tự do. Nhận xét của tiến sĩ Kissinger được tôi ủng hộ.”[156] Thiệu đã trì hoãn một cách khéo léo vì điều mà phía Mĩ mô tả là “không muốn cắt đi dây rốn” với Hoa Kì do ông thiếu tự tin rằng chính phủ của mình có thể chống lại những người cộng sản một mình.[157] Như Kissinger đã nói, “Thiệu tìm kiếm chiến thắng hoàn toàn; còn chúng tôi, một thỏa hiệp danh dự. Đến tháng 10/1972, hai lập trường này không thể dung  hoà được.”[158]

Sau nhiều cuộc thảo luận ở Sài Gòn, Paris và Washington, trong đó thái độ phía Bắc Việt cũng trở nên rất khó khăn một lần nữa nhằm khai thác “sự chia rẽ giữa Washington và Sài Gòn, sự phân hóa rõ ràng trong chính phủ của chúng ta, và sự trở lại sắp tới của một Quốc hội thậm chí còn thù địch với chính quyền hơn cả tiền nhiệm,” Kissinger nghĩ rằng “Hà Nội trên thực tế đã đưa ra một quyết định chiến lược là kéo dài chiến tranh, huỷ bỏ mọi cuộc đàm phán, và vào phút cuối cùng tìm kiếm chiến thắng vô điều kiện một lần nữa.”[159] Thay vào đó, họ phải hứng chịu “Cuộc ném bom Giáng sinh”, bắt đầu từ ngày 18/12 và kéo dài trong 12 ngày. Về phần mình, Thiệu nhận được một số thông điệp cứng rắn từ Nixon, bao gồm một thông điệp rất cứng rắn vào ngày 16/1, do tướng Haig chuyển đến. Kissinger lưu ý rằng việc này “đã đòi hỏi gần 3 tháng, khoảng 20 lần sửa đổi văn bản thỏa thuận và đe dọa cắt viện trợ của Mĩ để có được sự đồng thuận của Thiệu.”[160] Các cuộc đàm phán được nối lại với các cuộc trao đổi kĩ thuật vào ngày 2/1/1973, và một cuộc gặp giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào ngày 8/1 với một “bước đột phá lớn” vào ngày 9/1.

Vào lúc 10 giờ tối ngày 23/1, Tổng thống Nixon tuyên bố một thỏa thuận đã đạt được ở Paris và ngừng bắn sẽ bắt đầu vào ngày 27/1.[161]

Tướng Kỳ viết trong cuốn sách của mình: “Đối với Mĩ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với cuộc ngừng bắn vào nửa đêm thứ Bảy, ngày 27/1/1973.”[162] Ông nói thêm: “Trên thực tế, Hiệp định Paris đã tạo ra một ấn tượng hoàn toàn sai lầm cho thế giới. Mặc dù đó là sự kết thúc của chiến tranh đối với Mĩ, nhưng Hà Nội chưa bao giờ coi đó là sự kết thúc của chiến tranh.”[163]

Guenter Lewy nhận xét rằng các điều khoản của thỏa thuận ngày 27/1 là những điều khoản tốt nhất mà Kissinger có thể đạt được:

Đó không phải là một kết thúc hoàn hảo hay có hậu cho quá trình Việt Nam hóa được bắt đầu khoảng 4 năm trước đó – một kết thúc, giống như quyết định rút quân ban đầu, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố trong nước. Thỏa thuận này được hi vọng rằng cuối cùng sẽ chấm dứt những vết thương dai dẳng do sự chia rẽ ở Mĩ gây ra bởi cuộc xung đột Việt Nam.

Ông tiếp tục nói rằng “Nhìn bề ngoài, thỏa thuận này dường như là sự bỏ rơi Nam Việt của đồng minh Mĩ”, nhưng nói thêm rằng, “Điều mà không ai biết, trừ các nhà hoạch định chính sách cấp cao, là chính quyền Nixon đã đảm bảo với Chính phủ Việt Nam Cộng  hoà rằng trong trường hợp Hà Nội vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của thỏa thuận, Mĩ sẽ phản ứng mạnh mẽ, có lẽ bằng cách nối lại việc ném bom Bắc Việt Nam.” Vào ngày 23/1, Nixon đã công khai nhắc lại lời hứa ủng hộ Việt Nam của mình. “Ngay sau khi thỏa thuận được kí kết, Bắc Việt đã bắt đầu vi phạm các điều khoản của nó.” Kissinger đã kêu gọi Hà Nội ngừng các vi phạm này nhưng không thành công. Vào ngày 15/3, Nixon cảnh báo Bắc Việt phải ngừng vi phạm và cho nối lại các chuyến bay trinh sát trên không ở Bắc Việt. Vụ Watergate đã làm ông phân tâm và Nghị quyết về Quyền lực Chiến tranh, được ban hành ngày 7/11/1973, đã loại bỏ mọi đe dọa về việc sử dụng sức mạnh quân sự của Mĩ để ngăn chặn một cuộc tấn công mới vào miền Nam:

… cán cân lực lượng tổng thể đã chuyển hẳn sang có lợi cho Hà Nội do việc Mĩ rút quân hoàn toàn và lệnh cấm của Quốc hội về việc tái triển khai lực lượng chiến đấu của Mĩ. Do đó, vào tháng 10/1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động quyết định rằng đã đến lúc phải tiến hành cuộc tấn công chiến lược, và vào mùa xuân năm 1974, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần bắt đầu xây dựng kế hoạch cho các cuộc tấn công quy mô lớn sẽ được phát động vào năm 1975.[164]

Nhiều bài học về ngoại giao, quân sự và tổ chức đã được rút ra từ kinh nghiệm của Mĩ tại Việt Nam, một số bài học cụ thể và được trình bày mạnh mẽ đến mức biến toàn bộ giai đoạn này thành cái mà một nhà sử học người Anh chuyên viết về chiến tranh Boer gọi là “cuộc chiến của những điều giá như” (war of might-have-beens).

Bài học tổng quát rõ ràng nhất rút ra từ đây là bài học do một chính khách người Pháp nêu ra cách đây 300 năm:

Trong thời đại của chế độ chuyên chế không bị thách thức, Richelieu cũng là người đầu tiên cho rằng không có chính sách nào có thể thành công trừ khi có sự ủng hộ của dư luận quốc gia.[165]

[1] Richard M. Nixon, Memoirs (New York: Warner Books, Inc., 1979), 368, Vol. 1.

[2] Ibid, 380-81.

[3] Ibid, 398-400.

[4] Ibid, 402-3.

[5] Ibid, 404.

[6] Ibid, 405.

[7] Ibid, 406-7.

[8] Ibid, 416-17.

[9] Ibid, 420.

[10] Ibid, 421.

[11] Ibid, 421-23.

[12] Ibid, 443.

[13] Henry Kissinger, White House Years (Boston: Little Brown & Co., 1979), 26.

[14] Ibid, 27.

[15] Ibid, 27-8.

[16] Ibid, 29.

[17] Ibid.

[18] Ibid, 30.

[19] Ibid, 43.

[20] Ibid.

[21] Ibid, 42.

[22] Ibid, 45.

[23] Ibid, 47.

[24] Ibid, 47-8.

[25] Charlton and Anthony Moncrieff, Many Reasons Why (New York: Hill and Wang,1978), 187-88.

[26] Ibid, 189.

[27] Ibid, 189-90.

[28] Ibid, 190-91.

[29] Ibid, 191.

[30] Ibid, 192-93.

[31] Ibid, 193.

[32] Ibid, 196-97.

[33] Ibid, 197-98.

[34] Ibid, 198.

[35] Ibid, 198-99.

[36] Nixon, Memoirs, Vol. I, 428-29.

[37] Ibid, 430.

[38] Ibid.

[39] Ibid, 431.

[40] Ibid.

[41] Ibid, 432.

[42] Ibid.

[43] Ibid, 423-33.

[44] Ibid, 433-34.

[45] Ibid, 435.

[46] Ibid, 441.

[47] Ibid, 457.

[48] Ibid, 462-63.

[49] Ibid, 470-71.

[50] Ibid, 471-72.

[51] Ibid, 472.

[52] Ibid, 478-82.

[53] Ibid, 482.

[54] Ibid, 483.

[55] Ibid.

[56] Ibid, 484.

[57] Ibid, 484-85.

[58] Ibid, 485.

[59] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the War (New York: Stein and Day, 1978), 171.

[60] Ibid, 172.

[61] Ibid, 173.

[62] Ibid, 174-75.

[63] Lewy, America in Vietnam, 162.

[64] Ibid, 163.

[65] Ibid, 164-66.

[66] Ibid, 166.

[67] Ibid, 167.

[68] Ibid.

[69] Ibid, 166.

[70] Ibid, 168.

[71] Ibid, 170-71.

[72] Ibid, 175.

[73] Nixon, Memoirs, Vol. I, 485, 465k.

[74] Ibid, 486, 465k.

[75] Ibid.

[76] Ibid, 487, 465k.

[77] Ibid, 487-488, 468k.

[78] Kissinger, White House Years, 279.

[79] Ibid, 259.

[80] Ibid, 259-64.

[81] Ibid, 264.

[82] Ibid, 281-82.

[83] Ibid, 304.

[84] Ibid.

[85] Ibid.

[86] Ibid, 305.

[87] Nixon, Memoirs, Vol. I, 496-97, 476k.

[88] Ibid, 503.

[89] Ibid, 504.

[90] Ibid, 507.

[91] Ibid.

[92] Ibid, 507-8.

[93] Ibid, 510.

[94] Ibid, 512.

[95] Kissinger, White House Years, 306.

[96] Ibid, 308.

[97] Nixon, Memoirs, Vol. I, 534.

[98] Ibid, 535-36.

[99] bid, 551-53.

[100] Kissinger, White House Years, 447.

[101] Nixon, Memoirs, Vol. I, 553.

[102] Ibid, 555-56.

[103] Ibid, 556.

[104] Hai địa điểm này được đặt tên theo hình dạng của chúng trên bản đồ. Người Pháp luôn gọi địa điểm đầu tiên là Bec du Canard (Mỏ Vịt) nhưng quân đội Hoa Kì, vì lí do nghiên cứu chim học riêng, đã đổi tên.

[105] Ibid, 558.

[106] Ibid, 566.

[107] Ibid, 578.

[108] Ibid, 578-79.

[109] Kissinger, White House Years, 971.

[110] Ibid, 976.

[111] Ibid, 978.

[112] Ibid, 980-81.

[113] Ibid, 983-84.

[114] Ibid, 986.

[115] U.S. Department of State, Scope of the U.S. Involvement in Laos, Released March 6, 1970, 3, 4, 5.

[116] Kissinger, White House Years, 986.

[117] Ibid, 990-91.

[118] William C. Westmoreland, A Soldier Reports (New York: Dell Publishing Co. 1980), 514-15.

[119] Kissinger, White House Years, 991.

[120] Ibid, 997.

[121] Ibid, 999-1002.

[122] Ibid, 1009.

[123] Westmoreland, A Soldier Reports, 515.

[124] Kissinger, White House Years, 1012.

[125] Ibid, 1018.

[126] Ibid, 1022-25.

[127] Ibid, 1031.

[128] Ibid, 1039-41.

[129] Ibid, 1043.

[130] Ibid, 1044.

[131] Ibid, 1045-46.

[132] Ibid, 1046.

[133] Nixon, Memoirs, Vol. 2, 60-61.

[134] Kissinger, White House Years, 1097.

[135] Ibid, 1098.

[136] Nixon, Memoirs, Vol. 2, 64, 70.

[137] Kissinger, White House Years, 1109.

[138] Ibid, 1118.

[139] Ibid, 1121.

[140] Ibid, 1124.

[141] Ibid, 1167.

[142] Nixon, Memoirs, Vol. 2, 70.

[143] Kissinger, White House Years, 1167.

[144] Ibid, 1173-74.

[145] Nixon, Memoirs, Vol. 2, 83-4.

[146] Ibid, 84.

[147] Kissinger, White House Years, 1189.

[148] Ibid, 1190-91.

[149] Ibid, 1194.

[150] Ibid, 1311.

[151] Ibid, 1318-19.

[152] Ibid, 1322-23.

[153] Ibid, 1344.

[154] Ibid, 1345.

[155] Ibid, 1349.

[156] Ibid, 1368-69.

[157] Ibid, 1367.

[158] Ibid, 1393

[159] Ibid, 1446.

[160] Ibid, 1467.

[161] Nixon, Memoirs, Vol. 2, 269.

[162] Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the Vietnam War, 189.

[163] Ibid, 192.

[164] Lewy, America in Vietnam, 202-5.

[165] Harold Nicolson, The Evolution of Diplomatic Method (London: Constable & Co. Ltd., 1954).

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged , . Bookmark the permalink.