Nguyễn Khánh Dư – Ông đạo diễn toàn chơi với… trẻ con

Hồ Anh Thái

Vẫn quen nghĩ Nguyễn Khánh Dư là người hiền hậu chỉ biết chơi với trẻ con, phim của ông thì dịu dàng trong trẻo thơ mộng, nên đến phim Những đứa con (1977, dựa theo truyện ngắn của Nguyễn Kiên) người xem cũng hơi bất ngờ. Có những trường đoạn thật là dữ dội.

Anh quay phim bị mẹ vợ truy nã

Đạo diễn – NSND Nguyễn Khánh Dư

Sau tiếp quản thủ đô, từ năm 1955 anh cán bộ nhiếp ảnh Nguyễn Khánh Dư thuộc Nha Thông tin tuyên truyền mới chính thức trở thành nhà quay phim. Cầm cái máy quay chiến lợi phẩm anh bắt đầu quay những thước phim tài liệu đầu tiên. Giữa thủ đô hòa bình, anh bắt gặp gương mặt trong trẻo của một cô bé rất phù hợp cho một trường đoạn trong bộ phim đang làm. Anh đến nhà cô bé để xin phép quay phim. Ở đó anh gặp người chị của cô bé, và họ cảm mến nhau ngay từ những ngày đầu tiên.

Nhưng tình duyên của chàng quay phim không dễ dàng đến thế. Bà mẹ cô gái vốn thành kiến với cái nghề văn công, bà cấm cửa. Bà là nhà tư sản nhưng từng là cơ sở cho Việt Minh chống Pháp nên nói với một cán bộ cùng đội hoạt động nội thành: Hễ thấy cái “thằng tóc quăn” ấy ở đâu thì gô cổ lại cho tôi. Anh cán bộ nói lại, chẳng có lý do gì, bắt người làm sao được. Rõ chán, nuôi giấu cán bộ bao nhiêu năm, giờ chỉ nhờ có mỗi một việc mà không làm được.

Nguyễn Khánh Dư và cô Mai gặp nhau phải bí mật rồi cũng qua được mắt bà mẹ. Cưới nhau mà không được gia đình cô đồng ý, vợ chồng phải sống trong một góc phòng tập thể, chia nhau diện tích với ba thanh niên độc thân khác. Bà mẹ sắt đá thế, nhưng nghe nói con khổ sở chui rúc trong nhà tập thể, bà cám cảnh thương xót gọi vợ chồng Dư Mai về, cho ở một căn phòng trong nhà. Thế là hòa giải được với mẹ.

Anh quay phim Nguyễn Khánh Dư sinh năm 1933, quê ở mãi xứ nước non Cao Bằng. Cô vợ trẻ người Hà Nội hàng năm phải theo chồng về quê, lo cúng giỗ tết nhất. Đường lên Cao Bằng ngoằn ngoèo đèo dốc, cô lại bị say xe, mỗi lần về quê chồng là tái xanh tái xám đi đứng lảo đảo. Nhưng việc nhà chồng thì một tay thu xếp chu toàn.

Thành tựu là những thước phim kinh điển

Hậu phương như vậy là yên tâm, nhà quay phim trẻ sôi nổi xốc vác lao vào công việc đam mê của mình. Về quay phim Nguyễn Khánh Dư là tay máy thuộc loại cây đa cây đề của điện ảnh Việt Nam. Chuyển sang quay phim truyện, ông vẫn thể hiện rõ sự tài hoa qua những khuôn hình ấn tượng đầy cá tính. Thời máy quay và các thiết bị còn thô sơ, ông đã tìm tòi và sử dụng những thao tác mà bạn nghề cũng khó tưởng tượng được. Cú đảo máy và lướt máy trong trường đoạn chị Tư Hậu bị cưỡng bức thể hiện tâm trạng hoảng loạn và chao đảo của nhân vật. Cú trượt và lắc máy ở trường đoạn bà mẹ người Thái (Sơn La) tìm lại đứa con trai thất lạc mấy chục năm, bà như bay lên với điệu múa Lào giữa vòng người múa Lăm Vông (phim Hai người mẹ 1974). Diễn viên Thụy Vân khi ấy đã xuất thần trong một vũ điệu như đất trời ngả nghiêng. Cú ngả nghiêng đất trời ấy là sáng tạo của tay máy Nguyễn Khánh Dư.

Mới đây gặp lại cô Mai, vợ chú Khánh Dư, tôi được cô kể cho nghe những chuyện vui làm phim thời ấy. Khi Khánh Dư quay cảnh vợ chồng chị Tư Hậu trên chiếc giường trong căn nhà mái lá, một đám người chen chúc vào xem. Những cảnh quay như vậy lạ lẫm và gây ra sự hiếu kỳ. Cô vợ trẻ của Khánh Dư cũng chen vào cùng xem với mọi người. Thế là nhà quay phim cáu: Đuổi hết ra ngoài đi, xúm đông vào thế này, chúng nó diễn làm sao được.

Ở phim Người chiến sĩ trẻ, có lần phải quay từ trên không, nhà quay phim Khánh Dư ôm máy, thò đầu ra khỏi chiếc trực thăng đang bay, có hai người đứng đằng sau giữ chân cho khỏi bay xuống. Ống kính chĩa xuống nữ diễn viên Minh Đức đang chạy quanh bờ ao bên dưới. Vợ nhà quay phim cũng đứng ở bên dưới nhìn lên chiếc trực thăng vòng qua vòng lại mấy lần mà thót tim.

Trong giới quay phim, Nguyễn Khánh Dư gây được ấn tượng bằng những khuôn hình đạt đến độ kinh điển, đến giờ vẫn mang tính giáo khoa cho sinh viên ngành điện ảnh. Ông cũng nhiều lần được trao giải Bông Sen Vàng, Bông Sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam, và cả giải Bồ Câu Vàng với điểm 10 tuyệt đối tại Liên hoan phim quốc tế Leipzig năm 1975 cho phim Thành phố lúc rạng đông.

Vui đùa rồi dắt trẻ con lên phim 

Từ năm 1976, Nguyễn Khánh Dư chuyển sang làm đạo diễn phim truyện. Tính tình sôi nổi và hết mình trong mọi việc, ở ông còn có cái hồn nhiên trong trẻo của trẻ thơ, nên dễ kết bạn với lũ trẻ. Mê bộ phim truyện đầu tiên ông làm đạo diễn, phim Đứa con nuôi, tôi đến chơi luôn luôn, rồi được coi như con cháu trong nhà. Thời ấy đang là sinh viên Đại học Ngoại giao, tôi kể chuyện học hành viết lách. Chú Dư ngồi nghe như nghe một người bạn, rồi chú kể cho tôi nghe ý tưởng về những bộ phim sắp tới, cũng như nói với một người bạn. Cô Mai có gì ngon thì đem ra cho ăn, giống như khi cô tiếp đãi bạn bè văn nghệ sĩ của chú. Tôi khen cô nấu ngon, cô bảo: Chẳng qua là bạn bè chú nhiều người thích uống rượu, cô làm cho vui… Cô Mai có món nem cuốn đặc biệt đúng chất Hà Nội, bây giờ khó tìm thấy ở hàng quán đại trà. Mà quán xá bây giờ cũng gọi nó là gỏi cuốn, cái tên chẳng còn gì là nhẹ nhõm thanh tao.

Tính cách như chú Dư thì dễ làm quen và dễ thân với trẻ con. Bên hàng xóm có thằng bé khoảng mười tuổi mê bác Dư, suốt ngày nó sang nhà chú như ở nhà mình. Cái gì cũng bác Dư bác Mai. Phụng phịu như làm nũng. Ấy thế mà thằng bé ấy lớn lên lúc nào chẳng biết, chú Dư định hướng cho thi vào học quay phim Đại học Sân khấu điện ảnh, rồi trở thành nhà quay phim của vô tuyến truyền hình.

Những đứa trẻ con của chú Dư giờ làm gì ở đâu, chắc vẫn nhớ chú Dư từng dẫn chúng đi chơi, rồi từ từ dẫn chúng nó vào phim luôn? Một bước từ ngoài đời đi vào trong phim, chúng nó chơi đùa ngây thơ, chúng nó cũng ưu tư trước bao lo toan của người lớn, cũng phải trải qua bom đạn chiến tranh cùng với người lớn. Người gợi cho chúng nó tất cả những cảm xúc ấy, không chỉ có biệt tài phát hiện diễn viên thiếu nhi, mà còn biết khơi gợi để cho chúng được sống thật tự nhiên một cuộc đời khác trên màn ảnh.

Đấy chính xác là việc chú Dư đã làm khi thực hiện phim Mẹ vắng nhà (1979, theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Thi, không phải là truyện ký Người mẹ cầm súng như chương trình Ký ức phim Việt đã nhầm). Người mẹ đi chiến đấu, mẹ vắng nhà rồi, không gian này chỉ còn là đứa chị với đàn em lít nhít. Chị lôi kéo em vào những trò chơi, chị dạy em và cứu em lúc bom đạn. Thằng em út mới chỉ ba tuổi mà vào phim hồn nhiên như không coi máy quay phim là gì. Tôi hỏi: Chú làm thế nào mà bảo được chúng nó diễn như vậy? Chú bảo: Có gì đâu, thì dẫn cả mấy đứa chúng nó đi chơi đi ăn chè ăn kem. Ngày nào cũng thế, giao hẹn: diễn tốt thì có thưởng. Thằng cu út phải diễn cảnh phá đám, nó bắt chim đứng đái vào chỗ đang chơi. Chú Dư cho nó uống nước dừa no căng bụng, treo giải: uống một ly nước dừa thì tối được ăn hai ly chè. Cu út hăng hái uống. Rồi bắt chim chạy vòng vòng đái ngay, bất kể máy quay. Nó chạy được một vòng thì đứng lại ngước lên nói với đạo diễn: Con đái hết nước rồi. Cũng vừa lúc kết thúc cảnh quay.

Phim này khi đem chiếu ở trong nước và nước ngoài đều khiến khán giả cười rộ. Cười với lũ trẻ con hồn nhiên thơ ngây mà vắng bàn tay chăm sóc của người mẹ. Cười rồi lại quặn lòng vì lũ trẻ ấy phải trưởng thành trước tuổi dưới mưa bom bão đạn. Phim được ghi nhận bằng giải Bông Sen Vàng của liên hoan phim Việt Nam và giải Quả Cầu Pha Lê của Liên hoan phim quốc tế Carlovy Vary, Cộng hòa Czech.

Một số cảnh trong phim “Mẹ vắng nhà” của đạo diễn Nguyễn Khánh Dư

Phim Đứa con nuôi, kịch bản do chính nhà văn Nguyễn Khải viết riêng cho chú Khánh Dư. Truyện này thuộc số những truyện ngắn thời kỳ đầu của Nguyễn Khải, chưa duy lý lạnh lẽo như phong cách của ông sau này. Dù vậy, kịch bản phải qua tay xử lý của Khánh Dư thì mới trở nên ấm áp nồng nàn, mới tràn đầy yêu thương như vậy.

Cô bé Tấm mồ côi cha mẹ, từ bé đã phải đi làm thuê đi giúp việc, nên mặt thì còn non nhưng lòng đã đầy nghi kỵ, không tin là có ai tốt với mình. Vợ chồng anh bộ đội Cừ nhận nó làm con nuôi, đưa về sống giữa nông trường Điện Biên chỉ mấy năm sau kháng chiến chống Pháp. Từ chỗ ngờ vực và thủ thế, cô bé được chứng kiến cảnh bộ đội và công nhân nông trường nương tựa giúp đỡ lẫn nhau. Lòng tốt của những người xung quanh đều tự nhiên hồn hậu, dần dần thay đổi được cách nghĩ của đứa trẻ, và cũng khiến cho nó trở lại hồn nhiên đúng với độ tuổi thiếu nhi.

Vẫn quen nghĩ Nguyễn Khánh Dư là người hiền hậu chỉ biết chơi với trẻ con, phim của ông thì dịu dàng trong trẻo thơ mộng, nên đến phim Những đứa con (1977, dựa theo truyện ngắn của Nguyễn Kiên) người xem cũng hơi bất ngờ. Có những trường đoạn thật là dữ dội: thằng đại úy người Việt trong quân đội Pháp túm cổ đứa trẻ sơ sinh vung vẩy tra tấn hòng lấy được lời khai nơi ẩn nấp của bộ đội Việt Minh. Cả bộ phim man mác hiền lành bỗng đẩy lên cao trào, và phải quyết liệt như thế mới thấm thía được sự đùm bọc chia sẻ sau đó của những nạn nhân chiến tranh với nhau.

Cái quyết liệt ấy khi cần thì cũng có, ẩn sâu trong con người chỉ thích chơi với trẻ con. Khi phim Không có đường chân trời (1986) được đặt lên bàn duyệt, nguy cơ khó được chiếu, buổi trưa chú Dư nói với cô Mai: Tôi ăn bữa này để chiều nay còn “chiến đấu”, quyết phải làm cho phim này ra mắt bằng được.

Hãng phim thành lập xưởng phim thanh thiếu nhi, còn ai khác làm giám đốc xưởng được nữa, chỉ có Khánh Dư thôi – người ta bảo nhau. Thế là ông phải dành thêm thời gian làm quản lý, lo cho người này người khác làm phim, phim anh em làm xong thì đưa đi duyệt, đi bảo vệ, rồi theo dõi phản hồi của công chúng. Thời gian eo hẹp nhưng Nguyễn Khánh Dư vẫn dành ra để làm phim của mình. Sơn ca trong thành phố (1983) là một bộ phim ríu rít trẻ thơ khác của ông. Phim thiếu nhi nhưng cũng có theo dõi phá án và đuổi bắt như người lớn.

Vân Dung và Phương Thanh trong phim “Những đứa con” của đạo diễn Nguyễn Khánh Dư

Lưu giữ những cảnh sắc một thời

Tôi được chú Dư cô Mai quý, cũng rất tự nhiên anh Khánh Sơn và Nguyễn Lâm cũng coi tôi như người nhà. Anh Sơn thỉnh thoảng mang thẻ xem phim nghiên cứu rủ tôi đi xem, thời ấy rất ít người có thẻ này, dùng để xem “phim tư bản”. Khi tôi đang làm việc ở bộ Ngoại giao rồi lên đường làm nghĩa vụ quân sự, anh Sơn tặng tôi một quyển sách và một đôi găng tay bằng len. Đôi găng tay quả là ấm áp trong những đêm quân ngũ lạnh giá.

Rồi tôi đi công tác xa nhiều năm, một ngày trở lại thấy chú Dư đã héo hon vì bệnh tuổi già. Bệnh tim mạch và đường hô hấp. Chú không nằm mà thở được, phải ngồi trên giường, hai tay chống ra sau lưng, ngửa cổ lên mới có thể hớp được không khí. Ông trời không công bằng với con người từng ngang dọc vẫy vùng và chỉ biết bày trò vui chơi với trẻ con ấy. Khi biết mình khó qua khỏi, chú nói với Lâm: Người ta nói anh em kiến giả nhất phận, ai có thân thì tự lo, nhưng câu đó không được áp dụng trong nhà mình. Anh Sơn hiền lành chậm chạp, con nhanh nhẹn thì phải lo cho anh…

Tôi hỏi xin một tấm ảnh chân dung chú Dư, cô Mai nói: Có cả chục tập album, ảnh chân dung, ảnh gia đình, các cảnh quay phim… Truyền hình đến quay phim làm chương trình, mỗi người mượn một ít rồi chẳng trả lại, giờ chỉ còn mỗi cái ảnh thờ thôi.

Phim Đứa con nuôi làm năm 1976, bây giờ sau năm mươi năm, tôi ngồi xem lại vẫn thấy nguyên vẹn cảm xúc ấm nồng của những con người chỉ biết yêu thương nhau, lấy sự chân tình mà đáp lại ngờ vực, nếu có. Phim Những đứa con (1977) tôi cho là hay nhất của chú Nguyễn Khánh Dư, có đủ các sắc độ dịu dàng trữ tình lẫn dữ dội khốc liệt. Một nhà quay phim đầy chất thơ khi làm đạo diễn đã lấp đầy những khuôn hình của mình chất trữ tình dịu dàng mộng mơ. Phim Đứa con nuôi lưu giữ những cảnh sắc của nông trường Điện Biên thời mới hòa bình, bây giờ khung cảnh đã hoàn toàn khác xưa. Nhớ một cảnh phim: sáng sớm, những giọt sương đọng trên tấm mạng nhện rung rinh trên bờ ruộng, và chiếc máy cày như lướt đi đằng xa trong ban mai yên ả. Phim Những đứa con lưu giữ cảnh sắc của vùng khu Ba, nơi đồng bằng Bắc bộ với những chiếc vó bè to sũng nước. Ông già ngồi trầm ngâm trong chiếc lều canh vó bè với cút rượu, nhận cái bánh đa từ tay con bé cháu và bẻ lại cho nó phần bánh to. Ở bên dưới bờ nước, những con chuồn chuồn cắn đuôi nhau đậu trên cành lá đang dập dờn. Còn phim Đàn chim trở về (1985) thì trải ra trước mắt ta một cái sân phơi đầy những bức tranh của làng nghề vẽ tranh dân gian, và những vườn chim với đàn cò trắng rợp trời.

Nhờ con mắt quan sát và sự tái hiện của đạo diễn Nguyễn Khánh Dư, mà bây giờ ta còn được thấy lại những khung cảnh dường như chỉ có một thời rồi khó bao giờ tìm lại được nữa.

This entry was posted in Văn and tagged . Bookmark the permalink.