Đi. Ghi. Việt Nam 2012, mùa hạ

Lê Minh Hà

… Mỗi bước thêm yêu Người… Tổ Quốc ơi… (Tân Huyền)
… Người ta còn muốn gì Người nữa? Việt Nam ơi…(Lưu Quang Vũ)

1.

Tôi có một giấc mơ…

Đến Hàn Quốc. Nhưng không phải là tới vương quốc của Pạc tổng thống đã cho lính mình sang giúp lính Mỹ uýnh nhau ở Việt Nam một thời đâu. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ(1). Tới Bình Nhưỡng. Tới Bắc Triều Tiên. Sao người ta không gọi cái nước kia là Nam Triều Tiên nhỉ? Bao nhiêu năm gọi quốc gia đó là Triều Tiên, chẳng ai nói nhịu sang Tiên Triều, đoàng cái, dịch tên nửa nước người ta thành Hàn Quốc, quên cha nó cái chuyện nước họ rồi thể nào cũng phải thống nhất như nước mình. Kể cũng là vô tâm thật.

Tại sao tôi muốn tới Bắc Triều Tiên? Bảo rồi, “cho tôi xin một vé đi tuổi thơ“. Tới đó có lẽ tôi mới được sống trọn vẹn cùng thành phố quê hương tôi một thời. Ở đâu trên trái đất này nửa dân tộc ở nửa nước mặc đồng phục như ở đấy. Ở đâu như ở đấy có chuyện khóc khóc cười cười lúc vì lãnh đạo tối cao già khuất núi lúc vì lãnh đạo tối cao trẻ cưới vợ? Chuyện cưới xin này nhà mình không có, nhưng chuyện khóc cười tập thể quy mô mênh mông thế thì nước mình, và tôi nữa, đã sống qua. Ở đâu mà người người tầm vóc lại khiêm nhường thế, y như chính tôi, và thế hệ tôi, và thế hệ trước tôi sau tôi? Và ở đâu khắp nơi rừng rực biểu ngữ băng rôn như ở Bắc Triều Tiên?

Việt Nam!!! Hà Nội!!!

Vụ biểu ngữ băng rôn này Hà Nội bây giờ hơn đứt Hà Nội ngày xưa. A mà người Hà Nội bây giờ sẽ bảo là hoành tá tráng hơn. Ngay hôm mới về, tôi đã phải đứng nhòm lịch sau khi ra phố để tính đếm ngày nào là ngày lễ, ngày lịch sử, ngày kỉ niệm mà hồi đi học đi dạy tôi nhớ nằm lòng. Không, tôi không về Hà Nội vào ngày trọng đại nào của tháng sáu, và trước ngày thương binh liệt sĩ vô cùng trọng đại được cả nước tưng bừng kỉ niệm cuối tháng bảy thì tôi đã lại phắn rồi. Vậy mà, ra phố, hoa hết cả mắt vì băng rôn biểu ngữ, nội dung vô cùng phong phú, tựu trung gọi nhau hãy quyết tâm hưởng ứng cuồng nhiệt nhiệt liệt sống làm theo.

Đây! Nội dung những dòng chữ vàng nền đỏ căng rợp mấy phố quanh quanh Bờ Hồ. Ngồi taxi tốc kí còn nhanh hơn chụp ảnh như thế này là giỏi lắm rồi, câu được câu chăng, chỗ nào ghi không kịp thì là ba chấm. Nhé!

- Cuồng nhiệt cùng Euro 2012. (Câu này được, dù thật ra những sự kiện này chẳng cần khẩu hiệu cũng khiến người ta phát cuồng rồi.)

- Nhiệt liệt hưởng ứng tháng cao điểm dự phòng

- Hưởng ứng cuộc tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp…

- Quyết tâm thực hiện…

- Phụ nữ mang thai nhiễm HIV hãy đến… – Nam giới nhiễm HIV hãy đến… (Chồng tôi gọi đây là biển khẩu hiệu do sự đăng đối và do thấy cứ đi qua khẩu hiệu trước là lập tức gặp khẩu hiệu sau chăng ngang đầu.)

- Tích cực hưởng ứng cuộc tổng điều tra (đã nói).

- Toàn dân tích cực hưởng ứng lời kêu gọi an toàn vệ sinh của Hồ Chủ Tịch.

- Vệ sinh là yêu nước. (Có tìm nhưng tôi không thấy khẩu hiệu gì mà Đinh bộ trưởng đã xác quyết nội dung, nộp thuế hay nộp phí (nhỉ?) là yêu nước)

- Sống chiến đấu và học tập theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại. (Này trí nhớ, có phải version 1 của câu khẩu hiệu này là “sống chiến đấu và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại“ không?)

Hừng hực tinh thần. Rừng rực màu sắc. Trên đầu. Ngang tầm mắt. Đính trên thân cây, cột điện còn có những khẩu hiệu khác hình phướn, chữ nhỏ hơn. Từ một nơi bấy nay chỉ thấy băng rôn khẩu hiệu tưng bừng thế này ở những cuộc tuần hành bãi công biểu tình chống chính phủ hoặc chống chủ do các tổ chức dân sự kêu gọi, về lại nơi cái này chả làm nên ấn tượng quái gì với mọi người, nói thật là choáng như rối loạn tiền đình vậy. Chưa khi nào tôi thấy quy mô nội dung khẩu hiệu bằng tiếng ta lại mênh mông và cụ thể đến thế, cho thấy mối quan tâm từ trung ương cho tới địa phương, từ thành phố tới phường phố. Đúng là nay hơn xưa. Khẩu hiệu ngày xưa có nhiều cũng chỉ nhiều vào những ngày trọng đại in đỏ trên đủ các thể loại lịch, như 3. 2, 1. 5, 19. 8, 2. 9, 10. 10, 19. 12, 22. 12… Sau này thì thêm 30. 4. Ngoài ra, thi thoảng thành phố cũng rực sỡ sắc màu vào dịp đại hội đảng hay đón ông anh ông em nguyên thủ nước nào đó. Hết. Công nhận nay hơn xưa. Ít nhất là vải vóc làm vật liệu tuyên truyền cũng dư thừa, hơn đứt cái hồi tôi con gái sinh viên được năm mét vải phiếu còn phải nghĩ tới bà chị cũng sinh viên nhưng thân dáng phì nhiêu hơn lắm mồ hôi hơn quần áo chóng rách hơn. Mà tuyên truyền phát triển thế này thì các cơ quan phòng ban văn hóa từ thành phố tới phường phố chắc cần người hơn cả ngày xưa. Cũng tốt cho bọn sinh viên lìu tìu ra trường chẳng thân thế lắm và cũng không nhiều khao khát. Nhỉ?

Đi ngang đi dọc khắp Hà Nội, tôi nhận ra có một nơi, là khu Ba Đình, nơi các cơ quan ngoại giao đương trú, vẫn giữ nét cao sang vì không cơi nới xây chen xây lấn và vì chẳng hiểu sao, (rất sướng), lại rất ít khẩu hiệu phấp phới vàng vàng đỏ đỏ. Có mỗi chỗ lăng cụ Hồ đằng sau khán đài hai bên lăng là vẫn hai khẩu hiệu, thì theo thiển ý của tôi, nhìn rất không sướng, vì chữ đỏ trên một cái nền màu chết, xanh xanh xám xám, dù khí thế như bất kì khẩu hiệu nơi đâu.

Nhưng ít khẩu hiệu mới thì ở đó vẫn thừa đèn lồng hình hoa sen bạc phếch vì mưa nắng và, thôi, đừng có so sánh hình thù thô kệch lủng lẳng trong vòm cây dưới nắng với hoa sen thật e ấp trong những khoảnh hồ hẹp vanh vanh còn lại từ mênh mông Tây hồ. Chú lái taxi mau miệng “đèn lồng nghìn năm“ đó chị. Còn cái gì từ cuộc lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long cần phải quẳng thật nhanh ra khỏi phố phường ngoài những chiếc đèn lồng kì cục này?

Những vỉa hè trồi sụt? Công viên long lở? Mái những công trình hoành tráng dột tứ tung? Nền những công trình sạt tới tận chân thềm?
Quẳng thế quái nào được! Vì đó là đất, không phải dự án treo.

Ấy nhưng đất cũng sụt. May mà những ngày tôi rong ruổi đường Hà Nội, đoạn đó còn bằng, chứ nếu lúc đó nó bị trôi chân do (bão, nước, công trình khác xây sát quá…) thành hố tử thần mà xe tôi lao thẳng xuống, e giờ này tôi đang…)

2.

Nhưng có những thứ chẳng phải là sản phẩm hoàn thành cho kịp ngày đại lễ, song cũng hoàn thành chưa lâu, nhất thiết phải được sửa chữa, thay đổi. Xin lỗi tất cả, nếu tôi vừa đứng chân trên Tổ Quốc mình đã lại nói ngay tới cái nhà vệ sinh chung.

Ở Doha, ra khỏi máy bay là bị bao phủ lập tức bởi cái nóng khô khốc, không thể toát mồ hôi. Chỉ đi qua đây mới thấy trang phục tùm hum của dân bản địa là có lý. Dù, vì thế, kể cũng tiếc, chả khác gì ở Hà Nội, tôi không làm sao đoán được dung nhan những người đàn bà đang nhởn nhơ trong phòng chờ máy bay quanh mình. Cô nào còn đeo kính trắng nữa thì ôi thôi, không còn một phân vuông da thịt nào hở. Chắc như thế họ không dám chơi kính mát đen thùi lùi dẫu cỡ hàng hiệu các chân dài nhà ta ưa dùng, nhỉ? Cứ là nhìn, tha hồ tưởng tượng vẻ mỡ màng đàn bà đằng sau khối bí hiểm và những đôi mắt rất là ẩn chứa kia. Thằng con bé chưa biết tới cảm giác bị quyến rũ bởi những gì bí ẩn của cái đẹp xông thẳng vào nhà vệ sinh dành cho chuẩn đàn bà xoè hay bàn tay đòi rửa. Nước phụt từ vòi ra nóng đến nỗi tôi còn tự hỏi làm cách nào để người dân xứ cát tắm cho trẻ sơ sinh.
Khác hẳn, khi xuống tới Nội Bài. Vẫn là nóng, nhưng là cái nóng mềm mại, sánh đặc, y như thể bị nhúng lập tức vào trong một thùng mật lỏng. Cũng khác, nước ở toillette sân bay nhà ta chảy thành dòng bằng đầu đũa, tắc tắc, xì xì, y hệt bò đái, làm cho cảm giác khao khát mát rượi càng tăng. Không đến mức lộng óc, nhưng cái mùi bốc lên trong chốn này chứng tỏ rõ một điều: mất nước là toi. Một cô môi mỏng mũi cao mắt sâu tóc nâu xin xỉn nhảy ra nhảy vào như choi choi trước cửa một toilette nhỏ, rồi không biết nghĩ gì xông thẳng tới trước mặt tôi nhoắt cái chưởng phải nhoắt cái chưởng trái. Nghệt ra vì bất ngờ, rồi hiểu, rồi tủm tỉm, rồi gật gù. Thò đầu vào rút cổ ra, lại gặp hai bàn tay chém chém. “Phải chờ tôi xong rồi thị phạm lại cho cô chứ”. Tây công nhận khả năng thích nghi kém thật: cái cửa nhà vệ sinh không đóng bình thường được vì khóa hỏng, cửa vênh, cô tây nhà ta vén váy ngồi xuống là lại phải lập tức đứng lên vì không nhìn ra, hoặc không biết lấy thịt đè gỗ rồi cài cái chốt kiểu người Việt ta tự chế lắp thêm. Tội thế.

Sau ba năm mới có dịp vào thăm chốn này, cảm giác về sự tạm bợ, liều ẩu trong mọi công trình xây dựng ở quê nhà lại xâm chiếm. Những khe hở giữa cửa và tường, những khoá cửa hỏng, bồn chứa nước thấy cái chốt xả ai tháo ra cẩn thận đặt trên chốc, nẹp cửa bong. Mình dân Việt, thấy còn tốt chán so với hố xí hai ngăn không cửa đặc sản một thời, tặc lưỡi xong rồi đi. Nhưng dù gì thì đây cũng là một trong những cái cửa đầu tiên người nước ngoài mở ra khi tới Việt Nam, nhìn họ luống cuống thế, tự dưng thấy mất thể diện của chính mình. Tức tức buồn buồn. Khó tả. Rồi hãi hùng theo dõi qua mạng quá trình xử lý những “sự cố” ở đập thủy điện Sông Tranh. Phải vội vàng huy động ngay câu “…giữa chiến trường – tiếng bom nghe rất nhỏ” của Phạm Tiến Duật để thấy mình vẫn bình thường. Dân ở đó mà không thấy bình thường vội dắt gà bò chạy là kém hiểu biết, phải giáo dục lại, nhé, nữ tiến sĩ gì Lư đã bảo thế.

Chỉ có gương mặt của nhiều người không đổi. Ví dụ: gương mặt của các đồng chí công an ở cửa nhập cảnh. Nhà tôi bốn người, tám vali lớn nhỏ, hai đứa trẻ chả biết quái gì về xứ sở, thế nên ông chồng nhận việc trình hộ chiếu ở mọi sân bay, cả nhà xúm xít kéo va li quây xung quanh. Cũng hợp lý chứ nhỉ. Thế mà một chú công an chắc sắp già bằng tôi cầm cái dùi cui ra chỉ thẳng mặt hai thằng bé con và con mẹ chúng nó, bắt lui về xếp hàng sau cái dây chằng. Vậy là ba mẹ con trở thành nỗi bực dọc của cả hai hàng người chờ nhập cảnh vì đến lượt trình hộ chiếu ai cũng phải đợi mẹ già con dại lịch kịch kéo tám cái va ly nhường đường. Rõ khổ, mẹ con tôi về quê chứ có phải đi làm cảm tử đâu. Cái cách ứng xử của người thực hiện công quyền ấy làm thằng con đang tuổi lớn của tôi rất ngạc nhiên. Nhưng thôi, cũng là dịp để giải thích cho nó biết sự khác nhau giữa“bạo quyền”“lạm quyền” và cả cái trường ngữ nghĩa của hai từ đó, hay đơn giản là biết không biết là biết trong tiếng Việt.

3.

Dự định sẽ làm một viễn du Hà Nội Huế Sài Gòn, ông chồng tôi lập luôn kế hoạch tuần đầu ở Hà Nội sẽ cho thằng con nhớn đi thăm lăng Bác. Nói gì thì nói, cũng là một điểm đến không dễ có ở khắp nơi trên thế giới này. Xoè bàn tay đếm ngón tay đi, thì biết. Từ lăng Bác, sẽ đứng ngóng sang chỗ ngày xưa nắng cỏ Ba Đình để nói cho con biết ngày nay nơi đó là tầng tầng kí ức tháng năm hẹn một ngày sau. Nhưng khi xe đi ngang, thấy một hàng người đang di chuyển chậm chạp dưới nắng chờ vào thăm lăng, ông con lắc. Mất của mẹ một cơ hội kể chuyện ngày xưa mẹ đi qua đây khi nó còn là một đại công trường mà những người làm việc là những đỉnh của đỉnh (có bình bầu đàng hoàng) trong bao nhiêu lĩnh vực ngành nghề, từ nghề xúc đất, mẹ vào đây từ buổi đầu ai đi tham quan cũng phải có vé và còn được phát cho nửa ổ bánh mì thịt xa xíu vừa béo vừa thơm một mùi không bao giờ tìm lại được khi chờ ít cũng nửa ngày ở tận Ông Ích Khiêm. Ông con chỉ phấn khởi khi nghe kể chuyện một trung đoàn công binh trong bốn ngày đã làm xong cái nhà sàn huyền thoại cho cụ Hồ bỏ Phủ ra vườn để sống cuộc sống mà chồng của một diễn viên điện ảnh có tiếng kiêm phê bình gia kiêm doanh gia bây giờ khi đó là học sinh xuất sắc đã thành tâm ca tụng “Bác chẳng cần đâu những suối khe – Một gian nhà cỏ bóng thông che – Côn Sơn ngay giữa nơi đô hội – Mà ánh gươm thiêng vẫn sáng loè“. Nghe đã rồi, ông con cười cười bảo hai bạn thân sinh “đấy, con vẫn bảo mà…” Láo. Mẹ biết thừa mày lại định nhắc nhỏm tới các thứ chủ nghĩa mày ưa moi móc. Ông bạn đi cùng xe thì cười phì phì khi tôi kể chuyện học trò từng kể. Rằng mẹ bạn em là bác sĩ hồi đó được chọn đi học nghề ướp xác bảy năm ở Liên xô nhưng không bao giờ được hành nghề. Hồi đó nghe chuyện đã có chuyên gia, chẳng hiểu tại sao tôi nhớ ngay tới cái sự dốt nát trong chuyện nấu nướng của tôi do có bà chị khéo tay và, do thời đại. Có mấy cái phiếu cái bìa xoay xoay cả tháng, nhân dân được mấy lạng cá thịt đậu phụ, không bao giờ bà chị dám cho cô em vụng thể hiện vì sợ không ăn được. Cô học trò nay sắp tứ thập rồi. Vậy bà bác sĩ phải rất giỏi và rất được tin cậy năm nào giờ có lẽ cũng về hưu. Chưa bao giờ tôi biết, những năm tháng sau khi thành tài bà đã làm gì khi cả nước này cả thế kỉ hai mươi có mỗi một cái xác để ướp. Đề tài của một bài viết đáng giá đây, tình cho không biếu không các nhà báo ngại xọc vào các đề tài nóng hôi hổi hàng ngày đấy.

4.

Không đi thăm lăng Bác không vào rạp hát không đền miếu phủ chùa thì làm gì cho hết ngày? Làm gì cũng khó nếu tha lôi theo hai ông con đứa tuổi ương đứa mới tự nguyện rời xe đẩy. Nóng quá thể là nóng. Đang từ cái nơi mùa hạ thường chỉ 20 độ toài về quê nhà, nói như một bạn FB bảo Hà Nội đã vặn lò lên 40 độ rồi chị ơi là chị, trong khi trọng lượng so với thời mới e ấp từ đó ra đi tăng dễ tới 20 cân hơi, quả khó mà bôn ba trên từng cây số. Hà Nội giờ vẫn còn những chốn cây cao bóng cả, gió lá phố hoa ngày tháng hạ, nhưng chẳng còn chỗ nào để thư thả mà đi. Không khí để thở ra hít vào trên phố những ngày nắng thật là khủng khiếp, có cảm giác quánh lại vì đủ thứ mùi, mùi người, mùi thức ăn, mùi rác. Nhưng có một nơi như tôi nhớ vào ngày nắng hạ thế này phải kinh khiếp lắm so với nơi chốn khác: chợ, thì bây giờ, chẳng tệ hơn bất kể đâu. Tôi đã cố tình loanh quanh trong chợ, dừng nơi bán thịt, góc bán cá tươi, mà vẫn không thấy lại hoàn toàn cái mùi phản gỗ bày thịt sống không bao giờ cọ rửa của ngày xưa chỉ cần non trưa đã làm phát khiếp bất kì quý đàn ông nào phải đi chợ thay vợ chửa. Lạ thế. Cái mũi mình bị điếc tạm thời vì bão hòa mùi hay…? Chợt nhớ tới những cảnh báo an toàn thực phẩm và những lời khuyên trở thành bà nội trợ thông minh khi chợ búa hàng ngày vẫn đọc trên báo online. Không biết…

Bất tri có cái lợi. Ăn gì cứ tươi non mơn mởn là thấy ngon. Cái vị này hoa quả rau cỏ nhập khẩu nằm kho lạnh của siêu thị tây tuyệt không thể nào có nổi. Thằng cu con 14 tuổi nhà tôi cắn mận rau ráu suốt đường bay Hà Nội – Sài Gòn, khen mận Việt Nam vị lạ, không mềm không ngọt như mận tây mà duyên hơn. Nghe, mẹ nó mím môi cười. Rồi dăm bảy năm nữa mày về khéo lại khen con gái Việt Nam như mận.

Nói là nói vậy, nhưng tôi rất biết tự hạn chế thói thích nếm náp của mình. Dù gì cũng chỉ có hơn hai mươi ngày tung hoành, chiều chuộng lưỡi môi, nhỡ đâu. Cô cháu họ trạc tuổi tôi cũng học trò lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa chỉ vì không nhớ ra “Ngục trung nhật kí” đúng lúc, không biết tự hạn chế đến buồn không đi ị cũng không xong mà đi tong cả kì nghỉ năm ngoái. Mà nói đâu xa, hôm ở nhà, duyên may gặp một anh bạn cùng ở Đức nhưng cách nhau dễ tới sáu bảy trăm cây, thấy anh bạn vốn thanh mảnh về Việt Nam có mấy ngày càng thanh nữa, hỏi thăm, câu trả lời: suýt chết chị ạ suýt chết. Nào có phải vì cảnh vẻ, chẳng qua bọn tư bản nó làm hỏng mình. Ngần ấy năm sống trong lòng nó, chẳng bao giờ uống thuốc tẩy xổ cũng vẫn sống nhăn, vừa rời bỏ cái bọn tư bản giãy mãi chưa chết ấy, nó làm mình suy yếu hẳn.
Thế nên tôi rất mừng khi vẫn nguyên lành sau khi đã dùng giấy toillette lau đôi đũa dinh dính trước khi đả một đĩa bánh cuốn nóng của hàng xóm về hưu nhà chị tôi. Ăn xong, đi theo cô em biết từ thuở cô là sinh viên trinh nguyên nay thoắt cái mười lăm năm hai lần kết hôn mà vẫn ngây thơ trong trẻo ngang qua khu đất sáng ra hay thấy dân tình tụ về ăn ăn uống uống, cứ thấy mình băn khoăn mãi, không tài nào nhớ ra, quen lắm, mùi gì? Đến tận lúc ngồi trước cốc cà phê đá, hay thật, dân Hà Nội giờ cũng xơi cà phê đá sau bữa điểm tâm như dân Sài Gòn, mới ngộ ra cái mùi rất quen kia là mùi mặt bàn gỗ gây gây đặc trưng của các hàng phở ở bao nhiêu ngõ nhỏ, thường dính đủ thứ, nước phở, dấm ớt, và chỉ được lau qua loa sau mỗi buổi dọn hàng. Ơi chao cái mùi nhắc vị. Tiếc, đã không một lần xuống đó gọi một bát phở, thêm chiếc quẩy, rồi đũa rồi thìa, rồi dấm rồi tương ớt, hay lát chanh tươi với lát ớt tươi.

Tội của tác giả ĂN PHỞ RẤT KHÓ THẤY NGON. Biết như thế mà không chờ tác giả đưa đi ăn hàng quen thì chẳng dốt lắm ru. Mà tác giả, chắc cũng biết tôi không là người thích đủ thứ, mà vẫn không hẹn không mời, tệ nhỉ.

Rầu lòng vậy thì cầm lòng nói vậy cho đỡ rầu. Chứ chàng trẻ này tôi gặp ngay sau hôm bầu đoàn hạ cánh. Người Việt trầm lặng là ấn tượng đầu tiên tôi có trước chuyên gia phở này. Lịch lãm – chồng tôi bổ sung và tôi bất ngờ vì suốt buổi gặp gỡ hai người đàn ông già trẻ hầu như chẳng có cơ nói chuyện với nhau trong bầu không khí phải nói là âm thịnh. Chắc hẳn khi đưa ra nhận định đó, ông chồng tôi đã bị chi phối sâu sắc bởi các tác phẩm xoay quanh Hà Nội của cậu chàng. Nhưng đó cũng là ấn tượng của tôi sau khi tiếu ngạo giang hồ vặt cùng tác giả trên xe máy từ nơi hẹn nhau – Cà phê Trung Nguyên – tới chi nhánh của Nhà xuất bản Trẻ. Từ đầu bên này chợ Lê Qúy Đôn một thời ngày xưa có cái quầy bán thực phẩm tem phiếu với những cô bán thịt chỉ thấy cười với nhau như người người chết rồi chạy thêm vài trăm mét là tới Đầm Trấu – nơi tôi biết tên nhưng chưa bao giờ rẽ tạt bao giờ, dù cách nhà tôi khéo chưa tới hai cây số. Nào ai tưởng được ra ngoại ô ngày xưa leo heo nhi nhúp nhà cửa của những người sống bằng nghề xe bò kéo cắt cỏ thuê giờ lại thành phố xá sầm uất đến nhường này. Câu chuyện trên xe máy cùng Qúy không cho tôi hình dung được ngay một Hà Nội khác vô cùng với Hà Nội của riêng tôi, nhưng đủ để thấy nhân dạng hiếm của một tuổi trẻ nghệ sĩ trí thức đất này cần có. Chợt nhớ một câu chuyện khác với nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, cách nay hơn bảy năm trời. Khi tôi hỏi về khả năng có một cái gì từa tựa như Thơ Mới hay Tự Lực Văn Đoàn của thế kỉ vừa qua, họ Đỗ đã trầm ngâm mà rằng “khó”. Khó thật. Bởi lúc đó chưa thấy những đợt sóng ngầm của những khát khao tinh thần trồi lên trên các chuyển động kinh tế sôi sục, cũng chưa thấy hình thành hẳn một thế hệ trí thức mới tự bùng nổ với ý thức mới về văn minh. Cả đam mê đoạn tuyệt với cái thường quen, mà thiếu nó, mọi khao khát đổi thay cũng sẽ biến thành những tiếng rên tự sướng cũng chưa thấy. Nhưng đó là mùa hạ 2005, khi váy của nhiều nghệ sĩ người mẫu nữ còn là váy chứ không giống như cái áo kéo che mông hay là…

Cùng với sự bùng nổ mới của truyền thông kĩ thuật số dù bị chặn bằng rất nhiều cung cách ở Việt Nam, người ngoại đạo như tôi khá khó khăn để không thấy sự tập hợp của từng nhóm kẻ sĩ thời đại mới. Nội cái vụ lập bang hội trên FB đã đủ thấy.

Có cái gì giống như một vòng xoáy cao và mới của lịch sử. Chúng ta đi qua những năm đầu thế kỉ 20 với Đông Kinh Nghĩa Thục, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Khởi Nghĩa Nam Kỳ, Thơ Mới và Tự Lực Văn Đoàn, với bàn tay vươn cao của những người chân đất và mắt dõi những vì sao của một nhóm rất nhỏ thôi những nghệ sĩ trí thức tụ ở phố thánh, chán chường vì khao khát, gậm một khối căm hờn, đưa người ta không đưa qua sông mà lòng sóng dội, và biết phải đoạn tuyệt với rất nhiều giá trị tưởng vĩnh viễn. Những năm đầu của thế kỉ của chúng ta hôm nay? Bạn không thấy ư? Nỗi tuyệt vọng của những người nông dân mất đất trong sự trấn áp vô tri giác. Những buổi biểu tình chống ngoại xâm từ ý thức về lòng tự trọng của dân tộc đã vật vã để tồn tại suốt ngàn năm trong ranh giới toàn cầu. Và, những trí thức nghệ sĩ trầm tĩnh giữ cho mình bản lĩnh sáng tạo trong ý thức về phận người, nhưng không mấy khi tự nói về điều đó. Trong hình dung của tôi, họ chính là những tinh thể của nguyên khí quốc gia, một quốc gia đang khốn khổ vì rất nhiều những quy định nghị quyết kêu gọi khá là thiểu năng của nhà nước. (Người duyệt lại bài đang nghĩ tới khuyến cáo bệnh nhân một tay đưa tiền cho bác sĩ một tay chụp ảnh làm bằng chứng tố cáo cùng dự định tăng cường y đức bằng cách phát động giáo dục thi đua cộng với sự ủng hộ từ quốc hội của bà bộ trưởng bộ Y tế, và cả lời khuyên đi ăn tiệc thì hỏi gà này là gà gì của phó thủ tướng Thiện Nhân. Ơ hơ, bọn trẻ con rét cắt ruột vẫn mặc áo hở rốn có vẻ mốt như tây đối tượng của chương trình Cơm có thịt liệu có được dạy cho biết khuyến cáo lịch sử ba trong một của phó thủ tướng không nhỉ?).

5.

Quốc nước gia nhà. Đẹp, nhưng sao vẫn là cái đẹp của dậm dụi, heo hắt bao nhiêu ngày tháng cũ. Tôi thấy mình cứ băn khoăn mãi với câu hỏi đó dọc đường về Ba Thá, quê xưa, nơi tôi đi sơ tán cùng bà và chị trong mấy lần chiến tranh đánh phá Mỹ gây ra trên miền Bắc Việt Nam. Sông Nhuệ lững lờ nhập vào sông Đáy ngay đầu xóm nhỏ, ngày xa xôi sóng sánh xanh như thể bao nhiêu sắc xanh những đồng dâu đổ hết vào lòng, nay, chừng như đặc lại, nhờ nhờ bẩn bẩn. Sông Nhuệ đang sống cái phần số của sông Tô Lịch vĩnh viễn không bao giờ trở lại được cái thời ca dao nước vừa trong vừa mát, để người gái xưa ý nhị dừng chèo “sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”, trở thành cái cống lộ thiên của một thủ đô phình như não người úng thủy. Dù thế, người quê vẫn cần mẫn với sông quê. Ngang qua cầu Hạ Dục, nhìn xuống, bất giác nao hết cả lòng khi thấy giữa dòng mấy người chèo cái thúng nhỏ xoay mòng mòng vớt củi. Củi lạc. Từ đâu về đây? Vẫn từ đằng rừng chắc giờ bị cào cấu tan hoang và bị đẩy bật vào sâu lắm?

Và trên những cánh đồng đảo mắt một cái đã gặp bờ, người vẫn còng lưng cấy lúa. Mặt nước lấp lánh trong nắng trưa, chả có gì thi vị đâu, nếu một lần chổng mông úp mặt ngửi mùi bùn non dưới nắng, nghe máu dồn nặng ngực, nặng trán nặng tai. Kinh nghiệm một đôi lần hí hởn theo chúng bạn nhà quê đi cấy đi cào cỏ của tôi hồi bé tí bám bà nơi sơ tán, chẳng bao giờ còn hứng sống lại một lần. Nhưng chiếc cầu tuổi thơ qua rồi, lâu lắm rồi, rồi nhớ, rồi thương, rồi vẫn.

Mỗi bước ngược cây cầu ấy lại gặp toàn những cảnh không thể có trong hình dung của một đứa trẻ ngày tháng cũ. Nào ai có ngờ ngã ba sông Đáy và sông Nhuệ chia cách Chương Mỹ Mỹ Đức Ứng Hòa, nơi có làng Ba Thá tôi thiết tha tự một thời đất nước mình giông bão bây giờ lại được gọi là Ngã ba sung sướng, nghe ra quá đỗi khốn cùng và nhục nhằn. Rất nhiều biển báo tự tạo, chữ xuệch xoạc trên tấm ván sơn phết ẩu tả, thông báo và cảnh cáo, rất có tác dụng đóng dấu cảnh vào trí. “Đất Sổ Đỏ”. “ Say bột chẻ em”. “Cầu Yếu”. “Tập đoàn vịt Cỏ”. Biển “Cá lồng” thế quái nào lại tróc mất chữ “g”. Cậu em lái xe đưa bà chị về quê phấn khởi kể giờ nhiều thứ lồng lắm chị, “chị mới thấy đèn lồng nghìn năm, cá lồng sông Nhuệ, để hôm nào em cho chị đi Văn Điển.“ – ? „Văn Điển có chó nuôi lồng.” Bất chợt nhìn lên: những dãy nhà symbol kiêu hãnh của thế kỉ vừa đi qua, vẫn những lồng sắt được gọi là chuồng cọp tăm tối vì đủ thứ treo xếp kê kích bên trong. Mơ ước của tôi một thời giáo học đấy. Vẫn đang là đích của rất nhiều người Hà Nội cũ và mới đấy. Làm con gì và sống ở đâu thì dễ chịu hơn? Trong lồng hay trong chuồng? Nghĩ cho cùng, cái nhà, đàng hoàng to rộng đến thế nào mà chẳng là chuồng hay lồng tùy tâm trạng và chính kiến. Thì tôi hai mươi vẫn chẳng luôn nghĩ thành phố mình y hệt một cái lồng gà, và mình cùng những ý nghĩ đi dọc về ngang, cũng gọi là loài biết bay.

*

Không phải vì vui chuyện mà không nhận ra đường. Nhưng bến xưa giờ bị kẹp dí dị giữa những khối nhà bê tông, không sao nhìn thấy. Xe dừng bên một con đường hai bên kín nhà cửa vườn tược cây cối đã ấm bụi từ bao giờ và tôi ngớ người khi nhận ra đó là đường liên huyện một thời bên bãi tha ma làng, nơi ngày xưa có con bé Hà Nội mới năm sáu tuổi lủi thủi gù lưng quét quả phi lao về cho bà nấu nướng, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn xuôi Vĩnh Lạc thấy đồng trắng lóa bóng cò, quên bẵng con rắn hoa nằm dậm dọa sát bờ kênh. Giờ đây, nhà cửa lồm cồm mọc lên bất tử. Biết làm sao. Ngày bom đạn đùng đùng, cả nước có hơn 30 triệu dân, giờ dân số liên tục phát triển, chắc chỉ cần chục năm nữa thì cũng xêm xêm trăm triệu nhỉ, xêm xêm cái nước Pakistan thỉnh thoảng lại chực ục sang cái nước mình tách từ đó ra. Nước Việt, có mấy quần đảo Hoàng Sa Trường Sa không di dân ra ở được, thất thoát thì thất thoát rồi, còn thì còn phải lo mà giữ trước một ông láng giềng đè ngay trên đầu lúc nào cũng cũng lăm le nuốt chửng, châu thổ thì chỗ này sụt trôi tuốt ra sông ra biển, chỗ kia chẳng biết sụp khi nào, lên rừng còn củ gì ăn?

Leo trèo qua vô số mộ thật mộ giả đắp chiếm đất trước cho người chưa chết, tôi mới ra được với bà tôi. Ngày xưa bà mong chết được về lại đất làng, nhưng không nằm ở bãi tha ma mà nằm xa ra nữa để được mát mẻ, xông xênh sương gió. Bây giờ…

Bây giờ tôi ngơ ngác tăm tia những lối cỏ chen giữa mộ thật mộ giả, chia tay bà về lại ngõ xưa. Nơi trước kia là những cái ao kế tiếp mọc toàn ngổ dại, tôi từng mò mẫm sục chân xuống bùn rồi mới biết mình lầm, chỉ vì bóng tối quánh đặc mà mắt người vừa từ thành phố về không sao xuyên qua nổi, nay chình ình một, chẳng biết gọi là gì: biệt thự? nhà tầng? Ba năm trước còn chưa có. Ngôi nhà sơn quét cầu kì, quê kệch và hợm hĩnh, toàn những đường gờ kẻ chỉ đỏ đỏ xanh xanh, các cửa sổ bưng kín phai bạc ít nhiều vì gió nắng. Nhưng nhìn xuyên qua cánh cổng sắt, thấy quần áo phấp phới trên dây phơi, chẳng có vẻ gì kiểu cách đại gia, dẫu đại gia làng. Cô em họ thì thào chuyện nhà này phất lên nhanh, rộng, có cả bể bơi, phá sản, trốn. “À quần áo… Thì có người giữ hộ nhà. Nhà to quá cả làng chả ai đủ tiền mua lại”. Chứ gì nữa. Khoái xây nhà kiểu này chắc phải là một dạng hậu sinh Tuy Kiền ngồi xa lông co cẳng. Nhưng xin cụ Tuy Kiền thứ lỗi, con biết lắm, cụ nhà quê oách thế, giá còn sống thì chắc cụ sẽ ngồi nhìn ra vườn tủm tỉm rằng há cớ gì tôi phải huyếnh. A a con quên, người làng con vẫn bóp bẹp chữ e và quẳng dấu huyền khi nói như xưa, nhưng làng con giờ đã là Hà Nội rồi nhé, đất bán quanh rồi, chẳng còn vườn cho cụ ngồi hóng mắt ngẫm ngợi đâu.
Cây đa mọc sát cầu Đồng Bán giờ tủn hoẳn, ngoi ngóp vượt lên trên mái bê tông và tôi không biết buồn hay vui khi cái xóm nhỏ mồ côi nằm lảnh về phía núi gần Thượng Lâm Đồng Mít Tuy Lai hơn chính làng mình, có cái tên rất gợi: Chân Chim, vốn xưa heo hút chẳng mấy khi người xóm khác lui tới, nay góp mặt cùng thời đại bằng vô số nhà chóp lêu nghêu. Chạy ngang Chân Chim không phải là con đường trôi tuột đá dăm trơ đá hộc xưa mà là một con đường mới, rộng và phẳng, hắc ín lấp lóa trong nắng hè. Đường lên Xuân Mai, rẽ về Sơn Tây, ngược Yên Kỳ Bất Bạt. Buổi trưa nắng mờ mắt tôi ở bên mộ bà, chiều vừa tới Yên Kỳ thăm mộ mẹ thì mây đen dâng từ phía núi. Rồi, mưa. Đổ. Trên bạt ngàn mộ chí khổ sở chen chúc nhau. Sầm sập. Mịt mùng. U uất. Đứng dưới mưa bên mộ mẹ, nhìn ngang mặt chị, nước mắt chan mưa. Chua xót, chua xót khôn cùng, lần nào cũng vậy khi về thăm mẹ. Tôi nhớ bà tôi – người đàn bà ba mươi của một thời phố xá, kháng chiến chia tay chồng một lần thành vĩnh viễn, ngày cải cách ruộng đất chưa kịp đưa con về lại phố chồng liệt sĩ xương cốt gửi giữa núi rừng Việt Bắc vợ bị tố là “vợ việt gian, bị mình ám sát”. Bà phải oằn vai tập cấy hái gánh gồng đi bộ cả ngày trời vào rừng mót củi, tí nữa thịt xương gửi vào hàm hùm, không ít lần mỗi vãn chợ chiều đông ra bòn mót lá su hào về nấu cháo cho con dại. Bà, ngày mẹ mất lúc đã toàn thắng về ta, một chiều lên thăm cháu run run nói với tôi “mẹ mày chết thôi cũng là hết khổ”. Thủa ấy, tôi đâu hiểu gì về chuyện sống chết, nỗi người. Đến giờ, sắp bốn mươi năm…

6.

Mưa, mưa suốt đường đi. Nhưng chờ tôi ở đầu kia của thành phố, có những người đàn bà, sinh ngay khi cuộc chiến tranh chống Mỹ và chống nhau vừa chấm dứt, 37 tuổi, đúng tuổi ngày xưa mẹ tôi nhắm mắt xuôi tay. Họ gọi tôi là cô giáo cũ. Không phải là bà giáo già. May chưa.

Đấy là cuộc gặp gỡ không định trước. Dọc đường về, cô lớp trưởng chốc chốc lại gọi hỏi ời ời “cô về tới đâu rồi cô”, và “em không chắc cô có đến được với bọn em không nên không dám báo rộng cho các bạn lớp khác, nhưng em chọn chỗ gần với nơi cô ở lắm”. Tôi vốn dễ chao đảo trước đàn bà. Cô ấy thúc bách, cô ấy quyến vờn, cô ấy rủ rê. Xe dừng chỉ kịp giao việc cho chồng đội mưa tha thằng con lên nhà là tôi theo lệnh trò vội vã giục cậu em chở ra nơi hẹn, trong tình trạng đầu tóc mặt mũi trang phục chẳng giống ai với một cuộc gặp gỡ như thế này.

Chờ tôi không chỉ có đàn bà. Có cả đàn ông. Vâng, những cô gái mười sáu mười bảy khi xưa đi đứng luyến láy nhún nhảy mắt môi lúng liếng tóc ngẩn ngơ ngắn ngắn dài dài phất trái phất phải như chọc tức như trêu ngươi dờn dờn dứ dứ, những chàng trai khi xưa dù tình trong như đã mặt ngoài còn e với cô bạn cùng trường cùng lớp cùng khóa nào thì so với các bạn gái vẫn vô cùng ngố nay đã là những người đàn ông đàn bà từng trải, và thành đạt, theo ước lệ chung. Khi tôi làm việc cùng với họ, tôi đã không thể hình dung tôi như thế nào lúc bằng tuổi họ bây giờ. Vợ chồng son chưa đến nỗi ton ton chạy ăn từng bữa, nhưng trưởng thành gặp buổi xoá bao cấp gian nan, một mái nhà cấp bốn chụp lấy dăm ba mét vuông kê cái giường cái tủ cũng không. Ngông nghênh vốn sẵn tính trời, nhưng tôi biết khi đó tôi hoang mang lắm. Không hẳn vì thiếu đói ốm đau thiếu chỗ dựa lưng khi giá lương tiền nháo nhào, thật chỉ là bù da vào xương cho không chết hẳn. Sống là xoay, sợ gì. Mà vì một sớm một chiều bao nhiêu giá trị cứ ngờ ngờ vực vực vậy thôi nhưng đâu dám buông luôn bỗng chốc sụp, không thể nào tự hồi phục.

Những người đàn bà đàn ông tôi gặp trong buổi tối này khác hẳn. Họ đẹp một cách tự tin. Họ là người Hà Nội, sinh ra khi đất nước ngừng giông bão, trong những gia đình phần lớn là trung lưu có học, từ nhỏ tới lớn đã khẳng định được mình qua các trường học tiếng tăm nhất Thủ Đô, và bây giờ, dù hành nghề được học hay không thì vẫn là sống và làm việc trên một căn bản đáng mơ ước, gần với khát khao riêng. Đời sống và cách sống của họ thực sự là của giới trung lưu có học vấn mà những phản ứng xã hội của giới này chính thể ở mọi quốc gia phát triển nào cũng phải đo lường độ nhạy.

Tôi nghĩ là ngay cả ở Việt Nam, dù dân là gốc hay dân là guốc.

Hai mươi năm trước, tôi không tin là họ có thể hình dung được tương lai của mình tách biệt với cơ quan đoàn thể của nhà nước. Nhưng giờ, rất nhiều người trong số họ làm việc trong các tổ chức phi chính phủ hay tư nhân, hay trở thành ông chủ bà chủ, trước tiên là chủ của mình. Làm việc hết mình, sống sung túc, biết tận hưởng đời sống, dám đối mặt với sự bất như ý trong công việc hay đời riêng, họ cho tôi một hình dung rõ nét về một giới người, một lớp người ngày xưa tôi đã thuộc về. Nhưng ngày ấy, chúng tôi sống buồn biết bao, nhút nhát biết bao, đã tuyệt vọng, áo cơm ghì sát đất, lòng mênh mông khoảng trời, thật đấy, song từng lúc lại thấy mình y như gián, vâng vâng, cũng gọi là loài biết bay.

Tiếp xúc với nhiều người đàn ông đàn bà trong ngoài tuổi nhi bất hoặc, ở Hà Nội hay Sài Gòn, nếu chỉ thoảng qua thôi cùng món ngon hay bia rượu, ta có cảm giác hình như họ chỉ quan tâm đến công việc và sự thoải mái của mình. Xoã, cà phê hay nhậu, phượt, biển hay rừng, rồi cho trẻ con đi nghe hòa nhạc, tập bơi, rồi tụ tập “độp xe“ quanh hồ Tây hiến mỡ nhân đạo, chúc mừng sinh nhật nhau không sót một ai… Có thể đoán chắc một điều, phần lớn những người tôi gặp trong dịp ở Hà Nội vừa rồi không ai có mặt trong các cuộc biểu tình cuối tuần chống Trung Quốc vì chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Nhưng khi ngồi cùng họ, nghe họ, cứ có cảm giác rằng từ đó sẽ bước ra những người Hà Nội sống mãi với Thủ đô kiểu Nguyễn Huy Tưởng làm ta bối rối, mời một đống người quen và không quen tới dự sinh nhật mình, như không biết dân phố đục tường, đắp ụ, ôm bom ba càng, rồi, đi thẳng vào cuộc kháng chiến. Đằng sau sự có vẻ vô tâm kia là cả một bầu tình.

7.

Tôi tin vào cảm giác của mình, khi đọc được những topic này trên diễn đàn Ams8992 của họ, bắt đầu từ một gợi ý của Huỳnh Phương Ly về một tết Trung thu sao cho không vô nghĩa.

Nguyen Ducvinh

Hòa cùng hoạt động ủng hộ TT BTXH III của Ams cta và theo bản kế hoạch cơ bản mà Khương Liên đã làm. Tôi xin kêu gọi các Amser là các Bác sĩ, Dược sĩ hay đang làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến y tế chúng ta hãy quyên góp ủng hộ cho TT:
1… 2… 3… ( tôi đã liên hệ với các BS trẻ của khoa Nhi Bạch Mai và họ đã nhận tham gia cùng cta)
Lien Pham Le

Ams8992: WE CARE- WE SHARE

Em xin gõ lại các nội dung để các bạn khóa mình có khả năng tham gia.

1. Khám bệnh và đánh giá sức khỏe tổng quát cho các bé ngay tại chỗ.

2. Tư vấn, giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân, giữ vệ sinh thân thể, chuyện phụ nữ… cho 24 cháu gái:

3. Trồng rau sạch - Nuôi gà: liên quan đến trồng cây gì, nuôi con gì

4. Thư viện: sách là người bạn lớn, chúng ta những con mọt sách một thời thừa biết điều này.

5. Sữa tươi, bỉm tã:

6. Sinh hoạt giao lưu định kỳ:

7. Trợ giúp đặc biệt: hôm nay anh sỹ Vinh đã đưa số điện thoại cho chị Hải phụ trách TT và chị hộ lý chính của TT phòng trường hợp cần tư vấn. Chúng em kêu gọi các anh chị y bác sỹ có khả năng join vào chương trình 1 (khám bệnh) và tư vấn cho các trường hợp không may ốm đau, bệnh tật.

8. Ngoài ra, sau này dựa trên nhu cầu thực tế của các cháu lớn, chúng ta có thể tổ chức các lớp học thêm kèm các môn văn hóa cho các cháu.

9. Cải thiện khẩu phần ăn: tiền ăn của các cháu là 700K/tháng. Chỉ đủ no, hơi thiếu chất và sự ngon miệng. Tạm thời đề xuất sẽ trao đổi thêm và nếu thực hiện được trứoc mắt sẽ là: Bữa tươi cuối tuần.

10. TV- gương-thuốc: Mẹ Hải xin 03 gương cho các cô gái lớn. Cái này quyết ngay được chúng em gật rồi.

TV: nguyện vọng là sau này nếu được, nếu có thể xin cho các con 1 cái tivi để ở phòng sinh hoạt chung, các con bé được thêm 1 kênh giao tiếp, các con lớn được giải trí chút vào buổi tối và các cuối tuần.

TT có tủ thuốc, có các thuốc cơ bản, theo bác sỹ Vinh là tạm ổn. Tuy nhiên nguồn thuốc này là do chị Hải thường xuyên đi xin về, cho nên họ cứ phải xin liên tục, thấy bác sỹ là xin. Cái này nếu rơi vào trường hợp 7 trợ giúp đặc biệt thì như đã nói trên. Ngoài ra xin các trình dược viên lưu ý để tâm hộ.

11. BỔ SUNG VÀ KHẨN: TẠO GÓC CHƠI CHO CÁC CHÁU U3 và toàn bộ các cháu (hiện là 4) không đi học ở nhà.

Đây hoàn toàn không phải là đạo văn để kéo bài viết cho dàiJ. Tôi chỉ muốn, bạn ta, đọc hết và đọc kĩ, để biết cuộc sống đang tự thúc đẩy nhau đi lên như thế nào. Theo dõi sự hình thành và hoạt động của các nhóm, như Tủ sách dòng họ, Bữa cơm có thịt, Vì ta cần nhau… và diễn đàn Amsern8992 của các đấng học trò cũ, hoàn toàn có thể nghĩ rằng không phải là chúng ta đang đứng bên kia bờ ảo vọng mơ về một xã hội dân sự. Nó đang hình thành. Một cách có ý thức, hết sức tự nhiên, đầy màu sắc, trong lòng giới trung lưu có học vấn cao tập trung ở thành phố.

8.

Đầy màu sắc, nhưng không phải lúc nào cũng tươi tắn như màu tâm cảm mà câu chuyện vừa kể mang lại, là ấn tượng mà thành phố của tôi mang lại cho tôi.

Năm 81, đi kiến tập, ôm mãi cảm giác mà những làng những xóm quanh quanh Hồ Tây mang lại, cũng nghèo, cũng xác xơ, nhưng không phải cái nghèo cái xác xơ của rất nhiều làng xóm ở đồng bằng Bắc Bộ từng biết. Riêng lắm, mái rạ nhìn qua sương bảng lảng trên hồ. Riêng lắm, nhịp chậm trong đời sống của dân làng sống chủ về làm vườn. Chậm và lành. Chỉ khi viết về nó, hoàn toàn gián cách về không gian, thời gian, con người, tôi mới hiểu những ấn tượng đó cày sâu trong tâm khảm mình như thế nào.

Con nhà mới giàu, có biệt thự trên quãng làng Hoa, kính trắng, mồm cá ngão, tự tin, trước không biết làm gì cho hết ngày ở cơ quan vì không có nghề, sau đi học bằng xe đạp hộp trông sáng láng hơn người đang cưỡi, hì hục mãi cũng xong được cái đại học Mở, khoa Quản trị Kinh doanh…. Chơi thế mới sang… Thật chưa bao giờ An tưởng tượng giấc mơ của mình lại là như vậy. Cẩn có không đủ những tiêu chuẩn trên. Ví dụ Cẩn hoàn toàn không xấu. Cũng không ngốc. Cẩn tự tin, biết mình muốn gì và phải làm gì. Yêu nhau có lẽ được gần nửa năm, hôm đi câu trên hồ Tây, trong lều, Cẩn buông cần, ôm lấy An, bình tĩnh cởi tiếp cái khuy thứ ba áo An, áp môi vào đó. Chỗ đó, An thấy bỏng rát như bị nước đá áp vào, và hoàn toàn phi lý, tự dưng đầu An lổn nhổn hình ảnh đống cá bể ươn lẫn trong những cục nước đá vàng khè đang tan, ở chợ Hôm, một ngày xa xôi, rất xa xôi, khi An còn bé tí, còn lệch nhệch theo tiếp sức cho ông anh mải chơi lực lượng xếp hàng chủ lực của cả nhà trong việc giải quyết tem phiếu hàng tháng. Cẩn cười hiểu biết khi An rùng mình, quay lại đỡ cần câu, cạn nốt lon bia:“Chả lẽ An với Viên chưa bao giờ như thế? Rất bình thường, phải không? Sắp lập thu rồi, hay bọn mình cưới nhé?“ Cẩn có vẻ hoàn toàn không bực tức, không ghen tuông khi nói câu đó. Từ cái lều bên cạnh vọng sang tiếng rúc rích. An đờ đẫn nhìn sang bên kia hồ. Bên ấy nhấp nhô bao nhiêu là chóp mái những ngôi nhà mới dựng. Bên ấy là Xuân La Xuân Đỉnh. Bên ấy có ngôi trường cấp ba năm xưa An xin về dạy hợp đồng. Có Viên những buổi sáng mù sương gò lưng trên cái xe cuốc Liên xô đèo An đến lớp rồi hộc tốc tới cơ quan. Cái xe không có poocbaga, An ngồi gióng trước, chỉ hơi quay người là đã cảm thấy hơi thở Viên như một cái hôn dài. Làng ven đô, mà những chiều sương xuống sao âm thầm buồn chả khác gì những làng quê xa An từng qua hồi còn là sinh viên đi thực tập. Mười năm chưa? Đã thành xa lắc! Từ bờ bên ấy trôi lại một chiếc thuyền con. Cậu trai chèo thuyền bằng chân, thận trọng nâng cần vó… Có gì trong đó? Anh chàng người Anh sếp An bây giờ rất thích chiều chiều lên hồ Tây, lang thang một lúc trong đền Trấn quốc rồi ra thuê cần câu. Cũng như Cẩn với An bây giờ. Không rõ thực anh ta làm gì ở trong một cái lều như thế này? Có lần anh ta chìa cho An một bức ký họa cảnh chiều hồ. Mặt nước xam xám. Bầu trời xam xám. Chiếc vó nhìn từ cận cảnh như tấm mạng nhện rách đính vào trời. Chao ơi đẹp. Nhưng sao mà hắt hiu.

(Viênan – Chử Đồng Tử – Cổ tích cho ngày mới – Thương thế ngày xưa và Những giọt trầm – Lê Minh Hà – NXB Văn hoá – Hà Nội 2005)

Đã có dấu tích của thời vừa mở cửa, nhưng không có một chút gì giống với hôm nay. Làng xưa quanh quanh hồ Tây nay thành phố cả. Xuân La Xuân Đỉnh Trích Sài… Cũng tốt thôi. Ai ngớ ngẩn đi tiếc nỗi buồn của mình và cái nghèo, cái hắt hiu làm nên niềm tâm cảm đó. Chỉ…

Khi đi qua con đường bao quanh hồ, tôi mới định hình được nỗi tiếc của mình.

Năm 83, thực tập tại trường Chu Văn An, từ trong lớp nhìn ra, hít mùi sương tan muộn từ hồ dâng đầy khung cửa sổ mở rộng, ngỡ hồ Tây sẽ như thế mãi, với sâm cầm, với tôm siết vấn vít khoai lang làm nên cái vị riêng của bánh tôm Hà Nội. Là bởi vì khi đó thành phố có cho đắp một doi đất nhao ra hồ, chả nhớ để làm gì, chỉ nhớ dân Hà Nội đùng đùng nổi giận. Bây giờ, mũi doi đất đó đã liền bờ, thành một phố khuya rồi còn đông ngạt thở vì món ốc và vì gió. Cảm giác xa xa gần gần giữa các làng ngăn cách nhau nhiều khi chỉ một bờ sương, cảm giác về nhịp chậm và lành của đời sống nơi đây một thuở có lẽ chỉ còn có thể thấy trong những trang văn Tô Hoài chăng? Nhưng, đó không phải là Hà Nội của tôi. Không phải.

Cũng không phải Hàng Đào Hàng Gai Hồ Gươm của những ngày tháng cũ. Những người trẻ tuổi lớn lên vào cái lúc thành phố vặn mình đứng dậy sáng lòa loà kiểu này thế nào cũng bảo tôi rồ nếu có vô tình ghé mắt vào đọc những dòng này, bởi vì đây là Hà Nội của họ. Ai cũng thế thôi, cái gì đã từng trải qua tuổi bé và tuổi trẻ thì sẽ cưu mang dẫu vô thức, suốt đời.

Làm sao ngày đó chúng tôi có thể hình dung đêm đêm đèn đổi màu nhấp nháy ở Tháp Rùa, cầu Thê Húc. Đèn màu lòng thòng quanh mép hồ, thoăn thoắt bật tắt trong bóng nước, vượt mọi giới hạn về sự quê kệch, cái chưa bao giờ làm nên vẻ đẹp của thành phố cũng như nhà quê đúng nghĩa nhà quê. Từ Trấn Ba Đình vươn về phía Thủy Tạ, nơi lẽ ra đêm về phải là một vòm cây tối im lìm êm đềm, nhoang nhoáng chạy một lô khẩu hiệu cũng bằng đèn màu:

Xanh lá cây: Sống chiến đấu và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại

Đỏ: Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh

Vàng: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Thằng con lớn mới mười bốn tuổi đã cao ngất nghểu đứng sững, chê bai cái đoạn trói hồ bằng đèn màu xong thì quay ra chờ đèn chạy đọc đủ ba khẩu hiệu trên, chẳng để ý người qua lại đang cáu kỉnh vì bị chắn đường. May, nó hiểu nội dung khẩu hiệu mà không hiểu người ta đang cười nó ngố. Vừa đẩy vừa dắt được nhau vượt qua cái ngã năm đầu Hàng Gai vào Hàng Đào rồi lại đẩy dắt được nhau tới cái chỗ đầu tiên có thể quay đầu về Bờ Hồ, cả nhà mừng húm. Giời ạ, bà chị khuyên đi chợ đêm phố cổ, hóa ra nó thế này đây. Lột hết đường tàu điện lên để bây giờ thành chỗ hàng quán chổng mông vào nhau bán hàng, mà phần lớn là hàng Tàu, thở dốc vì đông vì nóng và thở dài vì tuyệt vọng vì buồn.
Thằng con bé thì bám dính lấy mẹ sợ lạc. Mà tôi cũng sợ lạc mất thằng con mới cao tới đầu gối mấy ông tây. Anh nó khoái chí dừng chân tổng kết: đèn màu treo cây, trói hồ, chằng Tháp Rùa, đèn màu khẩu hiệu, Sport tập thể với quần đùi áo ba lỗ buổi tối của phụ nữ trông như mẹ, nghĩa đen là béo, chó lớn chó bé chó Bắc Cực chó vân vân quần nhau bên hồ, kem dừa cả quả ngon và rẻ… nếu đưa khách du lịch tới đây là xong một tối thành công. Và dự định lại phải cày tiếng Việt vùng miền cho tương lai. Ừ, kế hoạch mười năm của con chẳng dở, nhưng mày định giới thiệu Hà Nội của bố mẹ theo kiểu này thì…

Phải tự phổ cập lịch sử và ngôn ngữ Việt cho đến đầu đến đũa con ạ. Như thế con mới thấy cái hay, cái ngộ nghĩnh khi bắt gặp, ví như những biển hàng Vàng ngát hương, Chim to dần, Các loại chim hót đỉnh cao J… Nếu con biết bố mẹ lúc yêu nhau tí nữa bị giải về đồn công an ngay phố Phan Chu Trinh mình vừa đi qua trong ngày 2.9 vì dám ngang nhiên ngồi nghe gió trên cầu thang trường đại học Tổng hợp đối diện Thông tấn xã mà không sang bên vườn hoa chỗ hành nghề của nhiều cô gái ngay gần đó thì con sẽ thấy tiệm Playboy trên Lý Thái Tổ, dù dưới những góc nhìn như thế nào cũng vô cùng nhiều ý nghĩa.

Lúc chiều về tối, đi dọc Tràng Thi theo hướng Cửa Nam, vẫn hàng cây xưa, nhưng cảm giác bóng tối đang chầm chậm luồn vào các vòm cây yên bình đến độ có thể thấy nỗi run rẩy từ đầu ngón khi tay mình chạm nhau đã vĩnh viễn mất rồi. Hà Nội hôm nay sáng rực như công viên Thống Nhất kì Đại hội Đảng VI giữa một thành phố cắt điện tứ tung. Phải nói thực lòng, mặt tiền Hà Nội bây giờ nhộm nhoạm chẳng ra cái mặt gì, thì, vẫn cứ làm lòng ta dù có đi bốn phương trời…
Tại sao Hà Nội?

Phải chăng vì khi ra đi người Hà Nội như tôi đã định hình nỗi nhớ riêng về một Hà Nội khác. Tôi thấy tôi, bất chợt đào bật trong tâm trí những tòa nhà chọc giời kẹp lấy phố xưa, chật cứng mắt nhìn, để dựng dậy, đây, một khoảng vườn như hoang trước một biệt thự cũ kĩ và vắng lặng, không biết của nhà trí thức tư sản nào được nhà nước để yên thân sau 1954, kia, những cửa sổ thoáng đãng của các công trình tập thể thuở mới chỉ năm tầng đã khiến phấn hứng giục nhau “xây cho nhà cao cao mãi ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta“, đây: một hồ Tây như biển của một thời, kia: một hồ Gươm xanh tóc ta xanh, đây: một ban trưa sau 1975, phố,Từ Công Phụng băng cối rão âm lượng nhỏ mưa trên ngày tháng đó lãng đãng từ gốc cây này sang gốc cây kia tới tận cuối đường, kia: những buổi chiều mùa thu nắng gió xôn xao luồn qua áo mỏng làm săn lại bao nhiêu bầu vú trinh bạch tuổi mười lăm mười sáu thiếu ăn mà vẫn căng đầy khao khát, thiết tha với mình màu nắng hay là màu mắt em…

(còn tiếp)

Comments are closed.