Thơ Đoàn Huy Giao

anh ĐHG-minh hoa bao Tien phongVăn Việt: Đoàn Huy Giao (tên khai sinh Nguyễn Trí) sinh năm 1946 tại Quảng Ngãi.

Trước 1975 làm báo, làm thơ, cùng bạn bè chủ trương tập san Tương lai hướng về những người lao tác. Đã in hai tập thơ: Cho con vật hai chânPhẫn nộ ca.

Sau 1975: Đạo diễn nhiều phim tài liệu, chủ yếu ở vùng Tây Nguyên: Lá hát, Sự huyền ảo của văn hóa rừng, Tây Nguyên miền mơ tưởng, Những dòng sông trong rừng, Gỗ thiêng, những dấu chân phương Nam… (Đài Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng). Đã xuất bản các tập thơ: Trái tim mạ non, Ngọn lửa cuối cùng, Con chim gỗ nhìn tôi.

Mấy năm gần đây cặm cụi ”vào rừng làm rẫy, xây bảo tàng” (theo cách nói của Lý Đợi) trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.

Đoàn Huy Giao dự định xuất bản tập thơ Và thứ năm nữa là Lửa uống đi Thơ.

Văn Việt trân trọng giới thiệu một số bài thơ rút từ tập thơ này.

 

 

Thảo luận

I.

 

Trên đường gió nghênh ngang. Tôi tông đầu vào gã bóng cuồng.

Lên tiếng.

 

Tôi: Thưa ngài đền sao không ở?

Cuồng: (chỉ vào bụi mù cười sảng)

Tôi: Thì ra là thế!?

Cuồng: Còn ngươi?

Tôi: (chỉ chiếc thòng lọng hình chiếc lá bàng tranh chấp mùa)

Cuồng: À à à…

 

Chúng tôi chia tay trong bóng mù. Tháng chạp.

Đấy không phải là cuộc hội ngộ hư vô.

 

II.

 

Vào một đêm mê sảng, tôi sãi cánh bay lên đỉnh núi cao chưa hề ai đến. Gió thốc dữ dội. Trước mặt là tảng đá mụ mị.

 

Tôi: (tự nhủ) Mình đến đây làm gì?

Tảng đá: (vọng ra) Để tìm sự trần trụi.

Tôi: Trần trụi thường im tiếng!

Tảng đá: Đúng ra là chỉ nói đến sự im tiếng!

Tôi: (gió dạt) Còn ai nghe?

Tảng đá: Sự trần trụi của chính ngươi Nghe!

 

Thế là đôi cánh tôi biến thành đôi cánh tảng đá. Bay vèo.

Gió. Và khinh bạc.

 

III.

 

Trên sân ga. Tôi chia tay nàng. Tàu lừng khừng chuyển bánh. Sắt thép gào lên ngày tận thế. Tôi cúi xuống an ủi mũi giày bết bùn.

 

Tôi: Tình yêu hay nỗi cô đơn?

Mũi giày: (bùn khô quánh)

Tôi: Bây giờ thì ta đi đâu? Về đâu?

Mũi giày: (vang lên trên thềm ga) Ta đi trong tình yêu!

Tôi: Thôi! Đủ rồi.

Mũi giày: (trong tiếng cười sảng cuốn theo bụi còi tàu)

 

Câu chuyện này xảy ra vào chiều ba mươi tết Nhâm Thân 1980.

 

IV.

 

Chứng mất ngủ là kẻ thù của bóng đêm và cũng là tình yêu của ánh sáng. Không cưỡng lại được, tôi tìm gặp Saint John Perse. Trên bãi biển.

 

Tôi: Cùng một thứ vũ khí mà chúng ta lâm trận, thưa ông?

John: Vâng!

Tôi: Cuộc chiến chưa khởi đầu tôi đã là tên đào tẩu.

John: Làm gì có kết thúc! Không có chiến bại!

Tôi: Thưa vâng.

John: “Và sự giải đáp trong anh là do tia sáng của trái tim ban cho.” (*)

Tôi: Thưa vâng.

John: “Không phải cái văn bản đâu, mà chính ngay sự việc.”(*)

Tôi: Đa tạ ông.

 

Tôi chia tay nhà thơ. Và khói thuốc trong đêm mơ màng chờ sáng.

                                                                                   

V.

 

Lep chạy trốn đến một ga xép nào đó của nước Nga hoang lạnh. Trên bước đường cùng tôi gặp ông trong cơn hấp hối.

 

Tôi: Thưa cụ, Ana bỏ đi rồi!

Lep: (thều thào) Được.

 

Tôi vuốt mắt nhà văn. Dường như ông mỉm cười. Và tôi phóng thẳng ra phố bán sách cũ.

 

VI

 

Cầm trên tay bông cúc tàn thu hầu chuyện Tchekov. Ông tìm chữ còn tôi ngáp vặt.

 

Tôi: Này bác Antôn! Người đàn bà phù phiếm đâu rồi?

Nhà văn: (Bỏ kính lau mắt) Ngủ quên với con chó nhỏ đã tắt thở trong rừng phong rồi.          

Tôi: Ôi! con chó nhỏ.

Nhà văn: (Bỏ kính lau mắt).       

 

Không hiểu sao tôi thấy ông như cánh vạc trong sương. Cứ chập chờn chập chờn giữa chữ và lá phong chuyển mùa.

 

VII.

 

Thời đại điện tử chẳng là cái gì của tốc độ phi mã.

Tôi sấn sổ với một tia nắng chiều.

 

Tôi: Đời ta là phần còn lại trước lưỡi gươm đao phủ!

Chu Thần: Rõ thế!

Tôi: Vậy thì ta tồn tại là chỉ với không gian.

Chu Thần: Không! Với cả thời gian.

Tôi: Bố khỉ! “Tồn tại hay không tồn tại”.

Chu Thần: (Dí quạt vào trán tôi cười khà rồi dốc cạn gáo rượu biên tái)

 

Buổi chiều tà trên không trung cứ vọng mãi lời cãi cọ của

chúng tôi trên bến Sông Trà.

 

VIII.

 

Khi tôi trở về thì tia nắng sớm len qua khe cửa ngự trị trên giá

sách lũ lượt kẻ sống người chết.

 

Tôi: Hỡi người bạn thân thiết đến cùng ta sau một đêm trắng!

Tia nắng: Anh là thằng mê mù trong ngữ nghĩa.

Tôi: Và… sao nữa?

Tia nắng: Anh là con bò trong trại cải huấn của gió.

Tôi: Được! Sao?

Tia nắng: Anh không làm chủ được ai, được cái gì.

Tôi: Cảm ơn! Thế là đủ.

 

Tia nắng cáo lui ra ngoài. Và chúng tôi cùng song hành

 trên đường mưa hiu quạnh.

 

IX.

 

Sau tất cả lãng du vô lối còn đây khoảng trống và tôi.

Chúng tôi cùng nhâm nhi với bóng của bóng tôi.

 

Tôi: Chẳng phải ngoài khí quyển, cũng chẳng phải hơi men,

        ta đang rơi tự do không trọng lượng.                     

Khoảng trống: Có một thứ trọng lượng mà riêng ngươi mới nhận ra.

Tôi: Là sự cô đơn?

Khoảng trống: Cao hơn cả sự triệt tiêu, cao hơn cả sự khởi đầu và kết thúc.

Tôi: Như mặt biển ngủ mê trong tinh thể muối?

Khoảng trống: Như sự từ bỏ. Sự đào thải.

Tôi: Cái chết là iso chuẩn nhất khi ta còn nhìn sống.

Khoảng trống: (mỉm cười) Khỉ thật! Iso.

 

Sau đó chúng tôi ngồi lặng thinh vĩnh viễn, như là không có đêm không có ngày. Không có tất cả.

 

­­­­­­­­­­­­­­­________________________

(*) Thơ Saint John Perse

 

 

Uống đi thơ!

 

Đây mùa thu vang rền trong đáy men ngũ cốc. Ngươi hãy tránh xa ta mỹ từ nước mắt. Hãy cuốn đi gió chết cánh buồm. Hãy nung chảy mũi lao ngấm thuốc mê hoang tưởng mà ngươi phóng ngược. Như phóng ngược nỗi quạnh hiu vào góc trời mù.

Ta chỉ là đứa trẻ mưa phùn long nhong tìm gì quanh bán đảo. Gió chướng lật tung từng mảng đời gió cát. Xương cốt được đánh số chia phần theo từng ô điên dại.

Hoan hô xương cốt gió hiu hiu.

 

Uống đi thơ!

 

Rờn rợn thay thảm lá rừng cổ sơ phơ phất linh hồn ai mà ngươi cố tiêu diệt như tiêu diệt chính linh hồn mình. Mấy thứ biện chứng pháp tào lao ăn no ngủ kỹ. Đẻ đái. Hò reo. Rồi ăn no đẻ đái.

Chất non tơ cơn cháy khát không còn chước tẩy rửa linh hồn ngươi sau cánh cửa đất đai. Thứ đất mà vì ngươi nó lặng lẽ tái sinh.

Hạt mầm trong đêm đen. Giọt mồ hôi trong đêm đen. Thứ ánh sáng trong đáy nụ cười báo thức một kỷ nguyên. 

 

Uống đi thơ!

 

Nàng nảy mầm tựa mảnh gốm lửa thô kín đáo lóe nhìn trong bụi tre bên đường. Thứ ánh sáng nực mùi phân bò và hoa nhài vừa tan thuốc nổ.

Mảnh gốm không có lỗi lịch sử, không có lỗi sột soạt truy tầm giai cấp dưới cùng một bầu trời mưa nắng. Chỉ có nàng và mùi cỏ tàn thu là tinh chất làm nên tia chớp bí ẩn cho mảnh vỡ loé nhìn trưa nọ.

Anh đừng cố kết câu chữ làm gì. Hỡi anh bạn tự mãn trong đám ngôn từ tẩy não. Cho dù anh là tay thợ cả siêu hạng làm gia nô trên đống ve chai những linh hồn phiêu dạt.

 

Uống đi thơ!

 

Súng còn nổ trong đầu anh, còn chĩa thẳng vào chính dòng máu của dòng máu anh, vào sự căm thù mái rạ nơi anh oe oe cất tiếng chào đời.

Nổ đi! Nổ đi! Nổ nữa đi! hỡi tay chơi nô lệ. Cái xác mà anh khát máu tìm kiếm còn dẫy dụa trong nấm mồ ngữ nghĩa hình súng ngắn lăm lăm của tên trung úy bộ binh. 

Tấm kính những đôi giày đinh bại trận lầm lì soi trong bụi mù đẻ trứng. Những con chữ và bộ điệu bài ca chiến thắng.

           

Uống đi thơ!

          

            Và que lửa dày vò trên biển tối. Cánh hải âu và chất gây mê. Sóng dềnh phận mỏng còn sót lại mảnh ván thuyền trôi dạt.

Đừng khước từ. Đừng đi tìm sự bình yên trên sa mạc ký tự gõ vào đêm chết chóc.

Tôi là đứa con hoan lạc của tàn tro chiều đông quanh bếp than náo nhiệt. Thứ náo nhiệt của mùa màng lao lực. Tôi đã gieo hạt đã nhổ cỏ bón phân rồi thu hoạch. Ông bà cụ kỵ tôi cũng đã làm như thế trong hân hoan cay đắng.

Ta đâu báng bổ chi ôi đất mẹ của ta bờ tre gốc rạ. Mỗi hạt cơm là hạt ngọc của trời. Kẻ thừa mứa nước cồn lênh láng người đói lả mặt xanh.

 

            Uống đi thơ!

 

            Huyền thoại một nhóm người trên núi cao kể rằng tổ tiên họ khởi thủy là con chó.

Ta đã qua nhiều đô thị rừng rực ánh hào quang dẫy chết mà ta không tìm thấy huyền thoại ngươi ở đâu. Những người chó trong đám mây nhão bạc trôi đi. Và những cơn mê rào rào trong đám cổ nghị trường cùng chia phần giọng hót sẵn khuôn. Máu xương vung vãi.

Cứ uống đi thơ. Ta cấm ngươi buồn bã.  Uống nữa đi vùng carbon nặng mùi hoang tưởng mà ngươi đã ngửa mặt tôn sùng.

 

            Uống đi!

            Uống đi!

            Uống đi thơ!

 

            Tôi mơ thấy đám tang tôi đi giữa làn sương trắng. Chim thú hót vang trời. Đất đai mỉm cười đón linh hồn độ lượng. Mùa thơ ngẩng cao đầu chào hừng đông trên vai người anh em đi lại.

Những dấu chân không tên. Những mái chèo không tên. Những đôi cánh không tên. Những đáy mắt chứa bầu trời không tên.

Mùa thu hoạch trái tim tôi liên thông với trái tim người yêu dấu. Không gian như thể giọt nước tràn ly được trả về cho sông hồ đồng cỏ. Ôi giọt tái sinh lằng sâu vào đất đai ta mùa giải hạn.

 

            Uống đi thơ!

 

Uống nữa đi. Trong thế giới bầy đàn

Anh có hai ngọn đèn chờ sáng

Một trắng

Một đen

Một cho anh. Và một cho kẻ khác

Cần phải biết mỉm cười. Với sóng.

 

            Uống đi thơ!

 

 

Bài cho một giọng

 

Nàng đem trái tim trầu cau

rải trên cánh đồng nho tươi xa xứ của Châu Âu

như rải từng giọt trăng xanh

ngang dọc ngõ chân trâu

mùi hoa nhài

và máu.

 

Bonjour đạn bom

bonjour xa xứ.

 

 

Cái lưỡi uốn bên trong của nàng như mạ non bị dập

nhưng tôi tin

trái tim em rồi cũng sẽ đâm chồi.

 

Tiếng thở dài cuối cùng nàng gởi cho tôi

là giọt máu của buổi chiều buồn lắm.

 

Bonjour Việt Nam.

 

Tác giả gửi Văn Việt.

 

 

Comments are closed.