Trư cuồng (kỳ 11)

Nguyễn Xuân Khánh

Tiểu thuyết

Phần 2

Hành trình vào hỗn mang

Khi sửa sai, ông Hương tẹo được xuống thành phần trung nông lớp trên, còn anh Thái được phục hồi danh dự. Nhân dân lúc này sì sào về Tí giò, nhưng đồng chí cán bộ sửa sai giải thích:

- Có sai lầm, nhưng phải hiểu cải cách ruộng đất thắng lợi là cơ bản… Còn các đồng chí cán bộ cốt cán, về cơ bản cũng là những con người rất tốt; họ vẫn là chỗ dựa của Đảng. Sửa sai cốt để đoàn kết nông dân, chứ không phải để hục hặc lẫn nhau. Phải đoàn kết giữa các đồng chí cũ và mới. Phải hiểu rằng các đồng chí cốt cán rất triệt để cách mạng. Họ sai bởi vì họ quá triệt để. Nhưng, triệt để cách mạng là một phẩm giá cao quí nhất.

Dĩ nhiên, Tí là người triệt để cách mạng, vì vậy người ta muốn đưa anh lên làm chủ tịch xã. Tí khiêm tốn:

- Tôi không làm chủ tịch được đâu. Xin cho tôi làm việc khác.

- Việc gì?

- Cho tôi làm trưởng công an xã.

Ngày xưa, anh Thái đã phát hiện ra năng khiếu ấy của Tí. Tí, qua kinh nghiệm giết lợn của mình, đã hiểu rằng người nào nắm quyền sinh quyền sát là người ấy có quyền to nhất. Ông chủ tịch xã quyền có to, nhưng là quyền giả tạo. Chính chánh công an xã mới là người quyền to nhất, bởi vì ông ta có quyền theo dõi mọi người, có quyền dùng tiếng nói của mình để buộc tội hoặc tha người. Tí đã có thêm một kinh nghiệm mới: giết người bằng dao là khó, nhưng giết người bằng ba tấc lưỡi còn khó hơn nhiều, bởi vì nó sạch sẽ hơn, tinh vi hơn, bí mật hơn, sâu hiểm hơn. Đó là kinh nghiệm ông Hương tẹo đã truyền cho Tí.

Khi ông Hương tẹo được xuống thành phần, Tí giò có vẻ ngượng ngùng, không dám dàn mặt ông chú. Nhưng ông Tẹo là người từng trải, khôn ngoan. Chính ông đã tự mình đến gặp người cháu. Ông nói:

- Cái chuyện cải cách, chú có giận anh. Giận nhưng lại mừng. Mừng vì anh hiện nay giữ một chân quan trọng nhất xã. Anh đã làm rạng danh cho họ Nguyễn nhà ta. Thử hỏi, hiện nay trong họ Nguyễn ai quyền cao chức trọng bằng anh? Xưa kia, hồi Pháp, chức tước cao nhất trong họ là chú cũng chỉ giữ được chân hương trưởng. Này, này… mày đừng có coi thường lão cường hào già này nhé. Ngày xưa, chánh tổng lý trưởng của cả vùng này đều phải châu đầu quanh cái bàn đèn của tao. Trong huyện, người ta gọi cái bàn đèn của tao là trường học tổng lý đấy, con ạ.

- Bây giờ, thời buổi có khác chú ạ.

- Khác cái gì? Vẫn luỹ tre, vẫn con trâu, vẫn họ hàng làng mạc cũ, vẫn những con người xưa, vẫn những tục lệ xưa. Cái khác là tên gọi mới: ví dụ chánh tổng người ta gọi là chủ tịch… Tức là con người đã khôn ngoan hơn… Không ai dùng ba toong, cặc bò như xưa nữa, mà dùng những lời ngọt ngào đường mật để thít chặt con người lại. Cậu đã hiểu chưa.

Tí không cãi lại, cũng không tỏ ý tán thành, anh ta cứ lửng lơ, và lặng yên suy nghẫm. Việc ông Tẹo lấy lại cái nhà gạch của ông đã chia cho Tí cũng rất khéo léo. Một hôm, ông nói chuyện với cháu:

- Chú có thể cho anh cái nhà của chú. Nhưng, như thế, về sau con chú và anh lúc nhìn mặt nhau nó vẫn có điều hận. Chi bằng chú đưa cho anh ít tiền, và cứ nghe lời quân sư của chú, khắc là anh có nhà. Này nhé… đất, ta xin xã; chọn miếng đất thật nục nạc, thật đẹp, có tiền, có hậu, rộng gấp đôi gấp ba của chú thì hãy xin. Có cơ hội, đã xin phải xin cho nó xứng. Còn gạch ngói, công sức ta nhờ dân làng, nhờ bọn đàn em trong làng. Mày cứ nhấp môi một tiếng, khắc có đứa tự nghuyện đến làm giúp. Còn tiền nung gạch, chi phí, tao trả. Bụi tre trong vườn thì ngả xuống ngâm làm đòn tay…

- Cháu sợ người ta nói ra nói vào.

- Đứa nào dám nói? Giúp ông chánh công an nghèo, đó là cái nhiệm vụ. Vả lại mình vẫn cho họ ăn uống đàng hoàng. Rượu, tao cho nồi gạo mà nấu. Cá mua rẻ của xã… Lợn, vay của xã… Vài năm sau sẽ trả…

Thế là Tí có ngôi nhà gạch năm gian đàng hoàng. Và từ đấy, chú cháu lại trở nên tâm đắc. Dần dần bên mâm rượu, bên ấm trà, ông chú đã nghĩ ngợi và truyền lại hết cái nghề chăn dân của mình cho ông cháu:

- Nông thôn ta không gì bằng họ hàng. Phải lấy họ hàng làm cái gốc, làm vây cánh. Phải gây dựng cho anh em, con cháu trong họ.

- Gây dựng bằng cách nào?

- Đưa dần con cháu, họ hàng mình vào Đảng, vào các chức vụ quan trọng. Trong họ phải có đứa làm chủ nhiệm, làm bí thư thanh niên, làm đảng uỷ … Vây cánh mình mạnh, tức khắc các họ khác phải nem nép nghe theo mình. Việc ấy phải làm lâu dài, phải năm năm, mười năm mới xong.

Ông còn dạy cháu những đòn hiểm hơn.

- Hiện nay, trong xã họ Phạm đang chiếm hết ghế chủ chốt; chủ tịch, chủ nhiệm, thanh niên, đảng uỷ, họ đều nắm cả. Ta phải liên kết với họ Trịnh, vì họ Trịnh đang nắm chức bí thư. Phải ngọt ngào với họ Phạm, nhưng phải luôn rình mò, nắm cho hết tội lỗi của người họ Phạm. Cháu làm công an, cháu thừa sức làm được điều đó. Con người đã làm việc bao giờ cũng có sai lầm; hãy chờ một cơ hội lúc họ Phạm mắc một lỗi lầm to lớn, thế nào cũng có cơ hội đó, khi ấy ta tập trung khoét sâu tội lỗi và đánh đổ chúng nó.

Tí đã thực hiện đúng cái ngón ”khoét dần đưa dao vào tim” của ông chú. Anh lầm lì, ngọt ngào với người họ Phạm. Đùng một cái, chủ nhiệm họ Phạm thông đồng với thủ kho họ Phạm tham ô một tấn thóc nếp bán cho tư thương. Tí đã gài người biết chắc giờ giấc giao hàng, và đã bắt quả tang bọn tham ô. Tí đã tập hợp được một đống tài liệu về những người họ Phạm, mà anh đã rình mò tích tụ suốt năm năm liền. Từ vụ ăn cắp một tấn thóc, anh đã cộng thêm vào hàng trăm vụ việc khác. Lẽ dĩ nhiên họ Phạm bị đánh đổ, mất gần hết các vị trí then chốt trong bộ máy quyền lực. Chức chủ tịch và chủ nhiệm hợp tác xã lập tức rơi vào tay những người họ hàng của Tí.

Ông Hương Tẹo uống rượu với chánh công an Tí giò. Ông chú cười ha hả:

- Bây giờ cánh họ Nguyễn nhà ta mạnh nhất làng rồi. Cậu cháu thấy mưu mẹo của ông chú ra sao?

- Thưa, đúng là mưu Gia Cát.

- Hừ, anh tưởng chỉ riêng chú mới nghĩ ra được những điều đó sao? Không, khắp nơi đâu đâu người ta cũng làm như chú cháu ta cả. Vẫn là mưu mẹo thời xưa thôi cháu ạ. Chú đã bảo thời bây giờ vẫn giống thời xưa là như thế. Bình cũ rượu mới mà. ở cái nước Việt Nam ta, trong bất cứ ai, cũng đều chồm chỗm trong đầu một bộ óc kì hào quan lại. Gặp dịp là ông kì hào nhỏm dậy ngay tức khắc.

- Đến cuối tiệc rượu, khi đã ngà ngà Tí hỏi Hương Tẹo:

- Thưa chú, bây giờ cháu nên làm gì?

- Còn làm gì nữa? Cháu mất bao công sức, họ Nguyễn nhà ta mới được như ngày hôm nay. Có công thì có hưởng. Bây giờ việc của anh là sống sao cho sướng. Bây giờ anh có làm voi làm chuột cũng chẳng đứa nào dám hé môi.

Từ đó, Tí xoay ra nghĩ đến việc sung sướng.

Tí lấy vợ sau cải cách ruộng đất. Anh đội ghép Tí lấy một cô cốt cán xã bên cạnh. Ai cũng bảo hai người đẹp đôi. Đi đâu Tí cũng khoe:

- Vợ tôi là cán bộ phụ nữ.

Khoe là khoe ngoài miệng thôi, chứ thực trong bụng, Tí rất bực bội. Có gì đâu, sở dĩ bực, vì vợ Tí người gày khô. Theo quan niệm của Tí, người đàn bà được gọi là đẹp, trước tiên người ấy phải béo. Quan niệm thẩm mỹ ấy làm Tí nhiều khi cảm thấy mình như bị mất mát một cái gì đấy. Tuy Tí đã lấy vợ hơn chục năm rồi, mà anh vẫn mê mệt cái thân xác phây phây của cô bạn du kích thời kháng Pháp. Kỉ niệm về cái đêm trăng xưa, khi hát trống quân, cô gái ấy ngửa mặt lên trời mà hát, luôn ám ảnh lởn vởn trong tâm trí Tí. Anh thường nhìn mẹ Phốp và ao ước, tiếc rẻ: ”Chính mụ ấy mới hợp mình. Đàn bà đôi vú thây lẩy thế kia mới đáng gọi là đàn bà.”

Mỗi lần gặp Phốp, Tí giò lại hau háu nhìn mụ như muốn ăn sống nuốt tươi. Về phần Phốp, chị ta cũng thích Tí ra mặt. Mặc dù lấy chồng đã ba con, nhưng hễ gặp Tí là mắt mụ lại lẳng lơ lúng liếng.

Trước kia, tuy thích nhưng vẫn sợ; từ ngày được ông chú giảng giải về cái thế của anh, Tí hết sợ. Mấy hôm sau, một đêm đi họp, Tí sấn sổ nắm lấy tay mẹ Phốp… Tuy có du đẩy thẹn thò, nhưng cử chỉ, dáng điệu ấy chỉ là mẽ ngoài, còn trong bụng Phốp cảm thấy như việc ấy là dĩ nhiên, mà có lẽ việc ấy còn xẩy ra quá chậm thì phải. Đáng lý, họ đã phải kết hợp với nhau từ lâu.

Rơm tình bén lửa đùng đùng. Chỉ trong một tháng họ đã kiếm cơ hội ăn ở với nhau ba lần. Nhưng càng gặp nhau, họ càng không thấy thoả, và càng cảm thấy thèm khát nhau hơn.

Một đêm, Tí ra thăm trại lợn, nơi Phốp làm đội phó. Họ đã nhấm nháy nhau từ trước. Đêm đó, chỉ có mình Phốp trực. Trăng sáng nhễ nhại. Tí đè ngửa ngay Phốp ra ở đống rơm góc sân.

- Đừng… đừng…

- Sao lại đừng? Trông thấy đằng ấy là tớ thèm ngay.

- Khéo chả…

- Sợ cái gì?

- Ái, ái… sợ ông trăng. Phốp cười rúc rích, rồi giằng tay Tí đứng dậy. Mẹ Phốp ngực để trần chạy quanh đống rơm. Mớ tóc đen của người đàn bà tung đằng sau tấm lưng trắng ngát. Trăng loang loáng ẩn hiện trên đôi vú nhún nhẩy. Trông Phốp như một nữ thần linh khổng lồ, phì nhiêu, đa tình đang bay nhảy với đôi cánh tay vẫy gọi… cuối cùng họ lại ôm lấy nhau, ngã xuống đống rơm.

- Đừng, đừng…

- Tớ đếch sợ ai cả.

- Nhưng em sợ… con lợn đực – Phốp lại cười rúc rích.

Nghe Phốp nói, Tí quay lại phía sau lưng. Mắt anh chợt nhìn thấy con lợn đực đại bạch trên ba tạ đang chồm chân lên cửa chuồng, và nhìn cái thân hình trắng nhễ nhại của Phốp bằng con mắt hau háu. Tí càng thấy khoái trá, hắn càng cười to, cười vang.

- Nó thấy em trắng phau, nó tưởng em là con nái đại bạch.

Phốp đấm lưng Tí đùm đụp. Còn Tí thì giơ nắm đấm doạ đùa con đại bạch:

- Có quay mặt đi không? Coi chừng, chẳng ông giã giò…

Mẹ Phốp lại càng cười hi hí. Đôi vú thây lẩy của mụ cũng rung theo một cách đa tình.

Tí bỗng cảm thấy như đã từ xưa lắm rồi, rất xa xưa, Tí vẫn thèm một cảnh như thế này. Và cảnh ấy đã xảy ra còn thú vị hơn cả anh mong muốn.

Trăng sáng… Tí làm tình với Phốp… Giữa trời… giữa trăng… Đêm tĩnh mịch và gió hây hây… Thật là thoả! Thật là thoả!… Tí hoà tiếng cười cùng với Phốp. Mẹ Phốp trắng hếu… tênh hênh. Tí cưỡi lên bụng mụ ta, hai tay nắm lấy đôi vú…

Cả một đêm dày quá khứ, bị kìm hãm, bị dồn nén đã bao năm bao tháng, nay phút chốc vụt thức giấc, bỗng bung ra. Thoáng một ý nghĩ bỗng nảy ra trong đầu óc người nông dân cường tráng ấy:

“Có lẽ đã từ ngàn năm rồi… chưa phút nào ta được sống như hôm nay… Ha ha, ta muốn bay… ”

Hắn ngửa cổ nhìn đám mây bông trên trời, nhìn ánh trăng bạc đang tưới sữa lên mình Phốp, lên ngực Phốp. Tí như muốn húp cả ánh trăng loang loáng chảy trên đôi vú.

Tí bỗng cao hứng hai tay kéo dài đôi vú. Một cảm giác như đang bay trên con ngựa thời gian. Từ đáy thẳm tăm tối, trong phủ tạng của hắn bỗng vang lên một âm điệu nhịp nhàng. Phải chăng tiếng chày khua vào sâu thăm thẳm không gian.

Mẹ Phốp rú lên từng đợt cười hoang.

Và tất cả như một lời thơ.

Nhịp nhàng, nhịp nhàng …

Hỗn độn hối hả

Hào hùng tưng bừng

Hồng hồng đỏ đỏ

… … … … …

Đầy kho thuốc nổ

Đen ngòm chói loà

… … … … …

Nhịp nhàng, nhịp nhàng …

Vút cao vời vợi

Ta là chúa tể …

Ta là bao la …

… … … … …

Đang lúc Tí cao hứng đến tột đỉnh như vậy, đột nhiên vang lên tiếng thét:

- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!

Rồi đùng đùng, đoàng đoàng. Ba phát súng nổ, hay nhiều phát súng nổ, Tí cũng chẳng kịp nhận ra nữa. Rất nhiều tiếng chân người chạy ập tới.

Tí cuống quít, Phốp cũng cuống quít. Cô ta rên lên:

- Hơ… Cái quần tôi đâu?… Cái áo tôi đâu?… Chúng bay trốn lủi ở đâu?…

Tất cả đội du kích và đội chăn nuôi đều có mặt. Các cô gái trẻ nhìn quang cảnh cười khúc khích… Còn Phốp đang cố lấy rơm phủ lên người, rồi van lạy:

- Các anh các chị… Hãy cho tôi xin quần áo đã.

Mớ tóc đen óng của Phốp lúc này rối bù thảm hại.

Thì ra, đôi trai gái đã bị rơi vào bẫy gài trả thù của dòng họ Phạm. Người ta bố trí hiện trường, người ta đã bò vào lấy cắp quần áo của Tí – Phốp, trước khi hô bắt.

Người ta không cho Tí mặc quần áo, họ làm biên bản, rồi đi mời bí thư đảng uỷ tới.

Cuộc đời chính trị của Tí như ngôi sao băng: loé sáng lên rất nhanh, và phụt tắt đi cũng rất nhanh. Sau chuyện xảy ra ở trại lợn, người ta tước mọi quyền hành của Tí, để anh ta trở lại đời sống dân thường.

Tuy vậy, mọi người chung quanh vẫn sợ anh ta, chí ít không sợ thì cũng vẫn phải kiêng nể. Sao vậy? Người ta thì thào với nhau:

- Đừng động đến hắn. Hắn đổ rồi nhưng cánh họ Nguyễn vẫn mạnh. Vả lại, hắn không làm công an xã nữa, nhưng bên trên vẫn tin cậy hắn. Nghe nói hắn vẫn làm ” cá chìm ”.

Thế nghĩa là Tí đã mất cái quyền lực công khai, nhưng vẫn còn cái quyền lực ẩn ngầm. Cũng có thể Tí chẳng còn là cá chìm cá nổi gì nữa, nhưng vì trước kia lưỡi dao của Tí đã quá sắc ngọt, nên khi lưỡi dao ấy đã gãy rồi, người ta vẫn còn sợ bóng cái ánh hào quang quá khứ của nó. Thậm chí dạo này Tí rất bừa, có thể nói bê tha. Anh ta lại đi mổ lợn như thời hàn vi; và khi đi làm về, Tí lại vẫn mua cút rượu rồi nghêu ngao hát điệu trống quân:

Có phúc thì lấy Đồ Tể làm chồng

… … …

Thình – Thùng – Thình

Người quê tôi cũng sợ nốt cả trò bê tha ấy của Tí. Lại có tiếng thầm thì vào tai nhau:

- Hắn giả vờ đấy. Người ta thường giả vờ bê tha rượu chè để đánh lừa dư luận. Có tâm sự gì chớ có thổ lộ ra với hắn.

Khi Mỹ ném bom, người ta đem những tử tù về bắn ở ven đê, cạnh rặng phi lao làng tôi. Ông đại uý công an ở bộ về gặp ông chủ tịch xã:

- Đề nghị các đồng chí giới thiệu cho một người lý lịch đáng tin cậy để phục vụ trường bắn.

Dĩ nhiên, ông chủ tịch tiến cử Tí giò. Ông công an gặp Tí liền nói:

- Xin lỗi, tôi nói thật, đồng chí tuy đã là công an xã, nhưng công việc này đòi hỏi phải là một người… không sợ máu me.

Tí giò cười ồ:

- Tôi đã quen với máu me từ hồi còn bé.

- Vậy thì tốt quá. Nhưng cũng xin nhắc công việc của đồng chí là phải trói tù vào cột. Phải trói cho chặt, kẻo lỡ ra khi bắn tử tù hăng lên giật trói, chạy vung lên thì rầy rà.

- Việc đó đồng chí khỏi lo. Đồng chí chắc chưa biết, chỉ riêng công việc trói đó, lúc học nghề, tôi đã phải luyện tập đúng một năm trời. Nhân tiện, tôi cũng đề nghị cho tôi được phép một điều: hãy cho quyền tôi được trói bằng một thứ lạt riêng, chứ không trói bằng thừng.

- Trói bằng lạt?

- Vâng bằng lạt ạ. Xin chớ ngại. Đó là thứ lạt đặc biệt, bằng tre tươi chẻ lột, chỉ lấy phần cật thôi, sau đó đem nướng lửa hoặc luộc bằng nước muối.

- A ha! Độc đáo thật.

Từ đó, hễ buổi tối nào thấy Tí giò say và hát điệu trống quân thình – thùng – thình của hắn, là dân làng biết ngay sáng hôm sau có vụ xử bắn ở ven đê; bởi vì Tí có thói quen uống rượu đêm hôm trước khi thừa hành việc pháp trường. Những đêm ấy, thường bọn thanh niên hay lân la đến hỏi:

- Bác Tí ơi, mai họ bắn đám nào?

- À… bắn cái thằng cán bộ mê gái bỏ thuốc độc giết vợ.

Hoặc:

- Bắn thằng giám đốc kho A. Đã tham ô hàng triệu bạc thuốc quí để phục vụ chiến trường, sau đó lại đốt kho phi tang.

Hoặc:

- Bắn thằng phó chủ tịch xã H lợi dụng chức quyền hà hiếp dân, đã giết một học sinh sau đó còn khoét mắt cậu bé.

Từ ngày Tí giò phục vụ pháp trường, lại có thêm bao nhiêu chuyện huyền hoặc trùm lên con người anh ta. Bà hàng xóm kể chuyện:

- Nhiều đêm, tôi nhìn qua hàng rào sang, thấy bác Tí đứng hoa tay múa chân giữa sân, nói chuyện với những hồn ma đã bị xử tử. Có hôm, vào lúc quá nửa đêm, tôi đang nằm bỗng dựng tóc gáy lên vì nghe rõ mồn một tiếng người con gái van xin: ”Con cắn cỏ con lạy bác. Xin bác đừng trói chặt hai tay con.” Bác Tí nói cáu kỉnh: “Mặc mày! Nghề của tao là nghề trói buộc. Mà đã trói thì phải trói chặt.” Con ma đàn bà vẫn nức nở: “Cháu van bác. Hãy nới tay cho cháu một chút. Xin bác cởi trói cho cháu một phút. Một phút thôi. Để cháu ôm con, cho nó bú một miếng.” Bác Tí lúc này có vẻ mủi lòng một chút síu: “Mà tao cũng phải lạy mày thôi. Phải hiểu cho tao chứ. Tao có quyền gì. Chỉ là con xe con pháo. Người ta chỉ đâu đánh đấy. Nếu tao cởi trói cho mày, tao cũng chết theo.” Tiếp đó, chắc có quan trên đi tuần, nên lại nghe thấy tiếng cộc cằn nạt nộ: “Mặc xác! Không bú mớm gì hết. Đã trói là không có cởi.” Con ma đàn bà hu hu khóc. Tiếng khóc nghe rởn tóc gáy.

Bà hàng xóm còn kể nhiều chuyện kì lạ khác về Tí giò. Bà này khéo kể, nên chuyện nào cũng sinh động nghe cứ như thật. Dần dần, đi tới chỗ những người trước kia chỉ nể Tí, nay đã chuyển sang thành sợ hãi Tí. Và cuối cùng ai cũng sợ Tí giò. Cứ trông thấybóng Tí ở xa, lũ trẻ con đều lảng hết. Cả người lớn cũng muốn lánh xa anh. Chẳng còn ai dám trêu Tí như xưa. Người ta doạ trẻ con bằng câu nói: “Mày khóc to, tao đem ngay đến nhà ông Tí giò.” Ông chủ tịch doạ bọn lưu manh trong xã: “Các anh liệu hồn đấy! Kẻo rồi lại được nếm cái mùi lạt tre của bác Tí giò.”

Dần dần Tí giò ý thức được rằng tất cả mọi người đều nể sợ anh. Sự sợ hãi một con người là biểu hiện của tác động quyền lực thô bạo. Nhiều người không thích, có người căm ghét, nhưng phần đông người ta thích sự sợ hãi đó. Tí giò cũng thích. Sự nể sợ của mọi người đã làm biến đổi hẳn Tí. Nó gây trong anh một khoái cảm siêu nhân. Dần dần Tí tự thần linh hoá. Con người anh cũng biến hình đổi dạng. Hình như Tí đã biết phép tô đậm thêm tính cách của mình để phù hợp với vai trò thần linh mình đang sắm. Là người hay nói, hay hát, đột nhiên Tí trở nên trầm lặng. Anh uống rượu nhiều hơn, và chỉ trường hợp đi ra trường bắn Tí mới hát cái bài “thình, thùng, thình” ưa thích. Xưa kia, dáng anh bước nhanh, đầu hơi ngả về trước, còn bây giờ anh đi đứng chậm chạp đầu ngẩng cao, để tạo cho cái dáng hộ pháp của anh thêm đường bệ. Và từ một con người huyền thoại, anh đã trở thành một con người huyền bí.

Huyền bí nhất là chuyện giữa anh và tên tử tù Lan.

Lan là một học sinh Hà Nội đã học xong lớp mười và đã đi bộ đội bốn năm. Bốn năm đời lính thì đã hơn ba năm anh lăn lộn ở Trường Sơn đánh Mỹ. Lan bị thương, điều trị ở Quảng Bình. Lành vết thương, Lan tranh thủ về nhà, ngôi nhà có gốc bàng trước cửa che mát. Gốc bàng sù sì cổ thụ đà ghi lại bao kỉ niệm ấu thơ. ở đấy có những tổ dế, có những chú ve lột xác; và cũng ở đấy Lan đã khắc tên mình và tên một cô bạn gái. Lan yêu mầu lá xanh, nhưng thích nhất vẫn là mầu đỏ bầm cánh gián của nó. Có lẽ Lan thích mầu cánh gián ấy cũng chỉ vì đúng vào mùa đông, khi anh nhập ngũ, khi cây bàng khoác áo mầu đỏ, thì anh đã tỏ tình với người bạn gái cùng lớp.

Ôi cây bàng! Anh đã tốn bao giấy mực để làm thơ về nó, để ca tụng nó. Cây bàng đã trở nên linh thánh. Nó là biểu tượng về một hạnh phúc rất lung linh mà cũng rất trần gian. Có lẽ một chàng trai mảnh dẻ như anh mà chịu đựng nổi bao khổ cực của những ngày chiến đấu cũng nhờ vào bóng dáng cây bàng mà anh luôn mang theo trong tâm tưởng. Mà cũng chỉ vì những kỉ niệm gốc bàng ấy, nên Lan đã tranh thủ về Hà Nội, khi anh ra viện.

Về đến Hà Nội, lại cũng chính gốc bàng này đã làm anh bịn rịn. Anh gặp lại người yêu ở gốc bàng sù sì đó. Lại thêm những kỉ niệm mới, những kỉ niệm rất đỗi tầm thường đối với người đời, nhưng lại rất thân thương đối với chàng trai si tình. Một tháng sau chàng mới lên đường trở lại đơn vị. Đêm chia tay, chàng tiễn nàng ra đầu phố, nàng lại tiễn chàng trở lại gốc bàng… cứ như thế, họ đi suốt đêm bên nhau.

Khi Lan trở lại Trường Sơn, đơn vị anh đã rời đi nơi khác. Và đến đây, bắt đầu một sự yếu đuối, bắt đầu một sự trốn bỏ, và cũng có thể nói bắt đầu bi kịch của một anh lính “B quay”

Lan lủi thủi mang ba lô quay trở về Hà Nội, quay trở về gốc bàng ấu thơ. Nhưng lần trở lại này, Hà Nội đón chờ anh khác hơn. Bà dì ghẻ của anh, cứ trông thấy mặt anh là hầm hầm tức giận. Có thể, trong tâm, bà không độc ác, nhưng tình thế đã bắt bà phải đối xử như thế. Ông bố Lan đã về hưu, bà mẹ ghẻ lại có ba đứa con; một mình bà chèo chống nuôi cả gia đình đã khó khăn, nay lại phải nuôi thêm một ông lính ”B quay”, ắt bà phải khó chịu. Người yêu của Lan thấy Lan chẳng có tương lai gì, bỗng tỏ ra hờ hững. Lan bí quá, lên khu đội cầu cứu, nhưng họ đuổi về, bảo không nhận một người lính mất tinh thần như anh.

Lan xoay xoả mua chiếc bơm, và hộp nhựa, ra đầu đường để bơm vá xe đạp…

Anh công an hộ tịch cũng chạc tuổi Lan đến hỏi giấy tờ.

- Tôi không có giấy phép, nhưng hoàn cảnh của tôi gay go quá…

- Không có giấy phép, không được hành nghề.

- Anh thương tôi một chút, tôi chẳng còn con đường nào để sống. Tôi cố gắng sống lương thiện.

- Hừ, anh là ”B quay”. Không có chuyện lương thiện.

- Thế thì các anh bắt tôi đi. Vào tù tôi còn có miếng cơm ăn.

- Anh hãy cứ chờ. Bao giờ tôi lên đủ hồ sơ, và trên xét duyệt, anh sẽ được đi cải tạo.

Chờ đợi để được đi cải tạo. Lan cay đắng vác bơm về nhà. Cả nhà đã ăn cơm rồi, anh xuống bếp lục nồi cơm nguội. Cơm nguội chẳng còn, Lan rớm nước mắt, anh hiểu bà dì ghẻ muốn triệt cơm anh.

Lan nhịn đói lang thang trên hè phố quê hương. Hà nội vẫn vui vẻ, vẫn hào hoa, vẫn thanh lịch như chẳng hề bao giờ biết tới một người con của nó đi vào ngách khốn cùng… Người ta vẫn hát, vẫn hào hùng; người ta vẫn yêu nhau, một cô gái nào đó đi bên người yêu chợt cười rúc rích… Mặt hồ Gươm vẫn xanh; chiếc cầu cong cong vẫn đỏm dáng; sau trận mưa cây hoa sữa vẫn phả hương ngào ngạt… Lan chợt thấy cô đơn, cô đơn hơn cả loài cây cỏ…

Chợt anh đứng sững lại choáng váng. Anh không tin ở mắt mình nữa. Ai kia? Một cô gái đang đi xe đạp bên cạnh một chàng trai. Mà họ cũng cười rúc rích… Người con gái ấy chính là người yêu của Lan.

Bây giờ thì Lan nguyền rủa cái gốc bàng ấu thơ. Bây giờ, Lan muốn đập nát hết những kỉ niệm phỉnh phờ. Thế giới đối với anh sao hão huyền, sao độc ác!

Anh bỏ nhà đi vất vưởng, ba hôm sau mới quay trở về. Lần này anh xuống bếp lục nồi; rất may còn bát cơm nguội. Anh rưới thìa nước mắm, cố lùa hạt cơm lạnh ngắt vào bụng, song nuốt cũng không trôi. Bà dì ghẻ ngồi ở tấm phản, rít lên:

- Quân lười biếng! Quân lưu manh! Thời buổi bây giờ không làm mà đòi ăn. Đổ cơm cho chó nó ăn còn hơn cho nó.

Lan đặt phịch bát cơm xuống. Đúng lúc đó, người công an hộ tịch bước vào nhà. Bà dì đổi sang giọng đon đả:

- Kìa, chú đến chơi. Mời chú ngồi.

- Tôi đến hỏi bà về việc anh Lan mấy ngày qua vắng mặt mà không báo cáo. Anh ấy đã về chưa?

- Kìa, kìa… Ông ấy đang lục nồi dưới bếp. Chỉ được cái ăn là giỏi thôi chú ạ.

- Cậu ấy là người hư. Gia đình cần phải quản lý cậu ấy thật chặt chẽ. Anh ta đi đâu? Vắng mặt lúc nào? Làm việc gì? Nhất nhất gia đình phải báo cáo cho tôi.

Đầu óc Lan đột nhiên sưng tấy lên. Anh thầm nghĩ: “Chúng nó không muốn cho mình sống. Không được làm. Không được ăn. Thậm chí đi tù còn phải chờ đợi. Chúng mày muốn ta chết ư? Được rồi… ta sẽ liệu …”

Tay Lan run lên. Đầu óc anh ù đi. Anh không nghe thấy họ léo nhéo nữa. Chợt có tiếng chân người… à, tiếng giầy. Đúng là tay công an đang đi xuống bếp. Hắn xuống gặp ta… chắc là để đe doạ, để răn dạy… Lan thầm nghĩ nhanh. Mắt anh đảo quanh; đôi mắt dừng lại ở con dao phay cài trên trạn. Lan xô lại, cầm lấy, và đứng nép sau cửa ở tư thế chờ đợi…

Tiếng chân to dần, rồi người thanh niên mặc áo vàng xuất hiện giữa cửa.

Lan xồ ra, vung dao, xả mạnh. Anh công an ôm mặt thét lên:

- Ối các ông các bà! Thằng Lan giết tôi.

Sát nhân giả tử! Lẽ dĩ nhiên, Lan phải ra pháp trường đền tội.

Hôm ấy, bãi bắn làng tôi đông nghịt. Từ ba giờ sáng, dân làng đã í ới gọi nhau, đi trước tranh chỗ ngồi tốt để xem cho rõ.

Lần đầu tiên, ông Tí giò cảm thấy hồi hộp khi chứng kiến một con người đi đến cái chết.

Từ trên xe hòm bước xuống, Lan đã lấy vai gạt mạnh hai người công an đi kèm định sốc nách anh. Tay bị trói, anh điềm nhiên đi đến chiếc cọc.

“A! Thằng này không khuỵu chân. Tay cứng đây. Nó đi đứng đàng hoàng, chứ không để người ta kéo lê đi như những phạm nhân khác.”

Tí giò nghĩ như vậy. Tí giò càng ngạc nhiên hơn khi thấy Lan vừa đi vừa nói, vừa đi vừa kể tội những người đã xô đẩy anh đến cái chết.

Rồi Lan hét to:

- Tôi bị oan! Đồng bào hiểu cho tôi. Tôi bị oan! Oan ức!

Đứng trước cây cột, Lan vẫn sa sả nói. Khi Tí giò siết chặt chiếc lạt buộc tay Lan vòng qua chiếc cột, rồi lại dùng mấy chiếc lạt dài khác buộc người Lan vào cột như người ta bó giò, thì Lan rãy rụa. Hắn rãy rụa cuồng nộ đến nỗi chiếc khăn đen bịt mắt tử tù cũng phải tụt xuống. Anh chỉ huy ra lệnh:

- Ông Tí! Hãy bịt mắt nó lại.

Tí chợt nhìn thấy đôi mắt Lan, ông rùng mình. Chưa bao giờ ông gặp những con mắt sáng đến như vậy. Long lanh giận giữ. Sáng quắc như được nạp một dòng điện siêu nhiên. Rồi Lan bậm môi nhổ vào mặt Tí:

- Đồ tể! Mày là thằng đồ tể. Chết đi, hồn tao sẽ hiện về bóp cổ mày.

Ông đại uý ra lệnh:

- Ông Tí, bịt mồm nó lại.

Tí run run lấy miếng vải đen quấn ngang qua mồm Lan rồi buộc vào chiếc cọc. Lan vẫn rãy rụa nên mảnh vải không tài nào buộc chặt lại được. Lan gầm to:

- Đồ tể! Giết người! Đồ tể! Giết người!

Ông đại úy lại ra lệnh tống giẻ vào mồm Lan. Lan dùng lưỡi đẩy miếng giẻ ra, nên khi ông đại úy đang đọc bản án, hắn lại tiếp tục rủa xả. Thế này thật chẳng còn ra thể thống gì nữa. Ông đại úy tức giận chạy đến tát vào mồm người tử tù. Lan vẫn nói không ngừng.

Tí giò đứng đấy, mồ hôi vã ra như tắm. Lần đầu tiên, ông chuyên gia trói buộc này bỗng thấy hai bàn tay mình run rẩy. Nhưng, một sáng kiến về trói buộc bỗng loé nở trong óc. Tí chạy ra lấy chiếc dây cao su buộc hàng đằng sau xe đạp. Ông kêu to khoái trá:

- Đây rồi! Đây rồi! Lần này thì mày phải câm miệng.

Tí cầm chiếc dây cao su quấn ghì đầu Lan vào chiếc cọc tre. Ông vòng dây cao su ngang mồm Lan; Lan há mồm định nói, nhưng chiếc dây đã lanh lẹn ngáng qua, chịt hàm răng lại. Quấn hai vòng cao su xong, Lan bặt nói, nhưng chiếc khăn đen bịt mắt lại tụt xuống. ánh mắt lúc này còn sáng quắc hơn lần trước. Có lẽ bị bịt hết cửa biểu hiện rồi, nên toàn thể tinh lực căm giận phải tuôn trào hết ra ánh mắt. Tinh lực ấy làm ngầu đôi mắt, nó đẩy hai nhãn cầu lồi ra phía trước.

Tí bỗng lạnh toát từ đầu đến chân. Ông vẫn đọc thấy trong đôi mắt ấy lời chửi rủa hận thù:

- Chết! Hồn ta sẽ hiện về…

Tí run rẩy sợ hãi. Ông liền vòng ngay một vòng cao su qua đôi mắt quái đản ấy, để khép kín vĩnh viễn chúng khỏi cuộc đời.

Tiếp đó, những phát đạn nổ ròn…

Máu ở tim Lan vọt ra rất mạnh. Lan giật lên từng hồi, giật rất lâu. Tí thầm nghĩ: “Cả đến cách rãy chết của thằng cha này cũng mang lời oán hận.” Và ông chợt nghĩ thầm: “Hay là nó oan thật sự?”

Phát súng nhân đạo đã bắn vào thái dương người tử tù. Bác sĩ pháp y ra khám nghiệm, tuyên bố phạm nhân đã chết hẳn. Tí làm nốt công việc cuối cùng. Ông mệt mỏi cởi sợi dây cao su chằng mồm và mắt Lan. Đôi mắt vẫn mở trừng trừng oán hờn khiến bàn tay Tí giò càng thêm lẩy bẩy. Khi ông cắt nốt chiếc lạt cuối cùng, ông vụng về đến nỗi cắt cả một mảng da ở cổ tay phạm nhân. Xác chết không còn gì trói buộc nữa, đổ gục xuống tấm ván nắp áo quan đã để sẵn dưới cọc tre. Hai người khiêng cái nắp áo quan; Tí giò đi sau còn trông thấy hai bàn tay người tử tù vẫy theo nhịp đi. Quái quỉ thật! Bàn tay ấy như vẫy gọi Tí.

“Hai ba… nào” – Tí giò hô to và hất xác chết xuống áo quan đã đặt sẵn dưới huyệt. Cái xác chết lúc này lại được lật ngửa lên. Đôi mắt lồi ra khỏi hố mắt mầu trắng dã của kẻ tử tù lại có dịp được nhìn vào mặt Tí giò. Nhìn chằm chằm như chiếc máy ảnh muốn chụp lại khuôn mặt hoảng hốt của Tí.

Tí nghĩ thầm: “Trời ơi! Đôi mắt ấy vẫn còn sống. Nó chớp chớp và nó đe doạ”

Tí vội vàng vứt nhanh chiếc nắp áo quan xuống để khỏi phải nhìn thấy đôi mắt ma quái ấy. Rồi ông xúc đất, xúc vội vàng, lấp qua loa, để gọi là có một nấm mồ.

Sau hôm xử bắn Lan, Tí giò thấy trong người khó chịu. Rồi Tí giò mất ngủ, mất ngủ liên miên. Hễ lúc nào nhắm mắt, là đôi mắt trắng dã của kẻ tử tù dưới mộ lại hiện ra trước mắt Tí. Đôi mắt ấy đang báo thù. Nó không cho Tí ngủ, vì hễ ông nhắm mắt lại là lập tức nó hiện ra.

Tí mất ngủ đến hàng tháng trời. Người vêu vao phờ phạc. Tí tìm cách chợp mắt để lấy lại sức khỏe. Anh ngủ ban ngày, và ngủ ngồi. Anh trốn chạy đêm tối, vì nghĩ rằng chỉ đêm tối hồn mới hiện về. Nhưng chỉ được hai hôm. Đến hôm thứ ba, dù ngủ ngày và ngủ ngồi đôi mắt trắng dã căm thù vẫn cứ hiện về.

Tí nghĩ: “Mày định chọi với tao à? Tao phải chọc mù hẳn đôi mắt trắng dã của mày”

Một tối chờ dân làng ngủ yên hết cả, Tí cầm chiếc thuốn đi ra bãi bắn ven đê. Ông tìm đến mộ của tử tù Lan. Và ông cứ nhằm phía đầu mồ mà thuốn, mà đâm. Sức mạnh phi thường của Tí làm tan cả mảnh ván thiên. Tí thúc thanh sắt vài lần nữa, thì chiếc thuốn sọc ngay vào đầu tên tử tù. Chắc là vậy, bởi vì Tí cảm thấy thanh thuốn chạm phải một vật gì cứng. Sự va chạm ấy phát ra một âm thanh khô khốc, lạnh lẽo. Tí thầm nghĩ: “Phải chọc tan chiếc đầu lâu của mày ra.” Bằng động tác giã giò, Tí kéo lên thọc xuống, cho đến lúc tay ông có cảm giác lạo xạo của chiếc đầu lâu bị vỡ vụn.

Khoan khoái, hả hê, Tí rút thuốn lên. Đột nhiên, một luồng khí xanh lè phì ra từ lỗ thuốn. Tí không tránh kịp, luồng khí phụt luôn vào mặt.

Tí rú to, vứt thuốn, ôm lấy bộ mặt lạnh toát của mình. Rồi, sợ hãi quá, Tí cắm đầu cắm cổ chạy. Luồng khí xanh lè ấy đuổi theo anh như một bóng ma. Và văng vẳng có tiếng người tử tù thét lớn:

- Tao sẽ giết mày… Đồ tể!

(Còn tiếp)

N.X.K.

Comments are closed.