Tác giả: Frank Dikötter
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

7. Chờ thời cơ
(1941–1945)
Vào ngày 13 tháng 4 năm 1941, trước sự thất vọng của Trùng Khánh, Moscow đã ký một hiệp ước trung lập với Tokyo. Hiệp ước này ngăn cản Liên Xô hỗ trợ quân sự cho Trung Quốc. Tệ hơn nữa, cùng ngày đó, một tuyên bố đã được ký kết, theo đó Moscow công nhận toàn vẹn lãnh thổ của Mãn Châu Quốc, trong khi Nhật Bản cũng công nhận điều tương tự đối với Mông Cổ. Điều này vi phạm mọi thỏa thuận đã ký kết giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặc biệt là Hiệp ước Không xâm lược năm 1937. Tại Trùng Khánh, giọng điệu trở nên quyết liệt chống Liên Xô, với các bài báo trên báo chí chỉ trích gay gắt Moscow. Sự bất mãn âm ỉ đối với sự hỗ trợ vật chất và tinh thần của Quốc tế Cộng sản dành cho phe Cộng sản đã bùng phát thành điều mà một nhà ngoại giao gọi là “cơn bùng nổ của niềm đam mê chống Cộng”. Khi chưa đầy hai tháng sau đó, 3 triệu binh sĩ Đức vượt qua biên giới Nga trong một cuộc tấn công ba mũi, khiến Stalin hoàn toàn bất ngờ, ít ai tại Trùng Khánh bày tỏ sự đồng cảm. Bản thân Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần dự đoán cuộc tấn công này, thậm chí còn chỉ ra ngày 21 tháng 6 năm 1941 là thời điểm cụ thể. Nỗi lo của ông lúc này là Nga sẽ sụp đổ quá nhanh, còn hy vọng của ông là sự hỗ trợ của Moscow dành cho phe Cộng sản sẽ suy giảm. 1
Nhật Bản, thay vì tận dụng cơ hội để tiến quân vào Siberia và chiếm các mỏ dầu, vẫn còn bị chấn động bởi cuộc đụng độ thảm khốc với lực lượng thiết giáp Liên Xô hai năm trước đó. Tokyo thà chờ Đức chiếm Moscow trước. Nhưng khi rõ ràng rằng phát xít Đức hầu như không tiến được bao xa trên những đồng bằng rộng lớn của Nga, Tokyo đã chọn một canh bạc liều lĩnh, đó là lao vào các mỏ dầu, cao su và thiếc phong phú ở Đông Nam Á. Lệnh cấm vận thương mại đối với Nhật Bản khiến các thuộc địa của Anh và Hà Lan trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết, mặc dù điều này đòi hỏi phải kiểm soát Thái Bình Dương, từ đó ngụ ý một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ. Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản đã tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng, buộc Hoa Kỳ phải tham chiến. Đến tháng 2 năm 1942, toàn bộ Đông Nam Á đã nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của Nhật Bản, bao gồm Philippines thuộc Mỹ, Hồng Kông thuộc Anh, Indonesia thuộc Hà Lan, Xiêm, các bang Mã Lai, Singapore và Miến Điện. Tất cả các tuyến đường tiếp tế đến Trùng Khánh, ngoại trừ con đường caravan gian nan băng qua Mông Cổ, đều đã bị cắt đứt.
Tại Trùng Khánh, người Mỹ đã thay thế người Nga từ tháng 3 năm 1941, khi Quốc hội thông qua Đạo luật Cho vay và Cho thuê (Lend-Lease Act), đưa Trung Quốc vào chính sách cung cấp lương thực, dầu mỏ và vật tư chiến tranh cho các nước Đồng minh. Các phi công bắt đầu đến, được tuyển mộ và huấn luyện bởi Claire Chennault, một đại úy quân đội Mỹ đã nghỉ hưu, người đã làm cố vấn cho Không quân Trung Quốc kể từ Sự kiện Cầu Marco Polo vào tháng 7 năm 1937. Trong một sự đảo ngược lớn, ngay khi người Mỹ đến, các chuyên gia quân sự Nga bắt đầu rời Trùng Khánh, được triệu hồi để bảo vệ đất nước của họ. Tuy nhiên, người Mỹ không thể sánh ngang với người Nga về viện trợ tài chính và quân sự. Roosevelt sẵn sàng giúp đỡ, nhưng vẫn bám sát chính sách “Ưu tiên châu Âu”, nghĩa là Trung Quốc phải đóng vai trò thứ yếu, không bao giờ được đối xử ngang hàng với Anh hay Liên Xô. Với sự hỗ trợ từ bên ngoài hạn chế, Tưởng Giới Thạch bắt đầu thu hẹp các hoạt động quân sự và thay vào đó chuẩn bị cho cuộc đối đầu không thể tránh khỏi với phe Cộng sản. 2
Ngay khi Đức xâm lược Liên Xô, Mao, giống như tất cả các nhà Cộng sản, lại phải thay đổi giọng điệu một lần nữa, chuyển từ việc lên án “cuộc chiến đế quốc” – được cho là do Pháp, Anh và Mỹ phát động – sang lên án “chủ nghĩa phát xít quốc tế”, và kêu gọi chiến đấu cùng với Pháp, Anh, Mỹ và các đồng minh khác. Ông đã làm điều này một cách dễ dàng, kêu gọi thành lập “Mặt trận Thống nhất Quốc tế chống chủ nghĩa phát xít ” vào ngày 23 tháng 6 năm 1941. Moscow rất hài lòng, đồng ý vào ngày 9 tháng 7 gửi 1 triệu USD theo từng đợt đến Diên An, ngay cả khi mọi viện trợ cho Trùng Khánh đã bị ngừng lại. Số tiền này, như thường lệ, đi kèm với điều kiện, cụ thể là việc thành lập một Mặt trận Thống nhất quốc gia và cam kết làm chậm bước tiến của quân Nhật nếu họ tấn công Liên Xô. Diên An hứa sẽ “cải thiện quan hệ” với chính phủ trung ương, nhưng phản đối rằng lực lượng của họ quá yếu, đạn dược cạn kiệt và lãnh thổ quá hẹp để có thể phối hợp các hoạt động quân sự quy mô lớn. Họ yêu cầu thêm vũ khí và đạn dược. Sau khi những lời kêu gọi của họ bị từ chối và quân Đức tiến gần hơn đến Moscow, những người Cộng sản bắt đầu nghi ngờ người bảo trợ của mình, trở nên công khai thù địch. Mô hình tương tự sẽ lặp lại trong những năm tiếp theo, cụ thể là những lời răn đe từ Moscow yêu cầu đoàn kết với Trùng Khánh và chống lại Nhật Bản, luôn luôn được theo sau bởi những cam kết được đưa ra rồi lại bị Diên An phá vỡ. 3
Mao, giống như Tưởng Giới Thạch, đặt niềm tin vào Hoa Kỳ và Liên Xô để đánh bại Nhật Bản. Ông cũng cố thủ, quyết tâm bảo toàn lực lượng thay vì chiến đấu với kẻ thù. Ông bắt đầu chuyển sự chú ý sang Đảng, mong muốn rèn luyện hàng ngũ và chuẩn bị cho cuộc nội chiến đang rình rập phía trước.
***
Trong nhiều năm, Mao đã nỗ lực khẳng định mình là một nhà lý luận Marxist, điều được coi là phẩm chất không thể thiếu đối với bất kỳ nhà lãnh đạo Cộng sản nào xứng đáng. Trong nhiệm vụ này, ông được Chen Boda (Trần Bá Đạt 陈伯达) hỗ trợ – một thanh niên ham đọc sách nhưng đầy tham vọng, từng được đào tạo tại Moscow và sau này trở thành người viết hộ cho ông. Cùng nhau, họ soạn thảo cuốn “Về Dân chủ Mới”, một cuốn sách nhỏ được xuất bản vào tháng 1 năm 1940, mô tả Đảng Cộng sản như một mặt trận rộng lớn nhằm đoàn kết tất cả các “lớp cách mạng”, bao gồm cả “tầng lớp tư sản dân tộc”, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc, theo quan điểm của Mao, là một xã hội bán thuộc địa và bán phong kiến, đòi hỏi một cuộc cách mạng hai giai đoạn: trước tiên là cách mạng dân chủ, sau đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa. “Dân chủ mới”, ông giải thích, không phải là nền dân chủ cũ đã phá sản, bị chi phối bởi một thiểu số tư sản như thường thấy ở các nước tư bản, mà là “chế độ chuyên chính liên hiệp của tất cả các giai cấp cách mạng”, một đa số thực sự được bảo vệ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mao chào đón tất cả “những người cách mạng”, bao gồm cả “trí thức” và thậm chí cả những thành phần của “tầng lớp tư sản”. Ông hứa hẹn một hệ thống đa đảng, quyền bầu cử phổ thông và bình đẳng, các quyền tự do dân chủ và bảo vệ tài sản tư nhân. Đó là một chương trình hoàn toàn hư cấu, nhưng lại có sức hấp dẫn rộng rãi trong quần chúng. 4
Vài năm trước đó, chính phủ trung ương đã tổ chức bầu cử đại biểu vào Quốc hội, với nhiệm vụ thông qua hiến pháp cho Cộng hòa Trung Hoa. Sau khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1937, các đại biểu đã không thể họp được. Vào tháng 11 năm 1940, sau khi Quốc Dân Đảng rút lui đến nơi an toàn ở Trùng Khánh, Quốc hội lại được triệu tập một lần nữa. Nhưng khi quân đội chính phủ trung ương đụng độ với lực lượng Cộng sản vào tháng sau đó, cuộc họp lại bị hoãn một lần nữa, lần này là cho đến khi chiến tranh kết thúc. Vào tháng 11 năm 1937, Mao đã phản đối việc đại diện nhân dân, một phần vì theo quan điểm của ông, “một số lượng lớn đảng viên có xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản”. Nhưng khi Trùng Khánh hoãn kỳ họp Quốc hội, ông đã nắm bắt cơ hội này để phát động một chiến dịch ủng hộ “chính phủ hiến pháp”, ra lệnh thành lập các Hiệp hội Thúc đẩy Chính phủ Hiến pháp trên khắp các vùng lãnh thổ do lực lượng Cộng sản kiểm soát. Vào tháng 3 năm 1940, trong khuôn khổ chủ nghĩa Dân chủ Mới, Mao đã đưa ra các cuộc bầu cử cho Hội đồng Chính trị Nhân dân, dựa trên cái gọi là hệ thống “Một phần ba” (còn gọi là “Ba phần ba”). Hệ thống này hoạt động như sau: Đảng viên Đảng Cộng sản chiếm một phần ba, đại diện cho “giai cấp vô sản” và “người nghèo”; “các thành phần tiến bộ” không thuộc Đảng Cộng sản, đại diện cho “tầng lớp tiểu tư sản”, cũng được phân bổ một phần ba; và “các thành phần trung gian”, đại diện cho “tầng lớp quý tộc khai sáng”, được giao phần ba còn lại. Việc xác định ai là “tiến bộ” và ai là “khai sáng” hoàn toàn do Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định, cũng như quyết định cấm những người bị định nghĩa là “kẻ phản bội” hoặc “phản cách mạng” tham gia vào quá trình bầu cử. 5
Hệ thống Một Phần Ba, giống như nền Dân chủ Mới, dựa trên một nguyên tắc Leninist gọi là “chủ nghĩa tập trung dân chủ”, có nghĩa là tất cả các quyết định chính trị quan trọng đều được đưa ra thông qua một quá trình bỏ phiếu có tính ràng buộc đối với tất cả các đảng viên Đảng Cộng sản. Trong hệ thống này, các đảng viên bỏ phiếu bầu ra Đại hội Toàn quốc vài năm một lần, và các đại biểu của đại hội này sau đó phê chuẩn thành phần của Ban Chấp hành Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương, sau khi được bầu, trên danh nghĩa sẽ chọn ra Bộ Chính trị (Politburo), gồm vài chục thành viên. Các quyết định hàng ngày được đưa ra bởi một Ban Thường vụ nhỏ hơn nhiều, thường gồm bảy hoặc tám thành viên cao tuổi. Người có quyền lực nhất là Chủ tịch. Trên thực tế, cấu trúc quyền lực lại bị đảo ngược, khi quyền lực tối cao chảy từ tay người đứng đầu kim tự tháp. Những người có quyền bỏ phiếu được trình bày một danh sách ứng cử viên, chỉ đơn thuần là phê chuẩn các quyết định đã được đưa ra ở cấp cao nhất. Như Mao đã giải thích, từ Đại hội Toàn quốc xuống đến các đại hội cấp tỉnh, huyện, quận và xã, ở mọi cấp độ, các cơ quan chính quyền tương ứng đều phải được bầu ra trong một “chế độ chuyên chính chung của tất cả các giai cấp cách mạng”. “Chỉ có một chính phủ dựa trên chủ nghĩa tập trung dân chủ mới có thể thể hiện đầy đủ ý chí của toàn thể nhân dân cách mạng và đấu tranh chống lại kẻ thù của cách mạng một cách hiệu quả nhất.” 6
Hệ thống “Một phần ba” được triển khai từ tháng 2 năm 1941 và hoàn tất vào cuối năm 1942. Thế giới trên giấy tờ khác xa so với thực tế trên thực địa, và phải dùng rất nhiều áp lực để thuyết phục những người không phải đảng viên tham gia bầu cử. Không có gì ngạc nhiên khi những cá nhân bị Đảng gán nhãn là “nông dân giàu” và “địa chủ” đã phản đối, cho rằng họ từng là mục tiêu trong cuộc cải cách ruộng đất và sẽ lại bị lợi dụng cho mục đích chính trị. “Họ đã lợi dụng các bạn trong quá khứ, họ sẽ lại lợi dụng các bạn,” như một trong số họ đã tóm tắt ngắn gọn. Mặt khác, các cán bộ Đảng cũng không kém phần nghi kỵ, lo sợ rằng quyền lực của họ sẽ bị suy yếu. Tại một số nơi, bao gồm cả tiểu khu Longdong (Long Đông龙东) vừa mới được giải phóng, hệ thống “Một phần ba” chỉ được áp dụng trên danh nghĩa, trong khi trên thực tế, tất cả các ứng cử viên không phải đảng viên đều bị coi là “thối nát” và bị loại bỏ ngay lập tức. Trong các trường hợp khác, ngược lại, các cán bộ địa phương bị cáo buộc là quá lỏng lẻo, cho phép các tên côn đồ địa phương hoặc những người hút thuốc phiện tham gia. Tuy nhiên, Đảng luôn phải đảm bảo đa số tuyệt đối, bất chấp ý tưởng về ba nhóm riêng biệt. Một ví dụ về tình huống cần tránh là huyện Ansai (An Tái安塞), nơi chỉ có 24 trong số 34 người được bầu là đảng viên. Đến năm 1944, đa số áp đảo các ứng cử viên được bầu tại 14 huyện ở Thiểm Tây là “nông dân nghèo”, đảm bảo rằng “các đảng viên Đảng Cộng sản và các lực lượng tiến bộ, xét về xuất thân giai cấp, kết hợp lại để đại diện cho một đa số áp đảo.” 7
Các ứng cử viên được coi là phù hợp đã được bầu vào Hội đồng Chính trị Nhân dân. Hội đồng này được cho là sẽ bầu ra và giám sát chính quyền. Tuy nhiên, ngay từ đầu đã được làm rõ rằng hệ thống này không phản ánh “sự phân chia quyền lực” giữa cơ quan giám sát và cơ quan hành pháp, cũng như không tồn tại “hai quyền lực ngang nhau” giữa hai cơ quan này. Ở mọi cấp độ, chính phủ vẫn là cơ quan nắm quyền hành pháp, và các thành viên hội đồng được bầu không thể sử dụng vai trò giám sát của mình “để kiềm chế quyền hành pháp của chính phủ”. Vai trò của họ càng bị thu hẹp hơn khi các thành viên hội đồng được bầu bị khuyến khích không dành thời gian cho công tác ủy ban bằng cách xin nghỉ việc tạm thời khỏi công việc chính của họ. “Mỗi huyện chỉ cần một thành viên toàn thời gian trong hội đồng là đủ,” bởi vì cần phải tránh sự xuất hiện của một thế lực đối trọng với ảnh hưởng của Đảng. 8
Gọi các cuộc bầu cử là trò lừa đảo sẽ là hiểu lầm. Mặc dù những người Cộng sản chưa bao giờ đại diện cho hơn một phần nhỏ của toàn bộ dân số, họ vẫn tin rằng mình đại diện cho đa số nông dân và công nhân, những người bị đàn áp bởi một thiểu số tư bản quyết tâm dùng mọi mưu mẹo để duy trì quyền lực. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản, nền dân chủ của đối thủ là một trò lừa đảo, một chế độ độc tài tư sản được ngụy trang mỏng manh, trong khi chế độ độc tài vô sản của chính họ mới là nền dân chủ chân chính duy nhất. Đó là một nỗ lực điển hình theo phong cách Orwell nhằm bóp méo ý nghĩa của từ ngữ và đảo lộn thế giới (“chiến tranh là hòa bình, tự do là nô lệ, vô tri là sức mạnh”). Nhân danh đa số vô sản, sự cảnh giác vĩnh viễn là điều bắt buộc, dựa trên nỗi sợ hãi lan rộng rằng “địa chủ”, “kẻ phản bội”, “phản cách mạng” và các phần tử xấu xa khác có thể lợi dụng các cuộc bầu cử để len lỏi vào Đảng và lật đổ nó từ bên trong. Điều này đã được làm hết sức rõ vào tháng 2 năm 1943, khi ở cấp cao nhất giải thích rằng kẻ thù đã xâm nhập vào hàng ngũ do một “sự hiểu lầm” về hệ thống bầu cử, với một số cán bộ lầm tưởng rằng “bất kỳ ai cũng có thể tham gia” và tự ứng cử. “Nếu không loại bỏ triệt để gián điệp và kẻ phản bội, chúng ta không thể xây dựng một nền Dân chủ Mới ổn định,” Đảng đã tuyên bố mạnh mẽ. 9
Đảng Cộng sản không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để ca ngợi nền Dân chủ Mới của mình, dù là thông qua chiến dịch tuyên truyền báo chí không ngừng nghỉ tại Trung Quốc Tự do – nơi các ấn phẩm cộng sản được phép lưu hành – hay thông qua các cuộc phỏng vấn với người nước ngoài tại Diên An – nơi các ấn phẩm Quốc dân đảng bị cấm. Tại Trùng Khánh, Chu Ân Lai không ngừng nghỉ trong việc tuyên truyền về những thành tựu của Đảng Cộng sản. Vào ngày 20 tháng 11 năm 1941, ông đã dành trọn một giờ đồng hồ gặp gỡ các thành viên của Phái đoàn Quốc hội Anh, phàn nàn rằng chính phủ trung ương chỉ nói suông về lý tưởng dân chủ. Chu Ân Lai yêu cầu phái đoàn này sử dụng ảnh hưởng của mình đối với dư luận quốc tế để thúc đẩy việc sớm thành lập một “quốc hội hiến pháp tại Trung Quốc”, đồng thời hỗ trợ việc đảm bảo “tự do cá nhân trong việc thực hành quyền tự do ngôn luận”. Hầu hết người nước ngoài đều bị lừa, nhưng người Nga thì không. Như Dimitrov đã ghi trong nhật ký của mình, Chu Ân Lai đang “tổ chức các cuộc họp bí mật với những kẻ thù của Tưởng Giới Thạch và các phóng viên nước ngoài nhằm chống lại Tưởng Giới Thạch”. 10
Mao cũng thỉnh thoảng tiếp đón các khách nước ngoài để quảng bá thông điệp về tự do và dân chủ của mình. Một trong số đó là Carel Brondgeest, một kỹ sư người Hà Lan đã trốn thoát khỏi Bắc Bình (Beiping) đang bị Nhật Bản chiếm đóng để đến Trùng Khánh qua Diên An vào tháng 1 năm 1942. Mao nói với ông rằng Đảng Cộng sản luôn “tuân thủ nghiêm ngặt” các cam kết của mình, và thậm chí đã thực hiện các biện pháp để giới hạn tỷ lệ đại diện của Đảng Cộng sản trong bất kỳ cơ quan chính phủ nào không quá một phần ba. “Chúng tôi không có ý định nào, dù là nhỏ nhất, trong việc thúc đẩy một cuộc cách mạng vô sản với chế độ độc tài,” Mao giải thích. Mục tiêu của ông, ngược lại, là “xây dựng một nước cộng hòa dân chủ mới nơi tất cả các tầng lớp đều được hưởng quyền bình đẳng”. Vài tháng sau, René d’Anjou và Georges Uhlmann, hai người Pháp, cũng đến thăm Diên An và báo cáo với thế giới rằng nhờ hệ thống “One Third (Một phần Ba)”, Đảng Cộng sản “dân chủ hơn” so với Quốc Dân Đảng. William Band, một giáo sư vật lý người Anh đã rời Đại học Yên Kinh (Yenching燕京) ở Bắc Bình ngay khi quân Nhật chiếm đóng trường này vào tháng 12 năm 1941, báo cáo rằng Đảng Cộng sản đã thiết lập “chính phủ dân chủ toàn diện đầu tiên mà đất nước này từng biết đến trong lịch sử lâu dài của mình”. “Hệ thống dân chủ” này, Band và vợ ông đã tốt bụng bổ sung, “được mô phỏng theo hệ thống được áp dụng tại Liên Xô”. Không một vị khách nước ngoài nào trong số họ từng gặp một thành viên nào của Quốc Dân Đảng tại Diên An. 11
Số lượng đảng viên tăng lên, đạt 800.000 vào cuối năm 1941, một con số cách xa so với tình hình trước khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1937. Tuy nhiên, việc tuyển mộ diễn ra vội vã, với nhiều đảng viên địa phương gia nhập vì lý do thực dụng hơn là lý tưởng. Rất nhiều người trong số họ mù chữ. Như một cuộc điều tra chi tiết về các chi bộ làng xã trên 13 huyện đã chỉ ra, ba trong bốn đảng viên không biết đọc. Phần lớn họ bị lôi kéo bởi những người quen muốn đạt chỉ tiêu do Đảng đề ra. Trong một số trường hợp, những người dân làng chỉ đơn thuần tham dự một cuộc họp công khai đã được ghi danh mà không qua bất kỳ cuộc kiểm tra lý lịch sơ bộ nào. Một nửa số người mới gia nhập không có chút khái niệm nào về Đảng Cộng sản, và một phần năm trong số họ không thể giải thích lý do tại sao họ lại gia nhập. Nhiều người hy vọng nhận được một số lợi ích vật chất. Chỉ một phần ba bày tỏ sự cam kết với tổ chức và sẵn sàng cống hiến cho nó. “Nông dân”, báo cáo kết luận, có “tư duy lạc hậu và hẹp hòi”, và khinh thường Mặt trận Thống nhất. Hơn hết, đa số các lãnh đạo cấp huyện và xã địa phương đơn giản là không biết điều gì đang diễn ra trong các làng và không thể khẳng định liệu các cuộc họp Đảng định kỳ có được tổ chức hay không. 12
Nhóm tân binh thứ hai lại nằm ở đầu bên kia của thang bậc xã hội. Bị thu hút bởi lời hứa về một tương lai dân chủ hơn, hàng nghìn sinh viên, giáo viên, nghệ sĩ, nhà văn và nhà báo đã đổ về Diên An. Đại đa số trong số họ là những người lý tưởng, những tình nguyện viên trẻ nhiệt huyết, sẵn sàng chiến đấu vì bình đẳng, công lý và tự do – những giá trị mà Đảng Cộng sản tuyên bố. Họ đã mất niềm tin vào chính phủ của mình, mà họ coi là bất tài, tham nhũng và đàn áp, bị chi phối bởi một nhóm lợi ích không quan tâm đến tình trạng nghèo đói và bất công tràn lan, cũng như thiếu chân thành trong cam kết với dân chủ. Diên An trở thành “ Mecca” mới – tên gọi của một thung lũng bí ẩn nào đó ở miền Bắc, nơi tồn tại một thế giới khác, nơi các quan chức chính phủ sống sát cánh bên cạnh nông dân, hoàn toàn tận tụy vì phúc lợi của họ. Nhiều người đã thực hiện một hành trình gian khổ đến “vùng đất hứa”, băng qua địa hình hiểm trở bằng chân, tránh né lực lượng địch, lẻn qua vòng vây để đến được điểm đến thiêng liêng. Khi nhìn thấy những ngọn đồi của Diên An, với ngôi tháp bát giác sừng sững trên ngọn đồi phía nam thành phố, một số tình nguyện viên không kìm được nước mắt, ôm chầm lấy nhau, một vài người cất cao bài “Quốc tế ca”.
Với sự hỗ trợ từ Moscow, Mao ban đầu đã tận dụng những thanh niên lý tưởng này để làm suy yếu các đối thủ của mình, đặc biệt là Vương Minh. Pavel Mif, người từng là thầy của Vương Minh, nằm trong số nhiều nạn nhân của Cuộc Thanh trừng Lớn của Stalin, bị xử tử với cáo buộc là phản cách mạng vào tháng 9 năm 1939. Vài tháng sau đó, Ban Nhân sự của Quốc tế Cộng sản đã đặc biệt đề nghị loại bỏ Vương Minh khỏi ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một danh sách các lãnh đạo khác cần bị loại khỏi các vị trí quan trọng tiếp theo, phần lớn trong số họ thuộc nhóm “Bolshevik” từng thống trị Ban Chấp hành Trung ương dưới thời Vương Minh vào đầu thập niên 1930. Trong số đó có Bác Cổ, chàng thanh niên ham đọc sách từng trở thành Bí thư Đảng và đã chỉ trích Mao tại Hội nghị Ninh Đô vào tháng 10 năm 1932. Tất cả đều từng là những tín đồ nhiệt thành của “thầy” họ ở Moscow, người nay đã đẩy họ vào miệng sói. Comintern thay vào đó đề cử một số người thân tín nhất của Mao, bao gồm Lâm Bưu, Đặng Tiểu Bình, Hạ Long và Từ Hướng Tiền. Vị thế của Mao được củng cố vững chắc. “Mao Trạch Đông chắc chắn là nhân vật chính trị quan trọng nhất trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông hiểu Trung Quốc hơn các nhà lãnh đạo khác, hiểu nhân dân, am hiểu chính trị và nhìn nhận các vấn đề một cách chính xác,” báo cáo kết luận. 13
Mao chờ đến tháng 9 năm 1941 mới bắn một phát súng cảnh cáo nhằm vào các đối thủ của mình. Trong bài phát biểu khai mạc tại một phiên họp toàn thể của Bộ Chính trị, ông đã hệ thống hóa lại lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc, lên án tất cả những ai từng chống đối ông trong quá khứ vì “chủ nghĩa cơ hội cánh tả”, “chủ nghĩa chủ quan”, “chủ nghĩa giáo điều” hoặc “chủ nghĩa bè phái”. Mao đưa ra một phiên bản chính thống về lịch sử của Đảng, trong đó một chuỗi dài sai lầm chống lại đường lối đúng đắn của Đảng đã được thực hiện cho đến khi ông cuối cùng giành chiến thắng, dẫn dắt Hồng Quân đến Diên An trong Cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Vương Minh không được nêu tên, nhưng ít ai nghi ngờ về danh tính của “kẻ cơ hội chủ nghĩa cánh tả” này, người thậm chí còn tệ hơn cả Lí Lập Tam. Tất cả họ đều có một điểm chung: “họ mang vẻ bề ngoài của những người Marxist, nhưng thực chất chỉ là những kẻ giả danh Marxist.”
Trong một cuộc tấn công được che đậy một cách mỏng manh nhằm vào những “người Bolshevik” – những người từ lâu đã lợi dụng quá trình đào tạo tại Moscow để thống trị Đảng – Mao đã chế giễu những “kẻ tự xưng là Marxist giả mạo” này, những người viện dẫn Das Kapital, Anti-Dühring và các tác phẩm khác của Marx và Engels, nhưng lại không đưa ra được giải pháp nào cho bất kỳ vấn đề thực tiễn nào của đất nước. Thay vào đó, ông kêu gọi “Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marx”, thúc giục tất cả các cán bộ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập các nhóm học tập nhỏ để kết hợp lý thuyết với thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể tại Trung Quốc. Trong các cuộc họp quần chúng, mọi người đều phải “lên bục phát biểu”. 14
Những người lắng nghe cẩn thận nhận ra rằng điều sắp xảy ra là một cuộc thử thách lòng trung thành với Mao. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1942, Li Weihan (Lí Duy Hán 李维汉), một trong những “người Bolshevik” đã bị Comintern đưa vào danh sách đen, đã chỉ trích gay gắt Zhang Wentian (Trương Văn Thiên), người cũng có tên trong danh sách của Moscow. Zhang là giám đốc Viện Nghiên cứu Trung ương, một tổ chức mà Mao chỉ đích danh là nơi dung túng những “giáo sư đỏ” cần phải bị hạ bệ. Trong một bài xã luận trên tờ Giải Phóng Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng tại Diên An, Hu Qiaomu (Hồ Kiều Mộc胡乔木), một người theo đuổi trung thành, đã lên án những “nhà lý luận” này là “rác rưởi”. Bị tấn công từ mọi phía, các “giáo sư đỏ” sớm tuyên bố rằng các tác phẩm Marxist và Leninist mà họ đã nghiên cứu “còn vô dụng hơn cả phân”. 15
Mao cũng khuyến khích các tình nguyện viên trẻ tấn công “chủ nghĩa giáo điều” và những người được cho là thực hành nó. Họ không cần nhiều sự thúc giục. Ngay sau khi đến Diên An, họ đã nhanh chóng nhận ra sự thật. Thay vì bình đẳng, họ phát hiện ra một hệ thống phân cấp cứng nhắc. Mỗi tổ chức đều có ba nhà bếp khác nhau, thức ăn ngon nhất được dành riêng cho các lãnh đạo cấp cao. Từ lượng ngũ cốc, đường, dầu ăn, thịt và trái cây cho đến chất lượng chăm sóc y tế và quyền tiếp cận thông tin, vị trí của một cá nhân trong hệ thống phân cấp của Đảng quyết định tất cả. Ngay cả chất lượng thuốc lá và giấy viết cũng thay đổi tùy theo cấp bậc. Thuốc men rất khan hiếm đối với những người ở bậc thang thấp nhất, trong khi các cán bộ cấp cao lại có bác sĩ riêng và gửi con cái sang Moscow. Đứng đầu Đảng là Mao, người được chở đi bằng chiếc xe duy nhất ở Diên An và sống trong một dinh thự rộng lớn với hệ thống sưởi ấm được lắp đặt riêng để đảm bảo sự thoải mái cho ông. 16
Được khuyến khích bày tỏ quan điểm, các tình nguyện viên trẻ đã tham gia vào cuộc tranh luận. Trong bài luận này đến bài luận khác, họ chỉ trích “chủ nghĩa giáo điều” của Đảng Cộng sản. Mao đã đích thân chỉnh sửa và hoàn thiện một số bài luận của họ. Ding Ling (Đinh Linh丁玲), một nhà văn trẻ từng làm dậy sóng giới văn học với những tác phẩm phá cách vào cuối thập niên 1920, đã vạch trần thái độ coi thường phụ nữ của ban lãnh đạo trong một bài xã luận đăng nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ Lao động. Những người khác bày tỏ sự bất mãn với cách điều hành thủ đô đỏ. Nhưng không ai đi xa như một thanh niên tên Wang Shiwei (Vương Chí Vị王實味). Trong bài luận mang tựa đề “Hoa Loa Kèn Dại”, anh đã chỉ trích gay gắt những “nhân vật quyền lực” vì sự kiêu ngạo, những đặc quyền vô lý và thái độ vô nhân đạo của họ đối với người dân thường, những người mà họ “coi như một chủng tộc riêng biệt”. Họ ăn uống thả ga ngay cả khi lượng canh dùng để nuôi dưỡng người bệnh bị hạn chế. Trên hết, họ đàn áp tự do ngôn luận và làm xa lánh các tình nguyện viên trẻ. 17
Phản ứng của Mao đến vào tháng 5 năm 1942. Trong bài phát biểu tại lễ khai mạc Diễn đàn Văn học và Nghệ thuật Diên An, ông đã viện dẫn tác phẩm của Stalin và người đứng đầu bộ máy tuyên truyền của ông, Andrei Zhdanov. Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất năm 1934, Zhdanov đã ca ngợi “thiên tài lãnh đạo” của Stalin, trích dẫn câu nói nổi tiếng của người thầy mình, trong đó các nhà văn được mô tả là “những kỹ sư của tâm hồn con người”. Trong thời đại đấu tranh giai cấp, Zhdanov chỉ ra, mọi tác phẩm văn học hay đều mang tính chính trị. Mao cũng tuyên bố rằng nghệ thuật là công cụ của đấu tranh chính trị. Chủ nghĩa nhân văn, ông lập luận, chính là hiện thân của loại văn học tư sản mà các nhà văn cách mạng phải thoát khỏi. Tự do sáng tạo, ông giải thích thêm, là một trò lừa bịp của giai cấp tư sản, trong khi các nhà văn và nghệ sĩ, so với giai cấp vô sản, là những người “dốt nát” nhất, “mang theo rất nhiều rác rưởi của bọn bóc lột trong đầu”. “Hoặc,” như Mao đã nói, “nói một cách tinh tế hơn, tâm hồn sâu thẳm nhất của họ vẫn nằm trong vương quốc của tầng lớp tiểu tư sản.” Tóm lại, nghệ thuật phải phục vụ cách mạng. 18
Một số nghi phạm bị nhốt trong hang động, số khác bị đưa đi “hành quyết giả”. Trong nhiều tháng liền, cuộc sống ở Diên An là chuỗi không ngừng nghỉ của các cuộc thẩm vấn và mít tinh diễn ra trong bầu không khí sợ hãi, nghi kỵ và phản bội. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm liên lạc với thế giới bên ngoài đều bị coi là bằng chứng của hoạt động gián điệp. Áp lực quá lớn khiến một số người sụp đổ, mất trí hoặc tự sát. Mao đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối từ giới trí thức, những người bị buộc phải tự cải tạo về mặt tư tưởng bằng cách nghiên cứu và thảo luận các bài luận của chính ông, Stalin và những người khác.
Khang Sinh, tay sai đắc lực của ông, cũng điều tra các thành viên cơ sở để tìm gián điệp và điệp viên ngầm. Chiến dịch này, được gọi là “Phong trào Chỉnh đốn”, đạt đỉnh điểm vào mùa hè năm 1943, khi một tình trạng bao vây gần như tuyệt đối được áp đặt tại Diên An, với các nghi can bị buộc phải ở lại nơi làm việc và lính gác được bố trí tại cổng các văn phòng và trường học. Một sự im lặng u ám bao trùm thành phố, khi những cuộc trò chuyện riêng tư trở nên nguy hiểm. Ngay cả những người đàn ông đã có gia đình cũng không được phép gặp gỡ người thân. “Sợ hãi, sợ hãi và lại sợ hãi – đó là bầu không khí chung tại Diên An,” một người Nga sống tại thủ đô đỏ đã ghi chép lại. Lúc này, người ta bị ép buộc phải thú nhận tội lỗi của mình, dù là hư cấu hay không, theo từng đợt hàng trăm người một. Đa số đã nhận tội gián điệp. Trong một số tổ chức, số lượng điệp viên bị phanh phui được cho là phục vụ cho phe Quốc dân đảng hoặc Nhật Bản đã đạt mức 100% hoàn hảo. Tất cả các nguyên tắc, dù là đạo đức hay tư tưởng, đều bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho một cơ chế sinh tồn đã được kiểm chứng, đó là sự tự hạ nhục. Đảng Cộng sản lúc này đã kiểm soát từng cá nhân, ghi chép lại mọi lời thú tội của họ. 20
Theo hầu hết các nguồn tin, các nhà văn và nghệ sĩ là những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, với rất nhiều người bị buộc phải làm công việc chân tay, thường là những công việc vô ích và xúc phạm, bao gồm cả việc đan tất bắt buộc theo phong trào. Những người thiếu học thức nhưng được nhồi nhét đầy giáo điều đã vươn lên dẫn đầu, đảm bảo rằng nghệ thuật phải phục vụ cách mạng. Không có một cuốn tiểu thuyết hay nào được sáng tác. 21
Tuy nhiên, xa hơn nhiều so với Diên An, bên ngoài những giới văn hóa và giáo dục tương đối được ưu đãi, Phong trào Chỉnh đốn thực tế còn khắc nghiệt hơn nhiều, dù người ta biết rất ít về điều này. Mao cần những người có học thức. Ông tìm cách bẻ gãy ý chí của họ và biến họ thành những kẻ phục tùng, chứ không phải loại bỏ họ. Ngược lại, các cán bộ thôn bản là những người có thể thay thế được, giống như những người dân thường, những người cũng phải chịu sự tác động của chiến dịch này. Tại huyện Shenfu (Thần Phủ 神甫) (sau này được đổi tên thành Shenmu (Thần Mộc 神木), cách Diên An 150 km về phía bắc, Phong trào Chỉnh đốn đã xác định 400 đối tượng nghi vấn. Mỗi bốn người thì có một người bị giết hoặc bị đẩy đến mức tự sát, với các nạn nhân nhảy xuống vách đá hoặc nhảy xuống sông. Tại huyện Long Động, nơi được ca ngợi là cái nôi của “hệ thống Một Phần Ba”, 500 người đã bị bắt giữ, nhiều người trong số họ phải chịu số phận tương tự. Long Động nằm ở phía đông tỉnh Cam Túc. Không xa đó, phía bên kia vòng phong tỏa của chính quyền, là huyện Zhenyuan (Trấn Viễn 镇远), nơi các cơ sở đặc biệt được thiết lập để tiếp nhận những thanh niên đã may mắn thoát khỏi chiến dịch, nhiều người trong số họ đến nơi trong tình trạng kiệt sức và đói lả. Số người thiệt mạng sẽ mãi mãi là một ẩn số, nhưng vào năm 1944, Zhu Shaoliang (Chu Thiệu Lương 朱紹良), Phó Tham mưu trưởng Ủy ban Quân sự tại Trùng Khánh, đã đề cập rằng khoảng 3.000 thanh niên bị nghi là gián điệp hoặc phản bội đã bị xử tử. Vương Minh – dù thừa nhận có phần thiên vị – sau này đã làm chứng từ Moscow rằng “việc bắt giữ người dân, treo họ lên bằng hai tay, đánh đập, thậm chí giết hại đã trở thành thông lệ phổ biến ở tất cả các đơn vị cấp dưới”. Các cán bộ phụ trách chiến dịch sẽ triệu tập dân làng, xếp họ thành hàng và ra lệnh buộc họ phải thú nhận là “phản cách mạng”, “gián điệp địch” hoặc “kẻ phản bội”. Những người “thú nhận” được phép về nhà. Những người cứng đầu bị tra tấn và đặt dưới sự giám sát. Kết quả là không chỉ các thanh niên tình nguyện mà phần lớn dân chúng, vào thời điểm này hay thời điểm khác, đều trở thành đối tượng nghi ngờ. Đến tháng 12 năm 1944, ngay cả Moscow cũng bày tỏ sự phẫn nộ trước “cách thức ghê tởm” mà Khang Sinh đã thanh trừng cơ sở. 22
Mao cũng cần những nhà lãnh đạo có kinh nghiệm, nhưng chỉ khi họ chịu khuất phục trước ý chí của ông và “hôn nhẫn”. Với mục đích này, ông thành lập Ủy ban Nghiên cứu Tổng hợp Trung ương, nơi ông bố trí toàn bộ các thuộc hạ đáng tin cậy. Đứng đầu trong số này là Lưu Thiếu Kỳ, người sau này sẽ trở thành “số hai” của ông. Ủy ban Nghiên cứu này điều hành mọi việc tại Diên An, thực chất biến Đảng Cộng sản thành chế độ độc tài cá nhân của Mao. Các thành viên cấp cao từng chống đối Mao trong quá khứ bị sỉ nhục, buộc phải viết bản tự thú và công khai xin lỗi về những sai lầm của mình. Chu Ân Lai, một trong số họ, đã cố gắng chuộc lỗi bằng cách tuyên bố sự ủng hộ bất diệt dành cho Mao. Điều này được coi là chưa đủ, nên ông bị đưa vào một loạt các cuộc họp vạch trần, nơi ông bị buộc phải tự mô tả mình là một “kẻ lừa đảo chính trị” vô nguyên tắc. Đó là một quá trình tự hạ mình đầy khắc nghiệt, nhưng Chu Ân Lai đã vượt qua thử thách này với tư cách là trợ lý trung thành của Mao, quyết tâm không bao giờ chống đối ông ta nữa. Không giống như Stalin, Mao hiếm khi ra lệnh xử bắn các đối thủ của mình, mà thay vào đó biến họ thành những đồng phạm phải chịu sự giám sát vĩnh viễn, buộc phải làm việc không mệt mỏi để chứng tỏ bản thân. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là Vương Minh, người theo một nguồn tin đã bị đầu độc từ từ và bị giam lỏng tại Diên An. Đến cuối năm 1944, Georgi Dimitrov đã can thiệp để cầu xin cho ông. Ông sống sót, đến Moscow vào năm 1956 để điều trị y tế và không bao giờ trở lại, qua đời vào năm 1974 dưới sự bảo hộ của Liên Xô. 23
Khi Chiến dịch Chỉnh đốn kết thúc vào năm 1944, khoảng 15.000 người bị cáo buộc là điệp viên và gián điệp của kẻ thù đã bị vạch trần. Mao đã để cho cuộc khủng bố hoành hành, tự đặt mình vào vai trò của một nhà lãnh đạo khiêm tốn, xa cách nhưng nhân từ. Sau đó, ông can thiệp để kiềm chế bạo lực, để Khang Sinh gánh chịu trách nhiệm. Khoảng 90% những người đã thú tội, theo như sau này được tiết lộ, thực ra không phải là gián điệp hay kẻ phản bội thực sự và cần được phục hồi danh dự ngay lập tức. Những người may mắn sống sót qua cơn ác mộng đó đã coi Mao như một vị cứu tinh. 24
Khi phát động Chiến dịch Chỉnh đốn vào năm 1942, Mao đã kêu gọi “Hoa hóa chủ nghĩa Marx”. Ngay sau đó, ý nghĩa của điều này trở nên rõ ràng: thay vì mải mê nghiên cứu các tác phẩm của Marx và Lenin, mọi người đều phải đắm mình vào các tác phẩm của Mao Trạch Đông. Những người hâm mộ nước ngoài, bao gồm cả các nhà Hán học uy tín thuộc mọi trường phái, đã ca ngợi sự táo bạo mà Mao được cho là đã áp dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Marx–Lenin vào điều kiện cụ thể của Trung Quốc, nhưng họ đã bỏ qua một điểm đơn giản: Mao chỉ đang tuân theo chỉ thị từ Moscow. Ngày 15 tháng 5 năm 1943, Stalin giải thể Quốc tế Cộng sản (Comintern). Điều này diễn ra ba tháng sau trận Stalingrad – một cuộc đụng độ tàn khốc giữa thép, máu và lửa đã chặn đứng quân Đức và đảo ngược cục diện chiến tranh. Hai tháng sau, quân Đức và Ý đầu hàng các lực lượng Đồng minh tại Tunisia. Stalin nhận thấy chiến thắng đang cận kề và bắt đầu lên kế hoạch cho giai đoạn cuối cùng. Thay vì “chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia”, ông nay nhấn mạnh rằng các đảng Cộng sản ở các nước khác nhau phải điều chỉnh tổ chức của mình “phù hợp với những đặc thù của tình hình lịch sử cụ thể và những vấn đề trực tiếp nảy sinh từ tình hình đó”. Nói tóm lại, mỗi Đảng Cộng sản được yêu cầu phải thích ứng một cách linh hoạt và độc lập với những điều kiện cụ thể mà họ phải đối mặt. Nghị quyết giải thể Comintern nhấn mạnh đến “những khác biệt sâu sắc về con đường phát triển lịch sử của các quốc gia khác nhau, sự khác biệt về bản chất và thậm chí mâu thuẫn trong trật tự xã hội của họ, sự khác biệt về mức độ và nhịp độ phát triển chính trị, xã hội và kinh tế, cũng như sự khác biệt về mức độ nhận thức và tổ chức của giai cấp công nhân”. “Bất kỳ trung tâm quốc tế nào cũng sẽ gặp phải những trở ngại không thể vượt qua trong việc giải quyết các vấn đề mà phong trào phải đối mặt ở từng quốc gia”, nghị quyết tiếp tục khẳng định. Tất nhiên, Stalin không hề cắt đứt quan hệ với các đảng Cộng sản bên ngoài Liên Xô. Ông đang cố gắng tự trình bày mình như một nhà dân chủ chân chính, mong muốn nhận thêm viện trợ và vật tư chiến tranh theo chương trình Cho vay và Cho thuê từ Mỹ. Nhưng ông cũng đang suy tính chiến lược. Các đảng Cộng sản ở những quốc gia mà ông sẽ chinh phục trên hành trình tiến về phía đông và phía tây phải trông có vẻ thực sự được nhân dân ủng hộ và mang bản sắc địa phương, chứ không phải là những con rối bị Moscow điều khiển. 25
Chỉ sáu tuần sau khi Quốc tế Cộng sản giải thể, vào ngày 1 tháng 7 năm 1943, nhân kỷ niệm 22 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao tuyên bố rằng Chiến dịch Chỉnh đốn đã “đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng và chính trị trong Đảng”. Phán quyết của ông báo hiệu sự khởi đầu của một sự sùng bái cá nhân vô hạn. Vài tháng trước đó, tại một cuộc họp Bộ Chính trị mà Vương Minh – người đang nằm liệt giường – vắng mặt, Mao đã trở thành Chủ tịch Đảng Cộng sản. Tất cả giờ đây đều phải ca ngợi Chủ tịch và nghiên cứu “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, một thuật ngữ được Vương Gia Tương – nhà lý luận được đào tạo tại Liên Xô, người đã giúp Mao loại bỏ Vương Minh vào năm 1938 – đặt ra bốn ngày sau đó: “Tư tưởng Mao Trạch Đông là chủ nghĩa Marx–Lenin của Trung Quốc, chủ nghĩa Bolshevik của Trung Quốc và chủ nghĩa cộng sản của Trung Quốc.” Tuy nhiên, kẻ nịnh bợ nhiệt tình nhất chính là Lưu Thiếu Kỳ, người không ngần ngại ca ngợi Chủ tịch là “nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại” và “bậc thầy của chủ nghĩa Marx–Lenin”. 26
Lời ca ngợi của Lưu Thiếu Kỳ đã thúc đẩy những người khác tập hợp xung quanh nhà lãnh đạo của họ trong một màn thể hiện lòng trung thành rầm rộ, ca ngợi ông là “người cầm lái cách mạng vĩ đại”, “ngôi sao cứu rỗi”, “nhà chiến lược thiên tài” và “nhà chính trị thiên tài”. Một số người sáng tác thơ, số khác viết bài luận. Một trong những người hâm mộ cuồng nhiệt nhất là Chu Ân Lai:
Không có gì rõ ràng hơn từ những diễn biến trong ba năm qua rằng tất cả những ai từng phản đối hoặc nghi ngờ sự lãnh đạo hay quan điểm của đồng chí Mao Trạch Đông trong quá khứ nay đã bị chứng minh là hoàn toàn sai lầm. Lịch sử 22 năm của Đảng Cộng sản Trung Quốc chứng minh rằng trong suốt giai đoạn lịch sử này, chỉ có quan điểm của đồng chí Mao Trạch Đông mới nhất quán phát triển thành một đường lối Marxist-Leninist mang bản sắc Trung Hoa, đó chính là đường lối của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc. Định hướng của đồng chí Mao Trạch Đông chính là định hướng của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đường lối của đồng chí Mao Trạch Đông chính là đường lối của chủ nghĩa Bolshevik Trung Quốc. 27
Những lời ca ngợi đó “nô lệ đến mức ghê tởm”, theo nhận xét của Theodore White và Annalee Jacoby, hai nhà báo Mỹ. Khi Mao đứng dậy phát biểu, những người đàn ông cứng cỏi, được tôi luyện qua nhiều năm chiến tranh du kích, lại chăm chú ghi chép “như thể đang uống nước từ suối tri thức”. 28
Tờ Liberation Daily, cơ quan ngôn luận của Đảng do chính Mao trực tiếp giám sát, đã dùng những dòng tiêu đề khổng lồ để tuyên bố rằng “Đồng chí Mao Trạch Đông là vị cứu tinh của nhân dân Trung Quốc!” Đến cuối năm 1943, chân dung của Mao có thể được nhìn thấy khắp nơi, được trưng bày nổi bật bên cạnh chân dung của Marx, Engels, Lenin và Stalin. Những huy hiệu in hình ông được lưu hành trong giới tinh hoa của Đảng, trong khi hình ảnh chân dung của ông được chạm nổi bằng vàng trên mặt tiền của một hội trường khổng lồ ở Diên An. Người dân hát ca ngợi ông: “Đông Phương hồng, mặt trời lên; Trung Hoa Chúng ta có Mao Trạch Đông; Người tìm kiếm hạnh phúc cho nhân dân.” 29
Vào tháng 4 năm 1945, sau khoảng thời gian 17 năm gián đoạn, Đại hội Đảng cuối cùng cũng được triệu tập. Hàng trăm đại biểu đã bị bức hại trong Chiến dịch Chỉnh đốn, một số trong số họ bị thay thế bằng những người trung thành với Mao. Tất cả đều ca ngợi vị lãnh tụ của mình, người đã được bầu vào tất cả các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ Đảng. Trong báo cáo khai mạc, Lưu Thiếu Kỳ đã nhắc đến tên Chủ tịch hơn một trăm lần, gọi ông là “nhà cách mạng và nhà chính trị vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc” cũng như “nhà lý luận và nhà khoa học vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc”. 30
Chiến dịch Cải tổ đã diễn ra trong hai năm, hầu như không ai là không bị ảnh hưởng. Nền kinh tế bị bỏ bê, đúng vào thời điểm các khoản hỗ trợ tài chính từ chính quyền trung ương chấm dứt sau Sự kiện Quân đội Mới Thứ Tư vào đầu năm 1941. Từ năm 1937 đến năm 1941, chính quyền tại Diên An đã phụ thuộc rất nhiều vào viện trợ từ bên ngoài để tài trợ cho các hoạt động của mình. Khoản phân bổ từ Trùng Khánh chiếm từ 75 đến 90% tổng ngân sách của chính quyền này. Stalin cũng âm thầm đóng góp, gửi khoảng 350.000 USD vào năm 1940, tiếp theo là 1 triệu USD vào năm 1941. Nhưng sau khi Đức Quốc xã xâm lược Liên Xô, sự hỗ trợ tài chính đã biến mất. Không có sự giúp đỡ của Tưởng Giới Thạch, lại bị cắt đứt viện trợ tài chính từ Moscow, Đảng Cộng sản buộc phải tự túc. Tuy nhiên, khu vực họ kiểm soát lại thưa thớt dân cư và chìm trong cảnh nghèo đói. Diên An được bao quanh bởi những cao nguyên đất hoàng thổ khô cằn, phủ đầy cây bụi thưa thớt và thỉnh thoảng có vài cây còi cọc, mặc dù các thung lũng và sườn núi lại điểm xuyết những cánh đồng xanh mướt. Người dân làng, những người đã nhiều thế hệ kiếm sống vất vả từ mảnh đất này, phải sản xuất nhiều hơn để nuôi sống các lãnh đạo, cán bộ và binh lính của Đảng Cộng sản. Họ còn phải dành thời gian trong giờ làm việc để ca ngợi những lợi ích của chủ nghĩa cộng sản tại các cuộc họp làng bắt buộc, bên cạnh việc tham gia các phiên đấu tố nhằm vạch trần những gián điệp phản cách mạng.
Vì thủ đô đỏ không có khả năng trợ cấp cho các vùng mà họ kiểm soát, mỗi chỉ huy đều áp đặt những khoản thuế nặng nề lên dân chúng địa phương. Tại huyện Diên An, mức thuế trung bình lên tới 35% sản lượng hàng năm, tức khoảng năm lần gánh nặng do chính phủ trung ương áp đặt. Một số nông dân, bị áp bức bởi gánh nặng thuế má, đã quyết định di cư đến những vùng đất màu mỡ hơn. Từ Diên An, khoảng 800 gia đình đã trốn thoát vào mùa xuân năm 1942, trong khi 500 hộ gia đình rời khỏi khu vực lân cận Ansai (An Tái安塞). Hiếm có huyện nào thoát khỏi tình trạng này. Những người ở lại thiếu nhiệt huyết, vì họ biết rằng bất kỳ sản lượng dư thừa nào họ tạo ra cũng sẽ bị thu mua. “Tâm trạng chung của nông dân đối với sản xuất đang rất thấp,” một báo cáo nêu rõ. Họ lo sợ rằng “sau khi thu mua lúa gạo, sẽ đến lượt thu mua tiền mặt.” Xie Juezai (Tạ Giác Tai谢觉哉), ủy viên phụ trách kinh tế, ghi chép trong nhật ký riêng rằng trong một số trường hợp, lượng lúa gạo mà nhà nước thu thuế tương đương với toàn bộ sản lượng thu hoạch cả năm: “không còn gì để ăn sau khi đã nộp thuế lúa gạo.” 31
Đảng Cộng sản, vốn phát hành tiền tệ riêng, đã quyết định in thêm tiền, dẫn đến lạm phát tràn lan. Lạm phát cũng phổ biến ở Trung Hoa Tự do, nhưng chênh lệch giá cả mà hình thành ở hai bên vòng vây lại bất lợi cho phe Cộng sản. Họ phải xuất khẩu nhiều hơn với giá thấp hơn, gây ra tình trạng thiếu hụt trầm trọng và sự nghèo đói lan rộng trong toàn dân. Lượng tiền tệ không có bảo đảm được bơm vào nền kinh tế quá nhiều đến mức nó bị đẩy ra khỏi lưu thông trên thị trường chợ đen. Ngay từ năm 1942, chính Mao đã ghi nhận rằng: “[Trong những thời kỳ tồi tệ nhất, chúng ta] không có quần áo để mặc, không có dầu để nấu ăn, không có giấy để viết, cũng không có rau củ để ăn. Binh lính không có tất và giày, còn cán bộ thì không có chăn trong mùa đông khắc nghiệt.” 32
Đảng Cộng sản đã cố gắng khắc phục tình hình bằng cách phát động chiến dịch tiết kiệm, cắt giảm số lượng cán bộ nhà nước và giảm khẩu phần lương thực của họ. Họ cũng ra lệnh cho binh lính tham gia sản xuất. Năm 1944, khi tình hình trở nên cấp bách, các cán bộ địa phương đã cố gắng tăng số lượng người lao động trên đồng ruộng. “Không ai được nhàn rỗi” trở thành khẩu hiệu, khi phụ nữ, sinh viên, thậm chí cả trẻ em đều bị huy động vào các đội sản xuất đặc biệt. 33
Điều này đã mang lại hiệu quả, nhưng chìa khóa cho sự sống còn kinh tế lại nằm ở một loài cây khỏe mạnh với lá màu xám xanh, mang quả nang nứt ra thành một bông hoa đẹp mắt, có cánh hoa màu đỏ, trắng hoặc tím nhạt. Cây anh túc (thuốc phiện) là loại cây trồng lý tưởng cho các tỉnh khô cằn ở phía tây bắc, đặc biệt là tỉnh Thiểm Tây, nơi đã sản xuất thuốc phiện từ giữa thế kỷ XIX. Đảng Cộng sản đã lâu nay tham gia vào việc buôn bán thuốc phiện, tái đưa cây trồng này vào sản xuất tại huyện Yongxin (Vĩnh Tân) gần căn cứ Jinggangshan (Tỉnh Cương Sơn) của họ vào năm 1928. Chất nhựa trắng sữa thu hoạch từ quả, sau khi được chế biến thành một loại bột nhão màu nâu, đã giúp nền kinh tế trụ vững. Tuy nhiên, ngay cả việc này, ban đầu Đảng Cộng sản cũng đã xử lý sai lầm, khi các cán bộ thiếu kinh nghiệm phớt lờ lời khuyên của nông dân địa phương, khiến hàng trăm hecta đất bị hủy hoại do gieo hạt quá sớm. Dù vậy, việc trồng trọt vẫn phát triển mạnh mẽ, với Đảng Cộng sản sản xuất 150 tấn thuốc phiện vào năm 1943, đóng góp 40% tổng thu nhập. Thuốc phiện thực chất đã cứu Đảng Cộng sản khỏi sự sụp đổ kinh tế. 34
Đến tháng 4 năm 1944, Mao đã biến Đảng thành công cụ phục vụ ý chí cá nhân của mình. Suốt thời gian đó, người nước ngoài bị cấm vào Diên An, ngoại trừ một số ít khách thăm. Sau khi “dọn dẹp” nội bộ, Mao đã sẵn sàng tiếp đón khách. Các áp phích chỉ trích chính quyền trung ương bị gỡ bỏ, những khẩu hiệu ồn ào bị sơn phủ lại. Số lượng công việc nhiều đến mức phải điều động một đội quân nhỏ để thực hiện. Các làng mẫu, được thành lập đặc biệt để chứng minh những ưu điểm của chủ nghĩa cộng sản, đã được tân trang lại, các cuộc trò chuyện được diễn tập với cư dân nơi đây, tất cả đều được kỳ vọng sẽ diễn xuất đúng vai. Vấn đề thuốc phiện cũng được quan tâm, với những bông hoa anh túc nhẹ nhàng đung đưa trên các cánh đồng gần thủ đô đỏ. Sau khi các đội đặc nhiệm đã tiêu hủy hết các cây thuốc phiện dọc theo con đường chính, Diên An đã sẵn sàng để giới thiệu mình với thế giới. 35
***
Hai ngày sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Trung Hoa Dân Quốc tuyên chiến với các cường quốc phe Trục — liên minh quân sự bao gồm Berlin, Rome và Tokyo (cuộc chiến với Nhật Bản cho đến lúc đó vẫn chưa được tuyên bố chính thức). Trùng Khánh phải đối mặt với một nhiệm vụ khổng lồ. Thành phố này bị cô lập với phần lớn thế giới và chỉ nhận được sự hỗ trợ hạn chế từ bên ngoài, nhưng vẫn phải quản lý một đất nước rộng lớn như một lục địa, phần lớn đã bị tàn phá bởi nhiều năm chiến tranh, đồng thời tiếp tục chiến đấu chống lại một kẻ thù tàn bạo và không thương xót. Các cuộc oanh tạc từ trên không vào thủ đô và các thành phố khác diễn ra liên tục, với hàng trăm máy bay tham gia vào một đợt không kích duy nhất. Các cuộc oanh tạc thảm khốc vào Trùng Khánh đã cướp đi hơn 10.000 sinh mạng dân thường trong suốt cuộc chiến, mặc dù theo mọi nguồn tin, người dân đã chịu đựng những khó khăn đó với sự bình tĩnh đáng kinh ngạc, ngay cả khi đôi khi họ phải ở trong hầm trú ẩn tới 20 giờ liền mà không có nước hay điện. Nhờ vào mạng lưới hầm ngầm phức tạp, cùng với những trận không chiến khốc liệt của Không quân Trung Quốc, số người thiệt mạng hoặc bị thương trung bình cho mỗi quả bom do Nhật Bản thả đã giảm từ 5,5 vào năm 1939 xuống dưới 1 người cho mỗi 3,5 quả bom vào tháng 5 năm 1940. Hầu hết thiệt hại đều do hỏa hoạn gây ra, và thành phố liên tục tự tái thiết, thay thế các công trình gỗ yếu ớt bằng những tòa nhà mới, bền vững hơn. 36
Tệ hại nhất là chính phủ trung ương bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của lạm phát. Chính phủ phải tài trợ cho chiến tranh ngay cả khi kẻ thù ngày càng kiểm soát hoặc làm tê liệt nghiêm trọng chìa khóa cho sự phục hồi, cụ thể là hệ thống giao thông, khiến việc phân phối nhiên liệu và lương thực trên khắp Trung Hoa Tự Do trở nên kém hiệu quả. Tưởng Giới Thạch đã giành được quyền tự chủ hoàn toàn về thuế quan vào năm 1929, nhưng thuế nhập khẩu và xuất khẩu – nguồn thu chính trước năm 1937 – gần như không còn tồn tại. Nguồn thu thuế của chính phủ bị thu hẹp nghiêm trọng, sự kiểm soát của chính phủ đối với đất nước trở nên mong manh, đặc biệt là ở phía bắc sông Dương Tử. Bất kỳ khoản thu nào thu được cũng chỉ đủ trang trải một phần nhỏ chi phí chiến tranh, trong khi thâm hụt ngân sách không thể được bù đắp bằng việc phát hành trái phiếu chiến tranh. Nếu không có sự hỗ trợ đáng kể từ nước ngoài, giải pháp duy nhất là phát hành tiền giấy, điều này tất yếu dẫn đến lạm phát. Năm 1940, 100 nhân dân tệ có thể mua được một con lợn, nhưng đến năm 1943 thì chỉ đủ mua một con gà. Đến năm 1945, số tiền đó hầu như chỉ đủ mua một con cá. 37
Các nhà sử học luôn nhấn mạnh cách lạm phát làm suy giảm mức sống ở Trung Hoa Tự Do. Tuy nhiên, ít ai nhận ra rằng giá cả leo thang, phần lớn là do một “cuộc chiến tiền tệ” được Nhật Bản cố ý dàn dựng. Tokyo, với mục đích huy động vốn cho chiến tranh, đã tấn công đồng tiền hợp pháp của Trung Quốc bằng cách in một lượng lớn tiền giả và thành lập các “ngân hàng bù nhìn” phát hành tiền tệ không có bảo đảm, với hy vọng làm suy yếu Trùng Khánh. Những tờ tiền giả và tiền tệ bù nhìn này lưu hành rộng rãi và gây ra hỗn loạn cho nền kinh tế. Một sự thật rất đơn giản khác cũng bị bỏ qua trong các tài liệu lịch sử thông thường: lạm phát cũng tàn phá không kém ở các vùng bị Nhật Bản chiếm đóng và thậm chí còn cao hơn nhiều ở Diên An. Tại Quảng Châu bị chiếm đóng, lạm phát nghiêm trọng đến mức khiến nền kinh tế tê liệt và tỷ lệ tội phạm tăng cao đến nỗi người Nhật không còn đảm bảo được an ninh trong thành phố. Ở các vùng nông thôn lân cận, những người nông dân từng thịnh vượng giờ đây sống trên bờ vực đói khát. Tại Thượng Hải, lạm phát dẫn đến các cuộc đình công liên miên, kể cả của cảnh sát và bưu điện. Ở phía bắc, tại Bắc Bình, việc kiếm thức ăn ngày càng khó khăn, do nông dân sản xuất ít hơn và các thương nhân từ chối bán hàng. 38
Tại Diên An, những nạn nhân lớn nhất của lạm phát là người dân làng. Nhưng ở Trung Hoa Tự Do, chính người dân nông thôn lại là những người ít bị ảnh hưởng nhất bởi giá cả tăng vọt. Giống như tất cả các nhà sản xuất, thu nhập của họ gắn liền với giá cả của hàng hóa họ bán ra. Cho đến tận năm 1944, ngay cả khi lạm phát đang gây ra sự sụt giảm nhanh chóng trong sản xuất công nghiệp, nó cũng không ảnh hưởng lớn đến người dân nông thôn. Trong những năm đầu của lạm phát, ngay cả những công nhân bình thường cũng có cuộc sống khá hơn, vì hầu hết các chủ sử dụng lao động, dù trong ngành công nghiệp hay thương mại, đều cung cấp gạo với giá giảm mạnh hoặc cung cấp một bữa ăn miễn phí mỗi ngày. Như một nhà quan sát nước ngoài đã nhận xét vào năm 1941: “Đặc biệt là các tầng lớp lao động nghèo và công nhân chân tay đang kiếm được nhiều tiền thực tế hơn bao giờ hết trong cuộc đời họ, và đối với họ, thời kỳ bùng nổ lạm phát này là một giai đoạn thịnh vượng thực sự mà họ hy vọng sẽ kéo dài vô thời hạn.” 39
Những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là giáo viên tiểu học, giảng viên đại học và cán bộ công chức – những người có thu nhập cố định và chứng kiến mức sống của mình ngày càng suy giảm. Sinh viên cũng phải chịu đựng nhiều khó khăn, kể cả ở Côn Minh, nơi rất nhiều trường đại học đã di dời đến trong thời chiến. “Không có thành phố nào trên thế giới có tỷ lệ lạm phát cao hơn Côn Minh,” một du khách viết vào năm 1943, đồng thời lưu ý rằng giá cả ở đó thay đổi trong một ngày còn nhiều hơn cả một năm ở Hoa Kỳ. Những tầng lớp này cũng chính là những người chỉ trích chính phủ trung ương gay gắt nhất. Quốc Dân Đảng, giống như Đảng Cộng sản, là một tổ chức theo chủ nghĩa Lenin dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, trong khi Mao Trạch Đông đã quảng bá rộng rãi về “Dân chủ Mới” của mình, với những lời hứa về hệ thống đa đảng, quyền bầu cử bình đẳng và các quyền tự do dân chủ, thì Tưởng Giới Thạch dường như không có gì để đề xuất khi ông đáp lại vào năm 1943 bằng cuốn sách “Số phận của Trung Quốc”, trong đó trình bày tầm nhìn của riêng ông về tương lai. Ông lặp lại chính những chủ đề từng ám ảnh người thầy cũ của mình là Tôn Trung Sơn, giải thích rằng Trung Quốc chưa sẵn sàng cho bất kỳ hình thức dân chủ nào; rằng chính phủ nước này từ trước đến nay đã thúc đẩy nền kinh tế kế hoạch hóa; rằng ý tưởng về nền kinh tế thị trường không tương thích với những đặc điểm cụ thể của nền kinh tế Trung Quốc; rằng chính phủ sẽ ngăn chặn sự xuất hiện của các độc quyền lớn bằng cách đặt tài sản tư nhân dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của nhà nước; và rằng quyền sở hữu đất đai sẽ bị bãi bỏ để nhường chỗ cho các hợp tác xã nông nghiệp. Về mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, Tưởng Giới Thạch chỉ ra rằng sẽ không dung thứ cho bất kỳ “tự do cá nhân” nào khiến con người có thể tách rời nhau như “những hạt cát rời rạc”. Đối với những độc giả có tinh thần phê phán, Tưởng Giới Thạch dường như là nhà độc tài, còn Mao Trạch Đông là nhà dân chủ. 40
Tại Trùng Khánh và các nơi khác, số lượng ngày càng tăng của sinh viên và trí thức thất vọng bắt đầu chỉ trích sự bất tài trầm trọng, tham nhũng, ưu ái người thân và hối lộ của chính phủ trung ương, chưa kể việc sử dụng cảnh sát mật. Ở nước ngoài, Tưởng Giới Thạch cũng ngày càng bị miêu tả như một nhà lãnh đạo phong kiến xa rời nhân dân, nếu không phải là một nhà độc tài phát xít đang đẩy đất nước vào chế độ nông nô. Tăng cường cho tác phẩm có ảnh hưởng to lớn của Edgar Snow, một số nhà báo Mỹ đóng tại Trùng Khánh, đáng chú ý là Theodore White, Jack Belden và Graham Peck, đã công bố những bản cáo trạng gay gắt nhắm vào chính quyền trung ương. Họ so sánh những cách thức phong kiến, dối trá tại Trùng Khánh – nơi họ được hưởng mọi tự do – với những cách thức dân chủ tại Diên An – nơi họ chưa từng đặt chân đến. 41
Tại Nhà Trắng, dư luận cũng đang chuyển hướng từ Trùng Khánh sang Diên An. Ngay từ năm 1938, Đại úy Evans Carlson, người đã từng đến thăm Diên An, đã báo cáo với Tổng thống Franklin D. Roosevelt rằng Mao là một người mơ mộng và một thiên tài. Carlson có ảnh hưởng lớn đối với Roosevelt, bởi ông từng phục vụ vào năm 1933 với tư cách là sĩ quan chỉ huy của Đội biệt phái Thủy quân Lục chiến tại khu nghỉ dưỡng của tổng thống ở Warm Springs, Georgia. “Nhóm (được gọi là) Cộng sản Trung Quốc không phải là Cộng sản theo nghĩa mà chúng ta thường dùng thuật ngữ này,” ông lập luận. “Họ là những người vô tư, sử dụng quyền lực của mình để cải thiện phúc lợi cho những người họ lãnh đạo. Họ là những người không thể bị mua chuộc.” 42
Một trong những nhà phê bình gay gắt nhất của Tưởng Giới Thạch là Tướng Joseph Stilwell, người được cử đến Trung Quốc vào năm 1942 với tư cách là Tham mưu trưởng của Tổng Thống Lĩnh và Tư lệnh toàn bộ lực lượng Mỹ cùng vật tư theo Chương trình Cho vay và Cho thuê tại Trung Quốc. Stilwell hiểu rõ Trung Quốc, từng phục vụ với tư cách tùy viên quân sự tại đây từ năm 1935 đến 1939. Ông khinh thường mọi thứ liên quan đến Trung Quốc, đặc biệt là Tưởng Giới Thạch, người mà ông mô tả là “cứng đầu, bảo thủ, vô tri, không khoan dung, tùy tiện, vô lý, phi logic, vô ơn, tham lam”, và lên án ông ta là một “bạo chúa kiêu ngạo”, “kẻ ngu dốt nhất thế giới” và một “con côn trùng”, mặc dù ông ngần ngại gọi Tưởng Giới Thạch là nhà độc tài, vì không ai tuân theo mệnh lệnh của ông ta. Stilwell, một người Mỹ khác chưa từng đặt chân đến Diên An, tiếp tục so sánh “tham nhũng, bỏ bê, hỗn loạn” của chính phủ trung ương với chương trình của Đảng Cộng sản: “Giảm thuế, tiền thuê nhà, lãi suất. Tăng sản lượng và mức sống. Tham gia vào chính quyền. Làm theo những gì họ rao giảng.” 43
Roosevelt cuối cùng đã gặp trực tiếp Tưởng Giới Thạch tại Hội nghị Cairo, nơi các nhà lãnh đạo các nước Đồng minh tụ họp vào tháng 11 năm 1943 để thống nhất chiến lược đánh bại Nhật Bản. Tổng thống đã từng làm quen với Tống Mỹ Linh, người đã có chuyến thăm Hoa Kỳ và lưu trú tại Nhà Trắng với tư cách khách mời vài tháng trước đó. Ông không ưa bà, và cũng không ưa Tướng Tưởng. Vào thời điểm đó, Roosevelt đã nhận thấy rằng một chính phủ thống nhất, hợp nhất Trùng Khánh và Diên An, là điều không thể thiếu trong cuộc chiến chống Nhật, và ông đã đặt điều kiện này để tiếp tục cung cấp hỗ trợ tài chính và quân sự. 44
Vào tháng 4 năm 1944, sau nhiều năm chiến tranh giằng co, Nhật Bản phát động Chiến dịch Ichigo, một chiến dịch quy mô lớn nhằm mở đường đến Đông Dương thuộc Pháp bằng cách xây dựng tuyến đường sắt nối liền từ Bắc Bình đến Quảng Châu qua Hán Khẩu. Quân Nhật cũng tìm cách phá hủy một số căn cứ không quân ở miền đông nam Trung Quốc mà máy bay ném bom Mỹ sử dụng để tấn công lực lượng của họ tại châu Á. Những trận chiến khốc liệt đã diễn ra tại nhiều tỉnh, gây ra tổn thất nặng nề cho quân chính phủ. Vào tháng 6 năm 1944, Tổng thống Roosevelt – với tâm trạng lo ngại – đã cử Phó Tổng thống của mình sang Trung Quốc. Lúc đó, các lực lượng Đồng minh vừa đổ bộ lên Normandy. Với toàn bộ lực lượng đang tập trung tại châu Âu, họ ngày càng coi Diên An là một đồng minh tiềm năng trong chiến tranh tại Trung Quốc. Tướng Stilwell, người đã chỉ trích gay gắt sự yếu kém trong nỗ lực chiến tranh do chính quyền Trùng Khánh triển khai, đã ủng hộ quan điểm của Roosevelt. Như một tướng Quốc dân đảng đã nhận xét lúc bấy giờ, có 940.000 lính Nhật tại Trung Quốc so với 750.000 lính Đức trên mặt trận phía Tây châu Âu. Việc đổ bộ lên Normandy đòi hỏi nỗ lực khổng lồ, cần không dưới vài triệu tấn đạn dược cùng 13.000 máy bay. Tuy nhiên, người Mỹ lại mong đợi Tưởng Giới Thạch tiếp tục chiến đấu chống Nhật gần như một mình, trong khi Hoa Kỳ chỉ đóng góp vỏn vẹn 20.000 tấn mỗi tháng, với 60% số vật tư này được dành riêng cho Lực lượng Không quân Lục quân Hoa Kỳ tại Côn Minh và hai phần ba trong số 40% còn lại được dành cho Lực lượng Viễn chinh Miến Điện. 45
Tại Trùng Khánh, Phó Tổng thống Henry A. Wallace kiên quyết ủng hộ sự đoàn kết với Đảng Cộng sản. Khi Tưởng Giới Thạch chỉ ra rằng Đảng Cộng sản phải tuân theo mệnh lệnh từ Moscow, Wallace phản bác rằng Quốc tế Cộng sản (Comintern) đã bị giải thể vào năm 1943. Ông cũng đề cập đến những nhận xét của Martel Hall, một giám đốc ngân hàng đã đi qua vùng lãnh thổ do Đảng Cộng sản kiểm soát vào năm 1943 và đánh giá rất cao Đảng Cộng sản. Ông ngụ ý rằng vị giám đốc ngân hàng người Mỹ này có thông tin chính xác hơn bất kỳ ai ở Trùng Khánh. Wallace cũng kêu gọi thiết lập quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Liên Xô, khẳng định rằng Stalin đã đích thân truyền đạt nhu cầu về “một Trung Quốc thống nhất, sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến chống Nhật Bản”. Đặc phái viên của Roosevelt, hơn nữa, bày tỏ mong muốn thấy sản lượng nông nghiệp ở Trung Quốc tăng lên, đồng thời ca ngợi những thành tựu mà ông đã quan sát được tại Liên Xô. Theo lời mời của Stalin, Wallace đã đến Trùng Khánh qua Alaska và Siberia, nơi các trại lao động đã được ngụy trang cẩn thận và các làng mẫu được chuẩn bị sẵn cho phó tổng thống và đoàn tùy tùng của ông. Trong chuyến tham quan có Magadan, một trung tâm khai thác mỏ ở thung lũng Kolyma, nơi hàng nghìn tù nhân khai thác kim loại quý. Wallace đã rất ấn tượng với những thành tựu của Liên Xô trong khu vực này, coi đó là tấm gương để Tướng Tưởng Giới Thạch noi theo. Wallace cũng đề nghị cử một nhóm quan sát viên Mỹ trực tiếp đến Diên An để thu thập thông tin tình báo và thiết lập quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch, vốn phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ, đã miễn cưỡng đồng ý. Nếu Wallace là một đặc phái viên do Moscow cử đến, ông khó có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn thế. 46
Phái đoàn, gồm tám quân nhân và một nhà ngoại giao, đã hạ cánh tại Diên An vào ngày 22 tháng 7 năm 1944. Thủ đô đỏ đang trong tình trạng báo động cao, Mao sẵn sàng trình diễn màn kịch của mình, được các nhà lãnh đạo hai bên tháp tùng tại sân bay cùng dàn nhạc chơi nhạc quân đội. Nhà ngoại giao đó là John Stewart Service, Thư ký thứ hai tại Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh. Đại tá David Barrett là trưởng đoàn. Mao đã tính toán đơn giản: quân Nhật đang đè bẹp Tưởng Giới Thạch, làm tăng cơ hội đạt được thỏa thuận cho Đảng Cộng sản. 47
John Service là người tò mò nhất, đặt ra những câu hỏi rõ ràng về bản chất của chương trình kinh tế của Đảng Cộng sản và tầm nhìn của đảng này về tương lai. David Barrett ban đầu thận trọng hơn, nhưng ông cũng sớm bị thuyết phục, cùng Service lên tiếng chỉ trích gay gắt Tưởng Giới Thạch, chế độ của ông ta và quân đội của họ, tất cả đều bị lên án là bất tài và không đáng tin cậy. John Service viết thư về Washington, liệt kê những thành tựu đáng kể của Đảng Cộng sản. Ông đề xuất ủng hộ toàn diện, trở thành một trong những người ủng hộ nhiệt thành và có ảnh hưởng nhất cho sự nghiệp này trong Bộ Ngoại giao. Sau khi nội chiến bùng phát trở lại một năm sau đó, Service đã trao cho Philip Jaffe – một doanh nhân trung thành với chủ nghĩa Stalin, người cung cấp thông tin cho các điệp viên tình báo Liên Xô – một tài liệu tuyệt mật tiết lộ sơ đồ tác chiến của chính phủ trung ương, bao gồm vị trí triển khai chính xác của các đơn vị quân đội. Trước khi qua đời vào năm 1999, Service thừa nhận rằng ông đã cố ý phớt lờ việc Mao Trạch Đông đàn áp các đối thủ của mình trong Chiến dịch Chỉnh phong. “Tôi muốn họ chiến thắng.” 48
Các nhà báo nước ngoài cũng lần lượt đến. Họ gặp gỡ những công nhân và nông dân mẫu mực, tất cả đều được chế độ lựa chọn và huấn luyện kỹ lưỡng. Với những người giám sát đi theo từng bước chân, họ được dẫn đi tham quan các trường học và bệnh viện mẫu mực. Mọi câu trả lời dành cho các nhà báo đều được ghi chép lại và sau đó được đánh giá, những người có thành tích được coi là không đạt yêu cầu sẽ bị liệt kê tên. Ngay cả những người dân làng giả vờ làm việc dọc đường để đưa các phóng viên từ địa điểm này sang địa điểm khác cũng bị khiển trách vì trông quá giả tạo. Những người nông dân cầm cuốc không ngẩng đầu lên khi người nước ngoài đi qua, tạo ra một hiệu ứng không tự nhiên. Tại một ngôi làng, chó đã bị nhốt lại, tạo ra một sự yên tĩnh giả tạo. Các nhà báo nước ngoài, vốn rất vui khi được dẫn đi tham quan và hoàn toàn sẵn sàng giúp xóa tan những định kiến tiêu cực về bản chất của chủ nghĩa cộng sản đang phổ biến tại Trùng Khánh, đã không để ý đến những sự không phù hợp nhỏ nhặt như vậy. 49
Một trong những người đầu tiên đưa tin về sự kiện này cho thế giới là Harrison Forman của tờ New York Herald Tribune. “Người dân Trung Quốc cần dân chủ,” Mao nói với ông, bởi “chỉ khi có dân chủ, sự thống nhất của Trung Quốc mới có thể tiếp tục sau chiến tranh.” Chủ tịch, giống như các nhà lãnh đạo khác, ăn mặc không khác gì các lính hầu của mình, trong chiếc áo sơ mi vải bông màu xanh nhạt đã phai màu và quần ống rộng, đi dép dây thừng, hoàn toàn trái ngược với sự xa hoa và phô trương ở Trùng Khánh. Thay vì cướp bóc của nông dân, các binh sĩ tự tay canh tác đất đai, biến vùng đất hoang vu với những ngọn đồi và thung lũng cằn cỗi thành những cánh đồng nông nghiệp tươi tốt, các binh sĩ vừa hát vang vừa cầm cuốc, xẻng và rìu. Bản thân Forman đã dành một buổi tối ngồi dưới bầu trời sao, chứng kiến các binh sĩ và vợ con họ biểu diễn điệu múa dân gian. Họ reo hò chúc mừng thành công của Liên Hợp Quốc, được thành lập vào mùa hè năm 1945. 50
Vô số bài báo tương tự đã xuất hiện. Brooks Atkinson viết rằng Diên An là một “nền dân chủ nông nghiệp hay nông dân”, chỉ mang danh nghĩa Cộng sản mà thôi. Báo New York Times đã đặt tiêu đề đầy hào hứng cho bài viết của mình là “Yenan (Diên An), Thành phố thần tiên của Trung Quốc”. Giống như nhiều người khác, ông coi Đảng Cộng sản Trung Quốc như một củ cải đỏ, chỉ đỏ ở bên ngoài mà thôi. Theodore White, một trong những nhà báo có ảnh hưởng nhất thời bấy giờ, thừa nhận nhiều thập kỷ sau rằng Mao luôn nói “bằng những thuật ngữ Marxist cứng nhắc nhất”, thể hiện những ý tưởng “dường như quá phi thực tế và giáo điều đến mức tôi thấy chúng không đáng để đưa tin”. Tại Hoa Kỳ, như một nghị sĩ từng làm việc với tư cách là nhà truyền giáo y tế tại Trung Quốc đã chỉ ra: “Một năm trước, người ta khó mà tìm được từ ngữ nào đủ tốt để mô tả các đồng minh Trung Quốc của chúng ta [tại Trùng Khánh], giờ đây người ta lại khó mà tìm được từ ngữ nào đủ xấu.” 51
Một số nhà báo trong số này là điệp viên được Moscow tuyển mộ. Một ví dụ là Günther Stein, lúc bấy giờ là thành viên chủ chốt của mạng lưới Tình báo Quân sự Liên Xô (GRU) do Richard Sorge điều hành – một nhà báo người Đức hoạt động như điệp viên tại Đông Á và bị người Nhật treo cổ với tội danh gián điệp vào năm 1944. Stein, người bảo vệ không mệt mỏi cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã viết rằng đằng sau cuộc phong tỏa, ‘những người cộng sản đã thiết lập nền dân chủ mới’. Sir Humphrey Prideaux-Brune, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp người Anh làm việc tại Trung Quốc từ năm 1911, đã nhận xét một cách khô khan rằng Stein cảm thấy thất vọng với Trùng Khánh và tập trung sự đồng cảm của mình vào phe Cộng sản, “giống như đã xảy ra với nhiều người khác có tình cảm ủng hộ Trung Quốc mạnh mẽ nhưng lại có kiến thức về Trung Quốc tương đối hạn chế”. 52
Vào cuối năm 1944, Đại sứ quán Anh nhận xét rằng ngày càng có nhiều khách đến Diên An, lưu ý rằng họ có “nhiều điều tích cực để nói, và hầu như không có gì trái ngược với chế độ”. Các nhà báo Trung Quốc lại không ấn tượng lắm. Họ cáo buộc rằng những người Cộng sản “che giấu sự thật vì mục đích riêng”, “bịa đặt câu chuyện” và “thay đổi sự thật để tấn công và làm suy yếu chính phủ trung ương”. Họ quan sát thấy tình trạng kiểm duyệt tràn lan và thiếu tự do tôn giáo, đồng thời phát hiện tất cả các ngôi chùa trên đường đến Diên An đều bị phá hủy. Họ phàn nàn rằng các chuyến tham quan bị “kiểm soát chặt chẽ” và họ không được phép “tiếp xúc tự do” với người dân. Họ nhấn mạnh bầu không khí thiếu tin tưởng, với một phóng viên bị cảnh báo rằng “an toàn cá nhân” của anh ta không thể được đảm bảo sau khi anh ta lén lút trốn khỏi những người giám sát. Tất cả đều lưu ý rằng giá cả ở đây cao hơn nhiều so với ở Trung Quốc Tự do. Họ cho biết các hiệu sách chỉ bán toàn sách chính trị. Các tờ báo hàng ngày đăng tải những bài viết chỉ trích gay gắt chính quyền trung ương. Hệ thống “Một phần ba” chỉ là chiêu trò đánh lừa. Một nhà báo thậm chí còn táo bạo hỏi tại sao anh ta không thể tìm thấy một thành viên nào của Quốc Dân Đảng ở khắp Diên An. 53
Günther Stein, hành động thay mặt cho Moscow, cũng khẳng định với thế giới rằng không có bất kỳ mối liên hệ nào giữa Mao và Stalin. Một thông điệp tương tự cũng đến từ Liên Xô. Một tuần trước khi Wallace được cử đến Trùng Khánh, Stalin đã gặp Đại sứ Mỹ Averell Harriman để nói với ông rằng Tưởng Giới Thạch đã sai lầm khi nghi ngờ Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người chẳng qua chỉ là những người yêu nước mong muốn tham gia cuộc chiến chống Nhật. Với một cái phẩy tay, ông cười khẩy và coi thường những “kẻ tự xưng là Cộng sản” ở miền Bắc chỉ là những “Cộng sản giả tạo”. Vào tháng 9, Molotov đã củng cố thông điệp này, giải thích với Harriman rằng ở Trung Quốc “một số người tự xưng là ‘Cộng sản’ nhưng họ không có bất kỳ mối liên hệ nào với chủ nghĩa cộng sản”. Họ chỉ đang bày tỏ “sự bất mãn với hoàn cảnh kinh tế” của mình bằng cách “tự xưng là Cộng sản”. Molotov tiếp tục rằng, một khi điều kiện kinh tế được cải thiện, họ sẽ “quên đi khuynh hướng chính trị này”. Ông kết luận rằng chính phủ Liên Xô không thể bị quy trách nhiệm dưới bất kỳ hình thức nào về tình huống này, cũng như không nên bị liên kết với những “yếu tố Cộng sản” này. 54
Nói tóm lại, Moscow đã thành công trong việc lôi kéo Washington tiếp tục chính sách lâu nay của mình là ép chính phủ trung ương phải liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
***
Suốt cuộc chiến, Roosevelt đã kiên quyết yêu cầu Joseph Stilwell được bổ nhiệm làm Tổng Thống Lĩnh tất cả các quân đội tại Trung Quốc. Tuy nhiên, Stilwell có thành tích kém cỏi. Ngay sau khi đến Trung Quốc để đảm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng của Tổng Thống Lĩnh, ông đã được giao chỉ huy hai quân đoàn Quốc dân đảng tại Miến Điện, nhưng cả hai đều bị quân Nhật đánh tan. Stilwell ra lệnh phản công, trực tiếp bác bỏ mệnh lệnh của Tưởng Giới Thạch, dẫn đến thảm họa khiến chính phủ trung ương mất đi một số đơn vị tinh nhuệ nhất. Tướng Mỹ này đã bỏ rơi binh lính ngay khi quân Nhật chiếm ưu thế. 55
Tưởng Giới Thạch phớt lờ các yêu cầu của Roosevelt, cho đến khi một tối hậu thư từ Nhà Trắng được gửi đến vào ngày 16 tháng 9 năm 1944, ra lệnh cho ông phải giao cho Stilwell “quyền chỉ huy không giới hạn” đối với toàn bộ lực lượng của mình “ngay lập tức”, và coi đó là điều kiện để “Mỹ tiếp tục nỗ lực duy trì và tăng cường viện trợ cho quý vị”. Tưởng đã thách thức lời đe dọa của tổng thống, coi tối hậu thư này như một sự khuất phục hoàn toàn của đất nước ông. Luôn cứng đầu, ông lại kiên quyết đòi thay thế Stilwell. Patrick Hurley, đặc phái viên mà Roosevelt đã cử đến Trung Quốc vào tháng 8 để giúp cải thiện quan hệ giữa Tưởng và Stilwell, đã ủng hộ Tổng Thống Lĩnh. Vào tháng 11 năm 1944, Tướng Albert Wedemeyer – một người cao lớn và uy nghiêm – được cử đến thay thế Stilwell. Khi tiếp quản từ người tiền nhiệm, ông phát hiện ra rằng không có kế hoạch chiến tranh nào của Mỹ dành cho Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, vị tướng này đã khôi phục tinh thần chiến đấu trong vòng vài tháng, thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với Tưởng Giới Thạch và giúp xây dựng những đội quân hùng mạnh dưới sự chỉ đạo của ông. 56
Hurley, một doanh nhân đến từ Oklahoma với vẻ ngoài chỉn chu, râu quai nón rậm rạp và mái tóc bạc phơ, rất mong muốn thành lập một mặt trận thống nhất. Ông đến Diên An với đề nghị từ Tưởng Giới Thạch về việc hợp pháp hóa tất cả các đảng phái chính trị và trao cho Đảng Cộng sản Trung Quốc một số chức vụ trong chính phủ. Ông đến vào ngày 7 tháng 11 và được Chu Ân Lai cùng Đại tá David Barrett đón tiếp tại sân bay. Mao, người không bao giờ bỏ lỡ cơ hội tốt, đã thúc đẩy mạnh mẽ, kêu gọi thành lập một chính phủ liên hiệp, thực chất nhằm đặt Diên An ngang hàng với Trung Hoa Dân Quốc được quốc tế công nhận. Trong số các điều kiện tiên quyết, Chủ tịch Mao yêu cầu thành lập một hội đồng quân sự chung với số lượng tướng lĩnh Quốc dân đảng và Cộng sản ngang nhau. Hurley đồng ý với mọi điều khoản. Để chắc chắn hơn, chính đặc phái viên của Mỹ thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại đã tự mình bổ sung các yêu cầu về dân chủ và tự do vào bản dự thảo tuyên bố trước khi ký tên vào bản sao. Ngay khi Hurley rời Diên An, Mao, với tâm trạng hân hoan, đã gửi ngay một số điện tín đến Moscow. 57
Người Mỹ đã không nhận ra điều mà người Anh thấy rõ ràng, đó là không thể thành lập liên minh nào khi cả hai bên đều sở hữu lực lượng vũ trang riêng và không tin tưởng lẫn nhau. London đã chỉ ra Hy Lạp như một tiền lệ không may mắn, nơi chính phủ lưu vong do nhà tự do nổi tiếng Georgios Papandreou lãnh đạo đã tham gia liên minh với các lực lượng Cộng sản vào tháng 5 năm 1944. Các bộ trưởng Cộng sản đã gây rối loạn cho bộ máy của chính phủ “Đoàn kết Quốc gia”, từ chức một cách đều đặn khi đến thời điểm đảo chính. Ngay khi người Anh tiến vào Athens sau khi quân Đức rút lui vào ngày 13 tháng 10, các chiến binh du kích Cộng sản đã tỏa ra để kiểm soát các vùng nông thôn và một loạt thành phố. Liên minh sụp đổ vào tháng 12, và từ năm 1946 đến 1949, một cuộc nội chiến đã diễn ra, để lại Hy Lạp trong tình trạng hoang tàn. 58
Tại Trùng Khánh, phản ứng trước đề xuất của phe Cộng sản là sự thất vọng tột độ. T. V. Soong (Tống Tử Văn) ngay lập tức chỉ ra với Hurley – người vừa mới được bổ nhiệm làm đại sứ – rằng: “Ông đã bị phe Cộng sản lừa gạt.” “Chính phủ Quốc dân sẽ không bao giờ chấp nhận những yêu cầu mà phe Cộng sản đưa ra,” ông nhấn mạnh thêm. Tưởng Giới Thạch đã thẳng thừng bác bỏ ý tưởng thành lập chính phủ liên hiệp, thay vào đó yêu cầu quyền kiểm soát các lực lượng Cộng sản. Đáp lại, Chủ tịch coi đây là một sự đầu hàng hoàn toàn và đe dọa sẽ công bố văn bản mà Hurley đã đồng soạn thảo với Đảng Cộng sản và ký tên mà không tham khảo ý kiến trước với đồng minh của Hoa Kỳ tại Trùng Khánh. Mao Trạch Đông, người biết rõ rằng các điều kiện của mình là không thể chấp nhận được, trên thực tế đã đẩy Hurley vào thế bí và giờ đây đang ở vị thế thuận lợi để lập luận rằng một liên minh với Tưởng Giới Thạch là không thể. 59
Hurley nhận ra mình đã bị lừa. Một tháng sau, Tưởng Giới Thạch giới thiệu ông với người đứng đầu cơ quan mật vụ của mình, người đã đưa ra bằng chứng về một kế hoạch bí mật do Văn phòng Dịch vụ Chiến lược (OSS) – cơ quan tình báo Mỹ – khởi xướng. Một trong những điệp viên của họ, Đại tá William Bird, người từng làm việc tại Diên An trong đội của David Barrett, đã xây dựng một bản kế hoạch táo bạo về hợp tác giữa Washington và phe Cộng sản, đề xuất đưa đủ chuyên gia Mỹ sang để huấn luyện và trang bị cho tối đa 25.000 chiến binh du kích. Hurley, người không được thông báo gì về chiến dịch này, đã nổi giận. Ông kết luận rằng Barrett và Bird đã lén lút đề nghị công nhận phe Cộng sản là một bên tham chiến có vũ trang sau lưng ông và đã làm suy yếu nỗ lực của ông trong việc xây dựng một liên minh. Ông đã phàn nàn với Roosevelt, người sau đó đã chấm dứt sáng kiến của Bird. 60
Vài tuần sau, trong chuyến thăm Washington, Hurley đã thay đổi lập trường, lên án mọi hình thức hợp tác với Diên An và kêu gọi Washington ủng hộ hoàn toàn Trùng Khánh. “Tất cả các lập luận và tài liệu đã trình bày đều cho thấy với ngài”, ông viết cho Roosevelt vào ngày 18 tháng 2 năm 1945, “rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc không phải là đảng dân chủ; rằng mục đích của họ là lật đổ sự kiểm soát của chính phủ do Quốc Dân Đảng nắm giữ trước khi có cơ hội thông qua hiến pháp hoặc trao lại quyền kiểm soát chính phủ cho nhân dân trên cơ sở dân chủ.” Đến thời điểm này, các cuộc đàm phán giữa hai bên đã kéo dài vô ích dưới nhiều hình thức khác nhau trong hơn chín tháng. Như Wang Shijie (Vương Thế Kiệt 王世杰), nhà đàm phán đại diện cho chính phủ trung ương, đã chỉ ra, phe Cộng sản liên tục thay đổi hoặc gia tăng các yêu sách của mình, đưa ra những yêu sách mới mỗi khi chính phủ trung ương phải chịu thất bại quân sự trước quân Nhật. 61
Sự thay đổi lập trường đột ngột của Hurley đã chặn đứng nỗ lực của Mao trong việc giành được viện trợ tài chính và quân sự đáng kể từ Hoa Kỳ. Thay vào đó, ông chuyển hướng sang Moscow, trong bối cảnh các nhà lãnh đạo rầm rộ bàn luận về “tinh thần chung của các đảng anh em” và cách Liên Xô sẽ chiến đấu vì Đảng Cộng sản Trung Quốc. 62
Bằng chứng thêm về khả năng Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật Bản xuất hiện vào tháng 2 năm 1945. Vào tháng 11 năm 1943, Tưởng Giới Thạch đã được mời gặp các đồng nghiệp Anh và Mỹ tại Cairo, những người đã tuyên bố, trong số các vấn đề khác, rằng Mãn Châu và Đài Loan sẽ được trả lại cho Trung Hoa Dân Quốc sau khi Nhật Bản bị đánh bại. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 1945, khi Roosevelt, Churchill và Stalin gặp nhau tại Yalta, một khu nghỉ mát của Liên Xô bên bờ Biển Đen, Tưởng Giới Thạch không được mời với tư cách là một trong bốn cường quốc lớn. Vài tháng trước đó, vào tháng 10 năm 1944, Tướng Douglas MacArthur đã cho quân đổ bộ lên Leyte ở Philippines. Những trận chiến khốc liệt diễn ra sau đó, riêng trận chiến giành Manila đã cướp đi sinh mạng của 100.000 dân thường, khiến thành phố chìm trong đống đổ nát. Một cuộc tấn công đổ bộ vào Nhật Bản dường như là một thách thức lớn và được dự đoán sẽ gây tổn thất nặng nề về nhân mạng cho phía Mỹ. Bom nguyên tử bí mật vẫn chưa được thử nghiệm, và Tổng thống Roosevelt, lúc này đã yếu ớt, tìm cách giành được sự ủng hộ của Liên Xô trong cuộc chiến chống Nhật Bản. Stalin đồng ý chấm dứt hiệp ước không xâm lược với Nhật Bản và tham gia Chiến tranh Thái Bình Dương ba tháng sau khi Đức đầu hàng, nhưng không phải mà không có những nhượng bộ lớn. Những nhượng bộ này bao gồm một khu vực chiếm đóng tại Triều Tiên, quyền kiểm soát đảo Sakhalin nằm ngay phía bắc Hokkaido, và quyền kiểm soát cảng Port Arthur và Dairen (Dalian-Đại Liên) tại Mãn Châu. Stalin cũng đòi hỏi quyền kiểm soát chung đối với Đường sắt Đông Trung Quốc, quyền sở hữu mà Moscow đã bán cho Tokyo mười năm trước đó. Tưởng Giới Thạch chưa bao giờ được tham vấn, vì Roosevelt thực chất đã trao đổi quyền tiếp cận độc quyền của Liên Xô vào Mãn Châu để đổi lấy sự giúp đỡ từ Stalin. Tổng thống cũng chấp nhận yêu cầu của Moscow về nguồn cung cấp thực phẩm và nhiên liệu trong hai tháng cho 1,5 triệu binh sĩ, gửi hàng trăm chuyến tàu chở vật tư theo chương trình cho Vay-cho Thuê đến Siberia trong những tháng tiếp theo, bao gồm 500 xe tăng Sherman. 63
Tại Diên An, Mao đã có linh cảm về những gì đang diễn ra khi vào ngày 18 tháng 2 năm 1945, tờ Izvestia – cơ quan ngôn luận của Liên Xô – đăng một bài xã luận nhấn mạnh mong muốn của Moscow là “giải quyết vấn đề Viễn Đông với sự cân nhắc đầy đủ đến lợi ích của Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Ngày 25 tháng 2, Mao gửi một bức điện tín đến Moscow, chúc mừng Stalin về những chiến thắng vang dội của Hồng quân, lực lượng đang tiến sâu vào lãnh thổ Đức. Chủ tịch Mao đã không ngớt lời ca ngợi, bày tỏ sự ngưỡng mộ trước thiên tài của Stalin. Khi Moscow đơn phương chấm dứt hiệp ước với Tokyo vào ngày 5 tháng 4, Mao bắt đầu nhắm đến Mãn Châu. “Nếu vùng Đông Bắc nằm dưới sự lãnh đạo của chúng ta thì điều đó sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với Cách mạng Trung Quốc?” ông đặt câu hỏi tu từ vào ngày 31 tháng 5, tại phiên bế mạc Đại hội Đảng lần thứ Bảy. “Hiện nay, những căn cứ địa ít ỏi của chúng ta bị kẻ thù chia cắt. Không có căn cứ địa hay khu vực nào của chúng ta là ổn định. Không có công nghiệp, chúng đang đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt. Vì lý do này, chúng ta phải tranh giành các thành phố, tranh giành bất kỳ mảnh đất vững chắc nào. Nếu chúng ta có một khu căn cứ thực sự rộng lớn, bao gồm cả vùng Đông Bắc, thì xét từ góc độ của toàn dân tộc, chiến thắng của Cách mạng Trung Quốc sẽ có một nền tảng, một nền tảng vững chắc và bền vững.” Câu hỏi ngày càng được đặt ra là khi nào, chứ không phải liệu, Hồng Quân sẽ tiến vào Mãn Châu. 64
Chú thích:
1
MAE, 513PO/A/322, ‘Réaction de Tchongking’, 27 June 1941, and ‘Les répercussions à Tchongking’, 30 April 1941; dự đoán của Tưởng Giới Thạch: Dimitrov, Diary, p. 166.
2
Taylor, The Generalissimo, pp. 178–9.
3
Mao Trạch Đông, Quyết định về Mặt trận Thống nhất Quốc tế, 23 June 1941, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, p. 764; Biên bản cuộc họp Bộ Chính trị, 3 July 1941, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 5, p. 540; Dallin and Firsov, Dimitrov and Stalin, 1934–1943, pp. 142–3; sự thù địch: Peter Vladimirov, The Vladimirov Diaries: Yenan, China, 1942–1945, New York: Doubleday, 1975, p. 20; xem cả Dimitrov, Diary, p. 193.
4
Mao Trạch Đông, “Về Dân chủ Mới”, 15 Jan. 1940, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, pp. 330–69.
5
Xem Frank Dikötter, The Age of Openness: China before Mao, London: Hurst, and Berkeley, CA: University of California Press, 2008, pp. 21–2; Mao Trạch Đông, “Tình hình và nhiệm vụ trong cuộc chiến chống Nhật”, 12 Nov. 1937, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 6, pp. 153–5; Mao Trạch Đông, “Về việc thúc đẩy chính phủ hiến pháp”, 20 Feb. 1940, và “Về vấn đề quyền lực chính trị”, 6 March 1940, cả hai trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, pp. 432–3 và 424–8; xem cả Arthur A. Cohen, The Communism of Mao Tse-tung, Chicago, IL: University of Chicago Press, 1964, pp. 93–5.
6
Mao Trạch Đông, “Về Dân chủ Mới”, 15 Jan. 1940, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, p. 342.
7
CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji: 1942, Tóm tắt công tác về Hệ thống Một Phần Ba ở Khu vực Tây Bắc, 12 June 1942, pp. 139–144; trái lại, thành công của hệ thống này tại Longdong đã được một nhà sử học sớm, người dựa vào tài liệu tuyên truyền, ca ngợi là “đáng kinh ngạc”; xem Tetsuya Kataoka, Resistance and Revolution in China: The Communists and the Second United Front, Berkeley, CA: University of California Press, 1974, p. 240; xuất thân giai cấp: CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1944, Nghiên cứu về Hệ thống Một Phần Ba của Văn phòng Tây Bắc, 23 March 1944, pp. 219–20.
8
CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji: 1942, Kinh nghiệm của các Ủy ban Tham vấn tại khu vực Thiểm Tây–Cam Túc–Ninh Hạ, 19 Nov. 1942, pp. 286–7.
9
CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1943 (1), Dự thảo Chỉ thị về việc loại trừ những kẻ phản bội, March 1943, pp. 33–4.
10
PRO, FO 371/35777, Thư của Ngài Horace J. Seymour gửi Anthony Eden, 29 Dec. 1942, p. 20; Banac, The Diary of Georgi Dimitrov, p. 227.
11
PRO, FO 371/35777, ‘Trích đoạn từ báo cáo của C. A. M. Brondgeest’, 1 Feb. 1943, p. 21; báo cáo của René d’Anjou và Georges Uhlmann: PRO, FO 371/35801, Thư của Ngài Horace J. Seymour gửi Anthony Eden, 29 July 1943, pp. 3–4; Claire and William Band, Dragon Fangs: Two Years with Chinese Guerrillas, London: George Allen & Unwin, 1947, pp. 144–5.
12
CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji: 1942, Các vấn đề về hệ thống Baojia và công tác của các chi nhánh Đảng, 1942, pp. 315–45.
13
RGASPI, 495-225-71 và 495-74-314, được trích trong Alexander V. Pantsov, Mao: The Real Story, New York: Simon & Schuster, 2012, p. 334.
14
Mao Trạch Đông, “Phản đối chủ nghĩa chủ quan và bè phái”, 10 Sept. 1941, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 7, pp. 808–11; xem cả ‘Reform our Study’, 19 May 1941, in ibid., pp. 747–54.
15
Gao, How the Red Sun Rose, pp. 336–8.
16
Chang and Halliday, Mao, pp. 193–4 and 238–40.
17
Về Ding Ling trong thời kỳ Phong trào Chỉnh đốn, nên đọc Chương 14 trong Charles Alber, Enduring the Revolution: Ding Ling and the Politics of Literature in Guomindang China, London: Praeger, 2002; có nhiều nghiên cứu rất thú vị về Vương Chí Vị (Wang Shiwei), đặc biệt là của Gregor Benton, người cũng đã dịch “Wild Lilies”, trong bài “Giới thiệu về ‘Phong trào Đối lập Văn học Diên An’,” New Left Review, no. 92 (July–Aug. 1975), pp. 93–6, và Dai Qing, Wang Shiwei and ‘Wild Lilies’: Rectification and Purges in the Chinese Communist Party, 1942–1944, Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1994.
18
Mao Trạch Đông, “Các bài phát biểu tại Diễn đàn Văn học và Nghệ thuật Diên An”, May 1942, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 8, pp. 102–32.
19
Gao, How the Red Sun Rose, pp. 410–1.
20
Vladimirov, The Vladimirov Diaries, pp. 137–44 and 161.
21
Ibid., p. 211.
22
Shenfu và Longdong: GSG, 002-090105-00009-158, Deng Baoshan gửi He Yingqin, 15 Jan. 1944; GSG, 002-090300-00212-110, Zhu Shaoliang, Report, 15 Jan. 1944; Wang Ming, Mao’s Betrayal, Moscow: Progress Publishers, 1979, pp. 59 and 149; Moscow: Letter from Georgi Dimitrov to Mao Zedong, 22 Dec. 1944, trong Titarenko, Kommunisticheskii Internatsional i kitaiskaia revoliutsiia, pp. 295–6.
23
Gao Wenqian, Zhou Enlai: The Last Perfect Revolutionary, New York: PublicAffairs, 2007, p. 88; Vladimirov, The Vladimirov Diaries, p. 106; Georgi Dimitrov gửi Mao Zedong, 22 Dec. 1944, trong Titarenko, Kommunisticheskii Internatsional i kitaiskaia revoliu- tsiia, pp. 295–6.
24
Gao, How the Red Sun Rose, p. 648; Peter J. Seybolt, ‘Terror and Conformity: Counterespionage Campaigns, Rectification, and Mass Movements, 1942–1943’, Modern China, 12, no. 1 (Jan. 1986), p. 40.
25
Ủy ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản, “Nghị quyết của Ban Chấp hành Thường trực Quốc tế Cộng sản”, 15 May 1943, có nhiều phiên bản khác nhau trên mạng, bao gồm cả tại Kho lưu trữ An ninh Quốc gia, nơi bản dịch này được trích dẫn.
26
Raymond F. Wylie, The Emergence of Maoism: Mao Tse-tung, Ch’en Po-ta, and the Search for Chinese Theory, 1935–1945, Stanford, CA: Stanford University Press, 1980, pp. 205–6; Gao, How the Red Sun Rose, pp. 668–70; Li Jihua, ‘Dui Mao Zedong geren chongbai de zisheng’ (Sự lan truyền của tệ sùng bái cá nhân Mao), Yanhuang chunqiu, no. 3 (March 2010), pp. 40–5.
27
Gao, How the Red Sun Rose, pp. 668–70.
28
Theodore H. White and Annalee Jacoby, Thunder out of China, London: Victor Gollancz, 1947, p. 217.
29
Chang and Halliday, Mao, p. 268; PRO, FO 371/35777, ‘Trích đoạn từ báo cáo của C. A. M. Brondgeest’, 1 Feb. 1943, p. 21.
30
Stuart R. Schram, ‘Party Leader or True Ruler? Foundations and Significance of Mao Zedong’s Personal Power’, trong Stuart R. Schram (ed.), Foundations and Limits of State Power in China, London: School of Oriental and African Studies, 1987, p. 213.
31
Sự đóng góp từ chính phủ trung ương, cũng như các khoản thuế được áp đặt tại Diên An, được thảo luận trong Ch’en Yung-fa, ‘The Blooming Poppy under the Red Sun: The Yan’an Way and the Opium Trade’, trong Tony Saich and Hans van de Ven (eds), New Perspectives on the Chinese Communist Revolution, Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1995, pp. 263–98; sự đóng góp từ Liên Xô được nêu chi tiết trong một loạt điện tín đề ngày 23/2/1940 (USD350,000) và 3/7/ 1941 (USD1 million), trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 5, pp. 404–6 and 540; việc dân làng bỏ chạy và tâm trạng chung: CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji: 1942, Văn bản của Văn phòng Tây Bắc về các vấn đề trong mùa Cày Xuân, 7/4/1942, pp. 113–15; Xie Juezai, Xie Juezai riji (Diary), Beijing: Renmin chubanshe, 1984, vol. 1, p. 579.
32
Lạm phát: CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1944, Nghiên cứu của Văn phòng Tây Bắc về Thương mại, 15 March 1944, pp. 213–15; Mao được trích trong Ch’en, ‘The Blooming Poppy under the Red Sun’, pp. 263–98.
33
CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1943 (1), Feb. 1943, Về chính sách tinh giản bộ máy chính quyền, pp. 40 and 45; CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1944, Chỉ thị của Văn phòng Tây Bắc về việc Cày xuân, 30 Jan. 1944, pp. 10–11; xem cả Ch’en, ‘The Blooming Poppy under the Red Sun’.
34
Về nỗ lực thất bại trong việc trồng thuốc phiện tại Nanniwan, xem CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1943 (1), Điều tra về Nanniwan, Feb. 1943, p. 272; về sản xuất thuốc phiện, xem nghiên cứu toàn diện của Ch’en, ‘The Blooming Poppy under the Red Sun’.
35
Vladimirov, The Vladimirov Diaries, pp. 214–18.
36
MAE, 513PO/A/80, các Báo cáo về Trùng Khánh, Đại sứ quán Pháp, 30 Oct. 1940, 1 June 1941, 2 Aug. 1941, 1 and 2 Sept. 1941.
37
Bản tin của Hãng Thông tấn Associated Press, 24 July 1947, được trích trong Michael Lynch, Mao, London: Routledge, 2004, p. 141.
38
Michell Li, ‘Inflation in Eastern China during the Second Sino-Japanese War’, Journal of Economics Library, 6, no. 4 (Dec. 2019), pp. 338–53; MAE, 513PO/A/77, 30 Sept. 1943, ‘Situation politique en Chine’, cũng như ‘Note sur la situation politique’, Feb. 1944.
39
PRO, FO 371/41579, ‘From Chungking to Foreign Office’, 7 May 1944, p. 171; PRO, FO 371/27715, Ian Morrison, ‘The Future of Free China’, May or June 1941, p. 65.
40
Robert Payne, Chinese Diaries: 1941–1946, New York: Weybright & Talley, 1970, p. 262; Chiang Kai-shek, China’s Destiny, New York: Roy Publishers, 1947, pp. 127, 137, 173, 210, 271–4, 277.
41
Xem Kenneth E. Shewmaker, Americans and Chinese Communists, 1927–1945: A Persuading Encounter, Ithaca, NY: Cornell University Press, 1971.
42
Evans F. Carlson, Evans F. Carlson on China at War, 1937–1941, Beijing: Foreign Languages Press, 2004, pp. 10, 32–3 và 61; xem cả Kenneth E. Shewmaker, ‘The American Liberal Dream: Evans F. Carlson and the Chinese Communists, 1937–1947’, Pacific Historical Review, 38, no. 2 (May 1969), pp. 207–16.
43
Joseph W. Stilwell, The Stilwell Papers, New York: William Sloane Associates, 1948, pp. 193, 206, 214–15 and 316.
44
Pantsov, Mao, pp. 530–6.
45
HIA, Soong, T. V. (Tzu-wen) Papers 1920–1999, box 36, Bản ghi nhớ của Ho Feng-shan gửi T. V. Soong, 25 Sept. 1944.
46
United States Relations with China, with Special Reference to the Period 1944–1949, Washington, DC: Department of State, 1949, Summary Notes of Conversations between Henry Wallace and Chiang Kai-shek, 21–24 June 1944, pp. 549–59; cũng như Robert P. Newman, Owen Lattimore and the ‘Loss’ of China, Berkeley, CA: University of California Press, 1992, chap. 8.
47
Vladimirov, The Vladimirov Diaries, pp. 233–4.
48
Ibid., pp. 252–8; NARA, RG 59, 893.00/9-2844, Báo cáo được David Barrett phê duyệt để chuyển giao, “Sự cần thiết của chính sách Mỹ đối với vấn đề do sự trỗi dậy của Đảng Cộng sản Trung Quốc gây ra”, ngày 3 tháng 9 năm 1944; trong một cuộc trò chuyện qua điện thoại với Jonathan Mirsky vào năm 1999, Service thừa nhận rằng hành động của ông có thể bị coi là phản quốc; Jonathan Mirsky, ‘In Whose Service? The Reckless Actions of a Pro-Mao “China Hand” in the State Department’, Wall Street Journal, 20 Dec. 2009; về sự thất bại của Hoa Kỳ trong việc hiểu Trung Quốc, nên tham khảo tác phẩm của Tang Tsou, America’s Failure in China, 1941–1950, Chicago, IL: University of Chicago Press, 1963.
49
CA, Xibeiju geming lishi wenjian huiji: 1944, Tài liệu về các chuyến thăm của các nhà báo nước ngoài, Aug. 1944, pp. 327–38.
50
Harrison Forman, ‘A Visit to Communist China’, New York Herald Tribune, 1 July 1944.
51
Brooks Atkinson, ‘Yenan is Well Fed with Big Harvest’, New York Times, 25 Sept. 1944, ‘Yenan, a Chinese Wonderland City on 3 Kinds of Time’, New York Times, 6 Oct. 1944, và ‘Chinese Still Try to Unify Factions’, New York Times, 26 Nov. 1944; White and Jacoby, Thunder out of China, lời giới thiệu mới cho ấn bản năm 1961, p. xiii; Shewmaker, Americans and Chinese Communists, 1927–1945, p. 17; the congressman (nghị sĩ): Walter Judd, What is the Truth about China?, Washington, DC: U.S. Government Printing Office, 1945.
52
Charles A. Willoughby, Shanghai Conspiracy: The Sorge Spy Ring, Moscow, Shanghai, Tokyo, San Francisco, New York: Dutton, 1952, pp. 76 ff., 249–50 and 276–7; PRO, FO 371/46164, Sir Humphrey Prideaux-Brune, ‘Report by Günther Stein’, 3 Jan. 1945, p. 30.
53
PRO, FO 371/41615, Ngài H. Seymour gửi ông Eden, 17 Oct. 1944, p. 187; PRO, FO 371/41582, ‘Kiểm duyệt bưu chính và điện tín’, 29 Nov. 1944, p. 252; PRO, FO 371/41614, Sir H. Seymour gửi ông Eden, 31 Aug. 1944, p. 136.
54
PRO, FO 371/46164, Sir Humphrey Prideaux-Brune, ‘Báo cáo của Günther Stein’, 3 Jan. 1945, p. 30; ‘Đại sứ tại Liên Xô (Harriman) gửi Tổng thống Roosevelt’, 11 June 1944, và ‘Đại sứ tại Liên Xô (Harriman) gửi Bộ trưởng Ngoại giao’, 5 Sept. 1944, trong Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers, 1944, China, vol. 6, documents 90 and 238; tôi đã thay đổi thì quá khứ thành thì hiện tại.
55
Hans van de Ven, China at War: Triumph and Tragedy in the Emergence of the New China, Cambridge, MA: Harvard University Press, 2018, pp. 164–6.
56
‘Thư của Tổng thống Roosevelt gửi Tổng Thống-Lĩnh Tưởng Giới Thạch’, 16 Nov. 1944, Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers, 1944, China, vol. 6, document 146; Joseph and Stewart Alsop, ‘Before Marshall: Still Went’, Washington Post, 14 Jan. 1946.
57
Vladimirov, The Vladimirov Diaries, p. 289.
58
PRO, FO 371/46164, ‘Quan hệ giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản’, bình luận của G. F. Hudson đề ngày 26 Jan. 1945, p. 75.
59
‘Đại sứ tại Trung Quốc (Hurley) gửi Bộ trưởng Ngoại giao’, 31 Jan. 1945, trong Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers, 1945, China, vol. 7, doc. 149; John N. Hart, The Making of an Army ‘Old China Hand’, Berkeley, CA: Institute of East Asian Studies, University of California, 1985, pp. 59–60; Jonathan Fenby, Generalissimo: Chiang Kai-shek and the China He Lost, London: The Free Press, 2003, pp. 443–6; Vladimirov, The Vladimirov Diaries, p. 289.
60
‘Đại sứ tại Trung Quốc (Hurley) gửi Bộ trưởng Ngoại giao’, 7 Feb. 1945, Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers, 1945, China, vol. 7, doc. 155; Hart, The Making of an Army ‘Old China Hand’, p. 59.
61
‘Đại sứ tại Trung Quốc (Hurley) gửi Bộ trưởng Ngoại giao’, 18 Feb. 1945, Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers, 1945, China, vol. 7, doc. 161; Wang Shijie: HIA, T. V. Soong (Tzu-wen) Papers 1920–1999, box 23, Wang Shijie, Report on Negotiations with the Chinese Communists, 6 March 1945.
62
Vladimirov, The Vladimirov Diaries, pp. 311 and 347.
63
Các yêu cầu của Stalin được nêu trên bảy trang bản đánh máy được nhắc tới trong John R. Deane, The Strange Alliance: The Story of our Efforts at Wartime Cooperation with Russia, New York: Viking Press, 1947, p. 248; xem cả David M. Glantz, The Soviet Strategic Offensive in Manchuria, 1945: ‘August Storm’, London: Frank Cass, 2003, p. 9, và Robert H. Jones, The Roads to Russia: United States Lend-Lease to the Soviet Union, Norman, OK: University of Oklahoma Press, 1969, pp. 184–5.
64
Bài xã luận Izvestia được trích trong Chang and Halliday, Mao, p. 282; Vladimirov, The Vladimirov Diaries, p. 358; Mao Trạch Đông, Kết luận tại Đại hội Đảng lần thứ Bảy, 31 May 1945, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 8, p. 920.