Để kỷ niệm 100 năm sinh Bùi Giáng (1926 – 2026) & 205 năm sinh Baudelaire (1821 2026) (1)

Bùi Vĩnh Phúc

Bùi Giáng qua nét vẽ Đinh Cường.

.1.

Công phu và đóng góp của Bùi Giáng hiển lộ trên cả ba mặt: thơ ca, triết lý và dịch thuật. Nhưng, có lẽ, người đọc thường nhìn thấy “thể tính” của Bùi Giáng, rõ nhất, trong thơ.

Nhưng, trước khi nói về thơ, có lẽ ta phải công nhận rằng, Bùi Giáng đã tung hoành ở nhiều lĩnh vực khác nữa, như dịch thuật, triết lý, biên soạn sách giáo khoa, bình luận văn học, v.v.. Và ở lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp tốt đẹp. Dù sao, nếu cần phải đánh giá một cách kỹ tính, ta có thể nhận thấy là ở giai đoạn thập niên ’50 và (có lẽ) đến giữa thập niên ’60, chữ nghĩa Bùi Giáng có nhiều phần thiết tha, nghiêm cẩn hơn giai đoạn sau đó (cho dù lúc nào thì ta cũng có thể thấy ở ông môt phong cách rất khác người: trong lối suy nghĩ, diễn ý, và trong cách thế hành từ, sử dụng ngôn ngữ nói chung). Khuôn mặt tinh thần của Bùi Giáng trong giai đoạn ’50 – ’60 vừa nói, với sức khoẻ thể lý và tinh thần của tác giả còn tương đối sung mãn, cũng cho thấy nhiều nét tài tuấn hơn.

Bàn về thơ văn của Bùi Giáng, dĩ nhiên là có thể có nhiều giác độ khác nhau, nhiều cảm thụ khác biệt. Trong quan điểm riêng, tôi nghĩ không nên xé lẻ từng bài thơ, từng câu thơ của ông ra mà xét định, bình giá là dở hay hay. Đặc biệt để phán xét một cách tiêu cực. Tôi nhìn cõi thơ của Bùi Giáng, nói riêng, và cả những công trình, những đóng góp khác của ông, nói chung, là một khu rừng nguyên sinh, mà chính sự rậm rạp, tràn lan, phong nhiêu và chằng chéo của nó, trong cả những nét tích cực và tiêu cực, đã làm nên cái phong cách độc đáo, có một không hai của ông. Trong cái nhìn của tôi, nếu chúng ta cắt bỏ đi những cành cây rậm rạp, những dây leo bò tràn lan trên mặt đất, những tàng lá rậm rịt trên cao, vốn làm nên cái quang cảnh phong nhiêu rậm rạp kỳ bí của khu rừng nguyên sinh ấy, nghĩa là nếu chúng ta thử (hoặc cố gắng) làm cho nó trở nên phong quang để… gió và ánh ngày có thể chiếu sáng, bay lượn một cách đẹp tươi trong đó, khu rừng ấy sẽ mất đi cái sức hút mang tính “huyền bí và ma quái” của nó.

Đọc Bùi Giáng, nhất là đọc thơ Bùi Giáng, tôi nghĩ, là phải đọc trong cái tâm thức toàn thể và “xuyên suốt” này. Có lẽ cứ nên để cái phong nhiêu, kỳ bí, tràn lan kia lan toả trong tâm thức ta khi đi vào “cuộc chữ” của ông. Hãy cứ để cái phong khí “nguyên sinh” của khu rừng mịt mùng ánh lục kia phong toả lấy ta. Và cảm nhận toàn vẹn sự trình hiện ấy của con người nhà thơ. Cho dù ta tiếp cận ông từ bất cứ mặt cắt nào của khối đá đen, đầy rêu phong ẩm ướt, và đầy những lồi lõm và méo mó này. Trong thơ, trong văn. Hay trong dịch thuật, sáng tác.

Hãy cứ để ông được . Được ông như thế. Đừng bắt ông phải là. Thế này hay thế khác. Hãy cứ để ông được “thì”. Như trong câu “Thơ văn của Bùi Giáng thì rậm rạp, quái dị.”. “Thì”, như “Bầu trời thì xanh” (“Der Himmel ist blau”), theo lối đặt vấn đề một cách đầy tính triết học, mang hướng truy vấn bản thể luận qua con đường hiện tượng luận của Martin Heidegger, để nhìn lại tận mặt “hữu thể”. Và nhìn như Heidegger thì: Ist (Is, tiếng Anh; Là, Thì, tiếng Việt) [trong câu “Der Himmel ist blau”] chính là Sein (Being, trong tiếng Anh; Hữu Thể, Tồn Thể, Vĩnh Thể, Tồn Tại, trong tiếng Việt). Hay, thích đáng hơn, hãy để Sein kết hợp với Da (ở đó). Ở ngay trong đời. Dasein. Hiện Thể (Hữu-thể-tại-thế/Tại-hữu). Bùi Giáng là ông chính ở cái sự Dasein, Hiện Thể đó. Hãy cứ để Bùi Giáng như thế với khuôn mặt lồi lõm, méo mó, rêu phong của ông. Đừng cố gắng làm hay đòi hỏi nó phải phẳng phiu, cân đối, phong quang, sáng sủa như ta muốn.

“Bầu trời”, tự nó, đồng nghĩa với “xanh”. Bản chất của nó “xanh”. Như Bùi Giáng chính ông. Hiện hữu. Lồi lõm. Méo mó. Rêu phong. Quái dị. Rậm rạp. Tràn lan. Kỳ bí. Đó là bản chất của Bùi Giáng. Như cách thế ông đã sống, đã viết, đã là, và đã tồn tại ở đời.

Hãy cứ thử để những con chữ, những ý tưởng của nhà thơ bay múa trong ta, dù ta đến với ông qua những trang văn hay những dòng thơ. Hãy đừng mặc định một thể thức mà ta nghĩ là nên có trong sự diễn tả của Bùi Giáng. Hãy trì ngự trong “cuộc chữ” đó. Và mỉm cười. Và thán phục. Ở những chỗ ta thấy đó đúng là cảm nhận của mình.

Hãy đi vào và giáp mặt với khu rừng nguyên sinh đầy ánh lục kia.

Và hãy chạm tay vào cái khối đá đen đầy rêu phong, lồi lõm, hoang quái nọ.

Rồi hãy thử

“nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không”.

.2.

Trước khi bàn tiếp về Bùi Giáng và tài hoa của ông, đặc biệt trong lĩnh vực dịch, riêng trong bài này là chuyện dịch thơ, ta hãy thử tìm hiểu một bài thơ nổi tiếng của Baudelaire. Vì đây là bài thơ đặc biệt, nói lên một khía cạnh về tinh thần “phản kháng” của Baudelaire trước cuộc sống nói chung, và trong lĩnh vực văn học nói riêng. Và cũng vì Bùi Giáng đã dịch nó, rồi trang trọng đặt bài thơ dịch ở đầu sách “Con Người Phản Kháng” (dịch tác phẩm “L’Homme Révolté” của Albert Camus) của mình (nhà xuất bản Võ Tánh, 1968). [1]

Charles Baudelaire. Bản vẽ của Henri Matisse cho sách Poésies của Stephen Mallarmé

Charles Baudelaire qua nét vẽ của Gustave Courbet, c. 1848–49

Bài thơ của Baudelaire nói ở đây là bài “La Géante” (“Người nữ khổng lồ”), một trong sáu bài thơ trong tập Les Fleurs du Mal” (Hoa Ác / Hoa Khổ Đau) vốn bị kiểm duyệt trong lần in đầu tiên vào năm 1857. Qua thời gian, “Les Fleurs du Mal” càng ngày càng được người Pháp nói riêng, và thế giới văn học toàn cầu nói chung, vinh danh và đọc đi đọc lại. Chủ đề chính trong đa số các tác phẩm của Baudelaire là sự sầu u, chán nản (Spleen); thế nhưng tuyên bố nổi tiếng của Baudelaire, nhấn mạnh và đề cao sự hoà hợp của các cảm giác, qua bài thơ “Correspondances” (Giao Ứng), viết theo thể sonnet, in trong tập “Les Fleurs du Mal”, trong cái nhìn của riêng tôi, đã tạo nên danh tiếng của Baudelaire, ảnh hưởng đến nhận thức và cảm quan của giới thưởng ngoạn, đặc biệt những người cầm bút. [2] Hãy để tâm hồn và trái tim của những kẻ ở trọ chốn trần gian này rung động và bay múa theo những đường nét của âm thanh, hương vị và màu sắc của đời sống, qua cảm nhận của ông:

[…] Màu sắc, hương thơm cùng âm thanh khẽ giao hòa.

Có hương thơm mát lành tựa da thịt trẻ thơ,
Dịu ngọt tựa tiếng kèn, xanh rờn như đồng nội,
Và có hương nồng nàn, suy đồi nhưng mời gọi,

Mang sức mạnh lan tràn của vạn vật vô biên,
Như hổ phách, xạ hương, nhựa thơm và trầm hương,
Hát khúc ca ngất ngây của thể xác, tâm hồn.

Với hương thơm, màu sắc và âm thanh, ánh sáng của trần gian ấy, Baudelaire, cũng như Apollinaire, là một trong những nhà thơ được người đọc và giới văn học Pháp đặc biệt yêu mến. Cho dù sự yêu mến ấy, đối với cả hai, hướng đến những tình cảm và phong cách khác nhau của hai nhà thơ.

Năm 1911, sáu bài thơ bị cắt bỏ trong tập “Les Fleurs du Mal” từ những lần in bắt đầu từ năm 1857 được tái thẩm định. Và khôi phục lại. Và vào năm 2007, khi nước Pháp kỷ niệm 150 năm in “Les Fleurs du Mal”, một ấn bản của tập thơ đã được đấu giá và bán với giá kỷ lục, 603.000 euro, một cái giá cao nhất, ít nhất là cho đến thời điểm đó, cho một tập thơ. Cuốn sách có chữ ký đề tặng của chính Baudelaire dành cho hoạ sĩ Eugène Delacroix.

Nói về Baudelaire và vị thế văn học của ông, Paul Valéry đã viết trong “La Situation de Baudelaire” (1924), ngay ở phần mở đầu: “Cuốn sách nhỏ Les Fleurs du Mal, chưa đến ba trăm trang, có vị thế quan trọng hơn cả những tác phẩm lẫy lừng và đồ sộ nhất trong văn chương. Nó đã được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ ở châu Âu […]. … [V]ới Baudelaire, thơ Pháp đã vượt xa biên giới [nước Pháp]. Nó được đọc trên khắp thế giới; nó được nhìn nhận là thứ thơ đặc trưng của Hiện đại; nó làm người ta muốn bắt chước…”

Đúng là như thế. Phong cách, sự rung động trước cuộc sống và nghệ thuật, cũng như thi pháp trong thơ Baudelaire đã mở đường cho thơ hiện đại thế giới. Ở Việt Nam, nhìn một cách chung, ta có thể thấy, vào thời Thơ Mới, ít nhất là các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Bích Khê, Hàn Mặc Tử – và cả Đinh Hùng sau này nữa – cũng, trong một góc cạnh nào đó, đều đã đón nhận ảnh hưởng của Baudelaire. Dĩ nhiên, với những mức độ và sắc độ khác nhau, kết hợp với phong cách và tài năng riêng của mỗi người.

Bây giờ, hãy nói về bài thơ “La Géante”.

Đó là một bài sonnet gồm 14 câu, mỗi câu 12 chân (pied), gọi giản dị là 12 âm tiết. Bài thơ được chia làm 4 khổ: hai khổ đầu mỗi khổ 4 câu; hai khổ sau mỗi khổ 3 câu. Tổng cộng là 168 âm tiết. Bài thơ “Correspondances” (Giao Ứng) mà ta đã nhắc cũng được viết theo thể sonnet này.

Bài thơ ấy nguyên văn như sau:

La Géante (trích từ tập Les Fleurs du mal, bài số XIX)
Du temps que la Nature en sa verve puissante
Concevait chaque jour des enfants monstrueux,
J’eusse aimé vivre auprès d’une jeune géante,
Comme aux pieds d’une reine un chat voluptueux.
J’eusse aimé voir son corps fleurir avec son âme
Et grandir librement dans ses terribles jeux ;
Deviner si son cœur couve une sombre flamme
Aux humides brouillards qui nagent dans ses yeux ;
Parcourir à loisir ses magnifiques formes ;
Ramper sur le versant de ses genoux énormes,
Et parfois en été, quand les soleils malsains,
Lasse, la font s’étendre à travers la campagne,
Dormir nonchalamment à l’ombre de ses seins,
Comme un hameau paisible au pied d’une montagne.

Tạm dịch xuôi ra tiếng Việt là:

Người nữ khổng lồ

Vào thời kỳ mà Thiên Nhiên, trong niềm khát khao mãnh liệt của mình,

Mỗi ngày đều mang thai và sinh ra những đứa con quái dị,

Tôi đã ước được sống bên cạnh một người nữ khổng lồ trẻ tuổi,

Như một con mèo dâm dật nằm dưới chân một nữ hoàng.

Tôi đã ước được ngắm nhìn cơ thể cùng tâm hồn nàng nảy nở

Và lớn lên một cách tự do trong những trò chơi dữ dội

[Tôi đã ước được] đoán xem liệu trái tim nàng có đang ấp ủ một đốm lửa u tối nào chăng

Qua những làn hơi sương ẩm ướt đang bơi trong mắt nàng;

[Tôi đã ước được] thong thả dạo bước khắp những đường nét thân thể tuyệt mỹ của nàng

Bò trườn trên sườn dốc của đôi đầu gối khổng lồ;

Và đôi khi vào mùa hè, khi những ánh mặt trời độc hại

Khiến nàng mệt mỏi nằm dài ra khắp cánh đồng,

[Tôi sẽ] thảnh thơi thơi ngủ dưới bóng râm từ bầu ngực nàng

Như một ngôi làng bình yên nằm dưới chân một ngọn núi.

Nhìn trên bề mặt cạn cợt, bài thơ này cho thấy một “mơ mộng hoang dại”, phần nào có vẻ không bình thường, cái ước mơ của một con người có lẽ có tâm hồn thơ mộng nhưng pha với một nét libido có phần ẩn ức về mặt dục tính. Đó là một bài tụng ca dành cho một người phụ nữ có vóc dáng to lớn, người vừa được nhà thơ ngưỡng mộ vừa khiến ông sợ hãi. Nhìn sâu hơn một chút, ta có thể nhìn ra các chủ đề chính của bài thơ. Trước hết, đó là sự vĩ đại của người phụ nữ. Baudelaire miêu tả người phụ nữ này như một người nữ khổng lồ, với một hình tượng uy nghi chiếm ngự và thống trị cả cảnh quan. Nhà thơ sử dụng các hình ảnh của thiên nhiên để nhấn mạnh kích thước và sức mạnh của nàng. Sau đó là sự ngưỡng mộ và nỗi choáng sợ. Nhà thơ vừa bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người phụ nữ, vừa thể hiện nỗi choáng sợ trước sự vĩ đại của nàng. Ông bị thu hút nhưng cũng bị choáng ngợp bởi nàng. Và, chủ đề cuối cùng, đó là nỗi hoài niệm tuổi thơ. Baudelaire gợi nhớ về tuổi thơ như một giai đoạn của sự an toàn và thoải mái. Người nữ khổng lồ đại diện cho hình bóng một người mẹ, gợi nhà thơ nhớ về thời thơ ấu của mình.

Nhìn ở mức sâu hơn nữa, ta thấy Baudelaire đã nhắc đến Tự nhiên, với hình ảnh được nhân hoá và mô tả là đầy quyền năng và sáng tạo. Tự nhiên, ở đây, được xem như một người nữ, một người mẹ sinh ra những đứa con phi thường. Ông khao khát được sống bên cạnh người mẹ thiên nhiên khổng lồ ấy và tự ví mình như một chú mèo nằm nghỉ ngơi dưới chân “nữ hoàng”. Hình ảnh đó gợi lên một mối quan hệ phụ thuộc và đầy cảm giác dễ chịu và hạnh phúc. Và, thơ mộng hơn, ông xem mình như hình ảnh một ngôi làng bình yên nằm dưới chân ngọn núi. Ngọn núi này lại là một hình ảnh đáng yêu mang tính biểu tượng của một vài đường nét, thân thể người nữ khổng lồ.

“La Géante”, như thế, là một bài thơ khám phá các chủ đề về sự vĩ đại, sự ngưỡng mộ, nỗi choáng ngợp và niềm hoài nhớ. Baudelaire đã sử dụng những hình ảnh mạnh mẽ và các phép ẩn dụ, so sánh để miêu tả người phụ nữ khổng lồ cũng như những cảm xúc của ông dành cho nàng. Bài thơ vừa là một sự ca ngợi người phụ nữ, vừa là một sự khám phá tính chất phức tạp trong thế giới cảm xúc của nhà thơ.

Nhìn ở một góc cạnh khác, chênh đi một chút, và đào sâu vào ý tứ, nội dung sâu sắc của bài thơ hơn, ta có thể nhìn thấy bài thơ như một bức thư tình gửi đến hành động sáng tạo. Đây không phải là “tình thư một bức phong còn kín / Gió nơi đâu gượng mở xem”, như Nguyễn Trãi đã viết trong bài thơ “Ba tiêu”/”Cây chuối”. [3] Baudelaire không mang cái tâm hồn phương Đông, nhẹ nhàng, ẩn kín như phong cách của Nguyễn Trãi. Ông nhìn thẳng vào Thiên nhiên, hạnh phúc được sống bên cạnh và hoà mình vào cái thiên nhiên ấy. Và Thiên nhiên này là Hành động sáng tạo. Cái quyền lực tối cao của Thiên nhiên, hay hành động sáng tạo, ở đây, tuy không nhất thiết phải mang một nội hàm tôn giáo, nhưng, nếu muốn, người ta vẫn có thể tìm thấy nó trong bối cảnh ấy. Cái quyền lực tối cao này chủ yếu được thể hiện qua kích thước vật lý, qua chiều kích của không gian. Bài thơ cho thấy hình ảnh của ngôn từ, như một thân cây rậm rạp, xanh tươi, mơn mởn và đầy cành lá, hoa trái, tưng bừng nở rộ, phát triển. Cái ngôn ngữ ấy nhấn mạnh vào vẻ đẹp của sự sáng tạo những cái mới. Dù sao, Thiên nhiên, hay Tự nhiên (hay sự Sáng tạo) cũng có thể mang lại những nguy hiểm. Bài thơ mở ra với hình ảnh những “quái vật”. Tựa đề “Người nữ khổng lồ” cũng mang chứa trong nó cảm giác rằng sự sáng tạo có thể mang đến một sức mạnh làm choáng ngợp con người.

Dù sao, như một con người sáng tạo nói riêng, và như một con người sống trên cõi đất nói chung, Baudelaire, qua bài thơ, cũng cho thấy nhu cầu được bảo bọc bởi tình mẫu tử và được chăm sóc bởi một thế lực cao hơn. Thế lực ấy, ở đây, được đặc tả là phái nữ, là một nàng thơ, với ý niệm rằng nàng là nguồn cội của Cảm hứng và sự Sáng tạo. Và, bằng việc biến nàng thành một “người nữ khổng lồ” và mang nét kỳ dị (grotesque) như thế, Baudelaire đã đảo lộn những quan niệm truyền thống về vẻ đẹp nữ tính.

Trong những đóng góp mang tính văn học nghệ thuật của Baudelaire, ta được biết, ngoài thi ca ra, ông còn là một nhà phê bình hội hoạ tài năng. Để tưởng nhớ ông, hoạ sĩ siêu thực nổi tiếng René Magritte, đã vẽ mấy bức tranh với cùng tên ‘La Géante’ [được đặt tên là ‘La Géante, 1926 -1930; ‘La Géante II, 1935; ‘La Géante III, 1936, v.v.] theo tinh thần sáng tạo của Baudelaire qua bài thơ ‘La Géante’ mà ta đang xét.

Chỗ này, tôi xin phép người đọc để tạm rẽ, rất nhanh và gọn, vào một vùng đất nghệ thuật khác, nhưng có phần liên quan đến Baudelaire, trước khi ta trở lại với bài thơ của ông.

Trong một bức thư gửi cho André Breton, chủ suý của phong trào siêu thực, vào năm 1934, Magritte đã thảo luận về những mầm mống ý tưởng dẫn đến việc tạo ra ‘La Géante (Người nữ khổng lồ)’ của riêng ông.

The Giantess II (La Géante II) 1935, được đặt tên và đề năm là ‘LA GEANTE MAGRITTE 1935’

Ông cho biết rằng ông muốn khám phá “điều [hiển lộ] ở một cái cây [vốn] thuộc về nó một cách đặc biệt, nhưng lại trái ngược với khái niệm của chúng ta về một cái cây” (Magritte, thư gửi Breton, trích dẫn trong ed. D Sylvester, tập II, trang 194). Theo tài liệu của Michèle Sato, “đây là một phần trong những cuộc phiêu lưu tiên phong của Magritte vào bản chất của thế giới và nhận thức của chúng ta, phá vỡ những kỳ vọng tuyệt đối mà mọi người có về bản chất của các vật thể cụ thể. Vì vậy, với cái cây, Magritte đã tìm kiếm yếu tố đặc trưng, ​​độc đáo mà ông có thể phá vỡ để mang đến cho người xem một cái nhìn mới mẻ về cái cây. Ông đã thực hiện điều này bằng cách biến tấu các yếu tố liên quan đến đối tượng – trong trường hợp đang nói là cái cây – buộc người xem phải đánh giá lại những điều mà họ quen thuộc. Giải pháp này đơn giản đến bất ngờ: ‘Cái cây, với tư cách là chủ thể của một cái mà ta đang xét, đã trở thành một chiếc lá lớn mà cuống của nó là một thân cây được cắm thẳng xuống đất. Tôi gọi nó là “Người nữ khổng lồ ” để tưởng nhớ một bài thơ của Baudelaire’ (Magritte, được trích dẫn trong ấn bản D. Sylvester, tập II, dẫn ở trên). Bằng cách này, một đặc điểm không thể thiếu của cái cây ở đây trở thành đặc điểm nổi bật của nó, khi cái cây hoàn toàn bị bao trùm bởi chính yếu-tính-lá của mình. ‘La Géante’ là ví dụ đầu tiên về chủ đề này trong tác phẩm của Magritte, mặc dù đó là một hình ảnh mà ông thấy rất hiệu quả đến nỗi nó sẽ xuất hiện lặp đi lặp lại, với nhiều hiệu ứng khác nhau, trong suốt sự nghiệp của ông.”

Magritte đã viết rằng, “Đối với tôi, đó không phải là vấn đề vẽ “thực tại” như thể nó dễ dàng tiếp cận với tôi và những người khác, mà là miêu tả thực tại bình thường nhất theo cách mà thực tại tức thời này mất đi tính chất thuần hóa hoặc đáng sợ của nó và tự thể hiện mình với sự bí ẩn riêng”. Từ những bức ‘La Géante’ này, giới thưởng ngoạn nhìn ra sự hài hước và tính phi lý hòa quyện trong cái nhìn độc đáo của Magritte, buộc người xem phải nhìn ngắm thế giới theo một cách mới mẻ và trân trọng hơn.

Ta có thể xem một bức tranh khác của René Magritte để thấy phong cách sáng tạo này nơi ông. Đây là bức ‘The Clairvoyance (Sự thấu thị)’.

The Clairvoyance 1936

Tác phẩm này là một trong những tác phẩm nổi tiếng hơn cả của Magritte, và có lẽ là bức chân dung tự họa xuất sắc nhất của ông. Bằng khiếu hài hước độc đáo của mình, ông đã nắm bắt được ý nghĩa đặc biệt của việc một quả trứng biến thành thứ gì đó khác biệt một cách đầy thú vị.

Phong cách sáng tạo trong nghệ thuật của Magritte chia sẻ nhiều nét độc đáo, đặc thù với Baudelaire. Đó là việc nhìn ra cái mới, cái đặc thù, cái khác lạ, bí ẩn và bất ngờ trong những cái bình phàm, những cái tầm thường.

Trở lại với bài thơ của Baudelaire. Có thể có nhiều lối tiếp cận khác nhau. Ở đây, để thử nhìn ngắm, xem xét nó, tôi muốn giới thiệu qua lý thuyết đọc của nhà nghiên cứu-phê bình Michael Riffaterre. Trong quyển “Ký hiệu học [về/của] Thơ” (Semiotics of Poetry), Riffaterre đã trình bày những khái niệm cốt lõi của lý thuyết đọc thơ của minh như sau:

Bước đầu tiếp cận một bài thơ, người ta bước vào lối đọc biểu nghĩa, tức đọc ký hiệu học bậc một (heuristic reading). Ở tầng đọc này, ta đọc theo nghĩa đen của bài thơ, theo dõi ý nghĩa ngôn ngữ và ngữ pháp cơ bản. Người đọc vận dụng năng lực ngôn ngữ thông thường để hiểu bài thơ theo nghĩa đen, nghĩa từ vựng, cú pháp và ngữ pháp. Mục đích của bước này là nắm bắt luồng thông tin bề mặt của văn bản. Tuy nhiên, vì thơ ca thường chứa các yếu tố “bất thường ngữ pháp” (ungrammaticalities) như ẩn dụ, nghịch lý, hay các cách kết hợp từ kỳ lạ, việc đọc hiểu theo nghĩa đen ở bước này sẽ bị tắc nghẽn hoặc cho ra những kết quả vô lý, rời rạc. Từ sự “bất thường” này, người đọc bị thúc đẩy phải chuyển sang bước đọc thứ hai. Ở cấp độ đọc này, người ta đi vào lối đọc thông diễn, tức đọc hồi cố và diễn giải (hermeneutic reading). Đây là giai đoạn đọc thứ hai (bậc cao hơn) mang tính chất suy ngẫm, kết nối và đọc ngược lại văn bản. Người đọc không nhìn các từ cô lập theo nghĩa từ điển nữa, mà nhúng chúng trong hệ thống ký hiệu và văn cảnh văn học. Ở bước này, những điểm “bất thường vô lý” ở giai đoạn đầu sẽ được giải mã để tìm ra nghĩa đích thực của bài thơ. Người đọc tìm kiếm các manh mối cấu trúc, biểu tượng và mạng lưới dấu hiệu sâu hơn. Việc đọc thế này liên hệ đến các khái niệm Ma trận và Văn bản nền (hay Khuôn mẫu ngầm).

Theo Riffaterre, một bài thơ không bao giờ được sinh ra từ hư vô, và nó thực chất là sự triển khai biến hóa của một hạt nhân ngữ nghĩa bất biến nằm ẩn bên dưới. Hạt nhân này chính là Khuôn mẫu ngầm. Nó có thể là một từ, một cụm từ, một câu ngạn ngữ, một huyền thoại, hoặc một hệ thống biểu tượng đã có sẵn trong văn hóa đại chúng/văn học (mang tính liên văn bản). Nhà thơ đã thực hiện các thao tác mở rộng, chuyển đổi hạt nhân ngầm này để tạo ra toàn bộ cấu trúc bài thơ. Nhiệm vụ của người đọc ở bước đọc diễn giải này là phải lột bóc các lớp ngôn từ để phát hiện ra Khuôn mẫu ngầm, từ đó hiểu được mạch nguồn tạo sinh thực sự của tác phẩm. Ý tưởng trừu tượng cốt lõi, câu (thơ) hoặc văn bản nền được mở rộng và chuyển đổi thành bài thơ thực tế (ma trận).

Như thế, ta phải xét đến Ý nghĩa gián tiếp trong thơ. Khái niệm này cho rằng thơ không truyền đạt sự bắt chước, mô phỏng hoặc sự thật trong thế giới thực một cách trực tiếp, mà nó bóp méo, vặn xoắn và dịch chuyển ý nghĩa thông qua ẩn dụ, nghịch lý, phép đồng chấp/phép kết hợp bất đối xứng (xét về mặt ngữ nghĩa/ngữ pháp). Tất cả những biện pháp đó, tạo nên những sự chơi chữ, chơi ý, chơi hình ảnh mà nếu ta giải mã được chúng, ta có thể đi sâu vào ý nghĩa của một bài thơ.

Bây giờ, trên hướng lý thuyết vừa trình bày của Riffaterre, ta sẽ thử phân tích bài thơ “La Géante” của Baudelaire.

1. Mã hóa cảnh quan (Landscape Code)

Bài thơ “La Géante” như một ví dụ kinh điển cho việc chuyển đổi hệ thống ký hiệu thành một mã đặc biệt. Ở cấp độ đọc biểu nghĩa (Heuristic reading / Mimesis), bài thơ tả thực một người phụ nữ có kích thước khổng lồ, sừng sững giữa thiên nhiên. Nhưng ở cấp độ ký hiệu học (Hermeneutic reading / Significance), ta có thể thấy rằng Baudelaire đã dùng “mã cảnh quan” (landscape code) để miêu tả cơ thể người phụ nữ. Thân hình người nữ khổng lồ không còn là một thực thể sinh học, mà đã hòa quyện, biến thành các đại lượng địa lý: những ngọn đồi, thung lũng, bóng râm trập trùng.

2. Sự dịch chuyển từ nghĩa thực sang nghĩa biểu trưng

Theo lý luận của Riffaterre, thơ ca luôn nói một đằng nhưng ám chỉ một nẻo. Trong “La Géante”, việc biến cơ thể phụ nữ thành một vùng đất/cảnh quan phục vụ cho một cấu trúc biểu cảm sâu hơn: Cơ thể khổng lồ của người phụ nữ đóng vai trò như một “vực thẳm đầy hoa”. Đó là biểu trưng cho một người tình đầy nhục cảm, một người mẹ vĩ đại mang tính che chở, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn sự rợn ngợp, nuốt chửng. Nơi đó, người thi sĩ có thể tựa vào và ngủ một cách bình yên dưới bóng râm của bộ ngực khổng lồ như một ngôi làng “nằm ngủ” dưới chân núi.

3. Phá vỡ tính tả thực để đạt đến Tính thơ

Ta có thể thấy rằng nếu người đọc chỉ dừng lại ở việc cố gắng tưởng tượng một người phụ nữ cao hàng chục mét ngoài đời thực (mimesis), bài thơ sẽ trở nên vô lý hoặc quái dị. Nhưng khi người đọc nhận ra cái văn bản ngầm/mô-típ gốc về khát vọng được che chở, sự nhỏ bé của cái tôi trước dục vọng và thiên nhiên mẫu tính, toàn bộ hệ thống từ ngữ miêu tả thiên nhiên-cơ thể lập tức ăn khớp với nhau để tạo ra nghĩa tổng thể (significance) cho bài thơ.

Như thế, bài thơ “La Géante” của Baudelaire chuyển đổi mô-típ giải phẫu học cơ thể người phụ nữ thành mã địa lý cảnh quan, tạo ra cấu trúc ký hiệu học kép giữa dục vọng và mẫu tính. Tiến trình này biến sự phi lý khi đọc hiểu thông thường (Heuristic Reading) thành sự chân thực tuyệt đối thông qua việc đọc diễn giải (Hermeneutic Reading) nhằm tìm ra văn bản nền (Matrix/Hypogram) của tác phẩm. Sự phi lý về mặt tả thực được chuyển hóa thành ý nghĩa thẩm mỹ, nơi khát vọng nhục cảm hòa quyện với nhu cầu được che chở trong hình tượng Đại địa mẫu.

Khác với cách đọc mô tả (mimetic reading) coi bài thơ là bức tranh vẽ một người phụ nữ khổng lồ kỳ dị, cách đọc ký hiệu học (semiotic reading), theo lối của Riffaterre, tìm kiếm tính thống nhất của văn bản thông qua sự giải trình các mã (codes), trường mô tả (descriptive fields), và việc khôi phục Khuôn mẫu (Matrix).

______________

Chú thích:

[1] Về lý do đưa bài thơ dịch “Nương Tử Khổng Lồ” vào sách “Con Người Phản Kháng” (dịch “L’Homme Révolté” của Albert Camus), ở ngay dưới bài thơ dịch, đặt ở những trang đầu cuốn sách, Bùi Giáng ghi: “Để ý: Đưa bài thơ nầy vào tập L’Homme Révolté vì hai lẽ: 1- Bàn tới Baudelaire, ở phần Phản Kháng Siêu Hình, Camus thú nhận là không thể bàn rốt ráo tới thiên tài Baudelaire. 2- Nếu ta nghĩ rằng Thuý Kiều cũng là một Nương Tử Khổng Lồ nằm duỗi dài trên Sử Lịch Việt Nam, thì lập thời bài thơ La Géante của Baudelaire mang đầy đủ ý nghĩa của Một Vùng Tương Ứng bốn biển. Nói riêng ra, nó còn giúp bạn đọc thể hội một cách thâm hậu những trang Camus bàn tới Phản Kháng và Nghệ Thuật.

[2] Nguyên văn bài thơ Correspondances (Giao Ứng) và phần dịch nghĩa:

Correspondances

La Nature est un temple où de vivants piliers

Laissent parfois sortir de confuses paroles;

L’homme y passe à travers des forêts de symboles

Qui l’observent avec des regards familiers.

Comme de longs échos qui de loin se confondent

Dans une ténébreuse et profonde unité,

Vaste comme la nuit et comme la clarté,

Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.

Il est des parfums frais comme des chairs d’enfants,

Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,

Et d’autres, corrompus, riches et triomphants.

Ayant l’expansion des choses infinies,

Comme l’ambre, le musc, le benjoin et l’encens,

Qui chantent les transports de l’esprit et des sens.

Dịch xuôi:

Giao Ứng

Tự nhiên là một ngôi đền thiêng, những cột sống ngàn năm,
Đôi khi chợt thốt lên bao lời mơ hồ, bí ẩn;
Người lữ khách đi qua rừng biểu tượng vô tận,
Chúng dõi nhìn ta bằng ánh mắt thân quen.

Như tiếng vọng ngân dài từ cõi thẳm xa xăm,
Hòa quyện vào một thể nhất nguyên, sâu và tối,
Bao la tựa đêm dày, mênh mông như nắng mới,
Màu sắc, hương thơm cùng âm thanh khẽ giao hòa.

Có hương thơm mát lành tựa da thịt trẻ thơ,
Dịu ngọt tựa tiếng kèn, xanh rờn như đồng nội,
Và có hương nồng nàn, suy đồi nhưng mời gọi,

Mang sức mạnh lan tràn của vạn vật vô biên,
Như hổ phách, xạ hương, nhựa thơm và trầm hương,
Hát khúc ca ngất ngây của thể xác, tâm hồn.

Cũng như bài “La Géante”, bài này cũng tuân thủ nghiêm ngặt thể thơ sonnet cổ điển của Pháp với các đặc điểm là đúng 14 câu. Mỗi câu là một câu thơ Alexandrin tiêu chuẩn gồm 12 chân (pieds/syllabes), tức 12 âm tiết. Chúng được chia làm 4 khổ gồm hai khổ bốn (quatrains) và hai khổ ba (tercets). Tổng số âm tiết là 168 cho toàn bài thơ.

Điểm khác biệt duy nhất về mặt hình thức giữa hai bài thơ này nằm ở cấu trúc gieo vần (schéma de rimes) cả ở hai khổ đầu (hai khổ bốn) và hai khổ cuối (hai khổ ba). Trong “Correspondances”, hai khổ đầu đều sử dụng vần ôm (ABBA ABBA); còn trong “La Géant” thì là vần gián cách (ABAB ABAB). Ở hai khổ cuối, trong “Correspondances”, đó là CDC DEE (Vần ôm rồi đến vần liên tiếp); ở “La Géante” thì cấu trúc vần hai khổ cuối lại là CCD EDE (vần giao thoa kiểu Pháp tiêu chuẩn).

[3] Nguyên văn bài thơ Cây chuối/Ba tiêu của Nguyễn Trãi:

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem.

Nguyễn Trãi đã có một liên tưởng vô cùng táo bạo và tinh tế khi ví đọt lá chuối non đang cuộn chặt như một “bức thư tình” (tình thư) còn niêm phong kín đáo. Nhà thơ nhân hóa ngọn gió xuân giống như một người tình phong lưu, lãng tử. Ngọn gió lướt qua như đang “gượng mở” – vừa e ấp, nhẹ nhàng, vừa tò mò muốn khám phá bí mật bên trong bức thư tình của thiên nhiên.

Hai câu thơ được trích ra không chỉ tả thực vẻ đẹp của cây chuối lúc sang xuân mà còn phản chiếu một tâm hồn yêu đời, trẻ trung, nhạy cảm và tràn đầy sức sống của nhà thơ Ức Trai.

This entry was posted in Nghiên cứu Phê bình and tagged . Bookmark the permalink.