NGƯỜI LÍNH
(Bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp của Bùi Hoằng Vị)
Trên con đường từ mặt trận đến mặt trận
người lính đi qua một thành phố lớn
Cái thành phố khổng lồ
rối ren
náo động
bỗng hiện ra tĩnh lặng trước đời anh
cây bên đường im phắc một màu xanh
toa xe điện như trôi
giữa lòng phố hẹp
không có tiếng động cơ
xe lao đi vun vút
và bao người bước lặng dưới nhà cao
họ khóc cười chia biệt đón chờ nhau
anh cảm biết mọi điều qua ánh mắt
nhưng những lời chuyện trò
anh không nghe thấy được
anh không nghe tiếng khóc tiếng cười kia
Ôi cuộc đời thường nhật đã hiện ra
đúng như thể bao lần anh mong mỏi
nhưng
đó là giấc mơ
đó là điều anh chưa thể tới
chưa bao giờ anh có đủ thời gian
Trong những lán che
trong những căn hầm
trong đạn lửa
trong cơn sốt
trong cái đói dày vò
trong làn súng kẻ thù đe doạ
anh giữ trong tay ngọn cờ xung trận
anh nghĩ đến cái chết
như đã bao lần nghĩ về cách sống
Tiếng còi tàu vang lên
như tiếng còi báo động
anh quay nhìn thành phố
và thoáng qua gương mặt anh lời từ biệt
Nơi cửa ga
người soát vé dúi vào tay anh một mẩu bìa con
và thét to giải thích
đó là chứng từ thanh toán của chuyến đi
Anh mỉm cười
hờ hững nhét chiếc vé tàu vào túi ngực
2/1984
THE SOLDIER
On the road from one front to another
the soldier passes through a big city
The huge city
tangled
boisterous
suddenly opens up before him utterly still
roadside trees stand frozen in a single shade of green
tramcars seem to drift
through the narrow streets
without a sound
vehicles hurtle past
and people move silently beneath tall buildings
crying and laughing parting and waiting for one another
he senses everything through their eyes
but what they are saying
he cannot hear
he cannot hear their cries their laughter
Oh, everyday life reveals itself
Just as he has longed for so many times
Yet
It is just a dream
Something he cannot yet reach
Never has he had enough time
In makeshift shelters
in dugout bunkers
in fire and bullets
in fever
in gnawing hunger
under enemy gunfire
he held in his hands the battle flag
he thought of death
as many times as he thought about life
The train whistle has risen
like an alarm siren
he turns to look at the city
across his face there passes a fleeting farewell
At the station gate
the ticket inspector hastily thrusts into his hand a small card
shouting an explanation
that is the receipt for the journey
He smiles
absently slipping the ticket stub into his breast pocket
2/1984
(translated by B. H. V)
NGƯỜI LÍNH là một tác phẩm đặc trưng của Ý Nhi – ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc được lọc kỹ, nén dày. Chị luôn xuất hiện mộc trong thơ cũng như văn, loại bỏ mọi rực rỡ, lấp lánh. Ngoài đời cũng vậy, chị thường mặt mộc, người mộc, là Nàng-Thơ-Không-Tuổi của nhiều họa sĩ, nhà thơ, nhà văn tài danh. Một bản lĩnh khác của Ý Nhi, không liên quan đến bài thơ này, nhưng là 1 nguyên do khiến chị được yêu nhiều mà bị ghét cũng lắm: Bất chấp giải thưởng trong nước ngoài nước đã dành được, chị vẫn chưa từng 1 lần viết 1 dòng, theo chỉ thị hay nghĩa vụ.
Dịch thơ chị, theo 1 cách hiểu, chỉ có thể dịch mộc. Ấy là để tránh “giết oan” một tác giả, mặc dầu nếu có xảy ra “án mạng”, có lẽ chị cũng sẽ vui lòng thể tất cho “sát thủ”. Ngoài ra, đã có ít nhất “1 bản dịch rưỡi” thành công – 1 bản tiếng Anh và ½ bản tiếng Pháp – từ bài thơ này, tuy vậy chúng tôi vẫn chuyển ngữ lần nữa bởi lẽ: (i) bài thơ giản dị và hay, (ii) mối thâm giao tri kỷ với tác giả, và (iii) dịch thơ/văn cũng có thể xem như một trò giải trí, nhân đợt nghỉ Tết dài ngày năm nay.
LE SOLDAT
Sur la route d’un front à un front
le soldat traverse une grande ville
Cette ville gigantesque
embrouillée
tumultueuse
qui soudain se révèle immobile devant ses yeux
les arbres au bord des rues se figent dans un seul vert
les tramways semblent dériver
au cœur des rues étroites
sans aucun bruit de moteur
les voitures filent à toute vitesse
et tant de gens marchent en silence sous les hauts immeubles
ils pleurent, rient, se séparent, s’attendent les uns les autres
il perçoit toute chose à travers leurs regards
mais leurs conversations
il ne peut les entendre
il n’entend ni ces pleurs ni ces rires
Ô la vie quotidienne s’est ainsi révélée
Exactement comme il l’avait tant de fois désirée
Mais
Ce n’est qu’un rêve
C’est quelque chose qu’il ne peut encore atteindre
Il n’a jamais eu assez de temps
Dans des abris de fortune
dans des tranchées creusées
parmi le feu et les balles
dans la fièvre
dans la faim qui le rongeait
sous le tir de l’ennemi
il tenait entre ses mains le drapeau de bataille
il pensait à la mort
autant de fois qu’il pensait à vivre.
Le sifflet du train a retenti
comme une sirène d’alarme
il se tourne pour regarder la ville
et sur son visage passe un adieu fugitif
À l’entrée de la gare
le contrôleur lui glisse à la hâte dans la main un petit carton
en criant une explication
c’est le justificatif du voyage
Il sourit
glissant distraitement le talon du billet dans la poche de sa poitrine
2/1984
(traduit par B. H. V)