Không chỉ có Nỗi buồn chiến tranh

Đỗ Ngọc Thống

Chương trình Ngữ văn 2018 chủ trương cung cấp cho học sinh cách đọc một số thể loại tác phẩm văn học, trong đó có tiểu thuyết hiện đại/hậu hiện đại và những hiểu biết về thành tựu văn học dân tộc giai đoạn văn học từ sau 1975. Vì thế sách giáo khoa Ngữ văn đã bổ sung một số tác phẩm mới xuất hiện lần đầu trong nhà trường, một số tác phẩm vừa phù hợp với tâm lí lứa tuổi, vừa tiêu biểu cho thể loại, phản ánh được thành tựu của văn học Việt Nam đương đại. “Văn học Việt Nam đương đại” ở đây được hiểu là giai đoạn văn học sau 1975, đặc biệt là thời kì đổi mới từ 1986 đến nay, nhiều nhà văn còn sống, vẫn đang sáng tác.

Việc hai bộ sách Cánh Diều và Chân trời sáng tạo không được lựa chọn dạy trong năm học tới cũng có nghĩa là hàng loạt các tác phẩm, tác giả văn học Việt Nam đương đại “bị loại” ra khỏi nhà trường. Như thế không chỉ có Nỗi buồn chiến tranh mà có rất nhiều tác phẩm, tác giả văn học Việt Nam đương đại sẽ chịu chung số phận; chỉ riêng với bộ Cánh Diều, sẽ gồm:

– Lớp 6: truyện có Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh), Điều không tính trước (Nguyễn Nhật Ánh), Chích bông ơi (Cao Duy Sơn), Nắng trưa bồi hồi (Phong Thu). Kí có: Đồng Tháp Mười mùa nước nổi (Văn Công Hùng). Thơ lục bát gồm: À ơi tay mẹ (Bình Nguyên), Về thăm mẹ (Đinh Nam Khương), Những điều bố yêu (Nguyễn Chí Thuật) .

– Lớp 7: có truyện Búp sen xanh (Sơn Tùng). Kí: Người ngồi đợi trước hiên nhà (Huỳnh Như Phương), Tiếng chim trong thành phố (Đỗ Phấn). Thơ có: Mẹ (Đỗ Trung Lai), Mẹ và quả (Nguyễn Khoa Điềm), Một mình trong mưa (Đỗ Bạch Mai), Rồi ngày mai con đi (Lò Cao Nhum – dân tộc Thái).

– Lớp 8: truyện gồm Người mẹ vườn cau (Nguyễn Ngọc Tư), Chuỗi hạt cườm màu xám (Đỗ Bích Thúy). Thơ gồm: Nếu mai em về Chiêm Hóa (Mai Liễu – dân tộc Tày), Quê người (Vũ Quần Phương). Kịch: Bệnh sĩ (Lưu Quang Vũ).

– Lớp 9: truyện có Những con cá cờ (Trần Đức Tiến), Chị tôi (Nguyễn Thị Thu Huệ). Thơ có: Nói với con (Y Phương – dân tộc Tày ), Nhật kí đô thị hóa (Mai Văn Phấn).

– Lớp 10: truyện Người ở bến sông Châu (Sương Nguyệt Minh). Thơ gồm: Lính đảo hát tình ca trên đảo (Trần Đăng Khoa), Mùa hoa mận (Chu Thùy Liên – dân tộc Hà Nhì).

– Lớp 11: truyện Tầng hai (Phong Điệp). Thơ: Sông Đáy (Nguyễn Quang Thiều). Kí có: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Vào chùa gặp lại (Minh Chuyên). Kịch: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ).

– Lớp 12: truyện gồm Một người Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh). Thơ có Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), Thời gian (Văn Cao), Tháng Tư (Nguyễn Linh Khiếu). Kí gồm: Nhật kí (Đặng Trùy Trâm), Khúc tráng ca nhà giàn (Xuân Ba). Kịch: Mùa hè ở biển (Xuân Trình).

Ngoài các nhà văn Việt Nam đương đại còn có một số tác phẩm nổi tiếng nhưng lần đầu có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn như: Bài thơ của người yêu nước mình (Trần Vàng Sao), Đi trong hương tràm (Hoài Vũ), Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi), Kim tiền (Vi Huyền Đắc), Đường về quê mẹ (Đoàn Văn Cừ), Hoàng tử bé (Ê-xu-pê-ri), Bên bờ Thiên Mạc (Hà Ân), Trưa tha hương (Trần Cư)…

Tóm lại từ năm học tới (2026-2027), chưa kể sách Tiếng Việt tiểu học, giáo viên và học sinh đang dùng sách giáo khoa Ngữ văn bộ Cánh Diều (từ lớp 6 đến lớp 12) sẽ không được học các tác phẩm nêu trên; không phải chỉ có Nỗi buồn chiến tranh. Xin trân trọng thông báo với các nhà văn, giáo viên và các em học sinh.

Rất tiếc nhưng đành thành thật xin lỗi, dù đó không phải lỗi của chúng tôi.

Hà Nội 16/05/2026

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.