Ngô Thị Kim Cúc
Nhân vật thường xuất hiện có thể từ một tình huống có thật trong đời thật, thành giọt-cuối-cùng-tràn-ly cho người viết, cũng có khi tới từ những tưởng tượng đã âm thầm mai phục/bén rễ dài ngày trong tâm tưởng nhà văn.
Tác giả có khi thản nhiên để nhân vật hành xử/phát ngôn tự nhiên chủ nghĩa như bản sao của chính mình, cũng có người điên rồ cưỡng bức nhân vật, bắt phải triết luận, phải lập ngôn y hệt nhà tư tưởng trong-mơ của mình…
Ái Điểu và thế giới nhân vật của cô thuộc trường hợp nào?
Cái xã hội người trong truyện của Ái Điểu khi đọc lướt có vẻ như không liên quan thiết thân tới tác giả. Như thể cô chỉ đứng bên ngoài, quan sát và mô tả, chế ngự tối đa để không bộc lộ cảm xúc trên chữ, không cho cái-tôi bất cứ liên hệ/trạng thái tình cảm nào với nhân vật.
Cô không yêu ghét, không khen chê, không đứng về phía nào, không-chọn-phe, có vẻ cô muốn người đọc hiểu như vậy.
Nhưng thế giới nhân vật đó, xã hội người đó, đọc kỹ, gộp chung lại, lại là một toàn cảnh nhiều mảnh ghép, trong đó có những mảnh được nhấc lên đặt xuống/lặp đi lặp lại, mô tả cùng một cá nhân, cùng một loại-nhân-vật dưới những góc nhìn khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau…
Có đàn ông và đàn bà, người già và người trẻ, các thế hệ trong cùng một gia đình, có cả cộng đồng chung số phận, có những xáo trộn/biến động phá tan/xóa sạch mọi thứ và cũng có những ngưng đọng, chết cứng ngoài xã hội hoặc trong từng cá nhân riêng lẻ.
Có những bi kịch làm trào nước mắt phẫn uất cùng những bi kịch khiến người ta tê dại, không còn cảm xúc, trở nên câm nín giữa những nghiền ngẫm đớn đau…
Đọc rời từng truyện, dễ nhìn nhận rằng Ái Điểu lạnh lùng đưa người đọc vào không gian sồng, trạng thái tâm hồn tức tưởi/bức bối của nhân vật, qua văn phong sắc, mạnh, không sử dụng hình dung từ, như thể sự việc thế nào thì cứ kể ra như vậy. Phần sau đó hoàn toàn tùy thuộc vào người đọc.
Nhưng khi đọc đi đọc lại cả tập hợp truyện, có thể nhận ra mỗi truyện giống như một chương của tiểu thuyết, mỗi chương dành cho một nhân vật/một loại nhân vật, được nối kết với những nhân vật còn lại nhờ các chi tiết.
*NGƯỜI KHÔNG CÓ DẤU CHÂN
Dễ thấy nhất là một nhân vật góp mặt trong hai truyện, và được giữ nguyên tên: ông Dư.
Ngay trong tên gọi, đã bộc lộ một hàm ý: Dư, tức là thừa-ra, có cũng chẳng được quan tâm mà không có cũmg chẳng ai để ý. Chỉ vì ông Dư đã sống một cuộc đời quá câm lặng, quá nhạt nhòa tới mức vô tri. Chính ông còn chẳng thiết, chẳng bao giờ tự hỏi mình-là-ai trong cõi đất trời này.
Mãi cho đến khi đã xong-đời/đã về hưu, và trong chuyến về quê thắp nhang cho tiên tổ, ông mới vô tình khám phá một sự thật kỳ quặc, phũ phàng. Rằng, mình không hề có, không hề để lại dấu chân.
“Tối hôm đó ông Dư ở một mình tại nhà từ đường.
Ông thắc mắc suy nghĩ về việc không có dấu chân. Chỉ một lúc sau, ông tự trấn an: Mình sống đến tuổi này cũng được rồi. Một đời không sướng cũng không khổ. Không có dấu chân cũng đâu có ảnh hưởng gì.
Tánh ông Dư có điểm hay là nhanh chóng cho qua những điều khó nghĩ”…
“Ba tháng sau khi về thăm quê hương ông Dư mất.
Đêm đó, ông ngủ say rồi lặng lẽ đi luôn…
Ông ở Hội Người cao tuổi đọc điếu văn có đoạn ca ngợi ông Dư có nhiều công lao to lớn khi còn công tác. Là ngọn cờ của người cao tuổi hưu trí. Thế hệ sau nên theo dấu chân ông mà đi…
Bà trong Hội Phụ nữ thầm nghĩ: Lão này lấy ý trong điếu văn cho lãnh tụ nào đó chớ lão Dư đâu có như vậy”.
Những Ông-Dư kiểu vậy đã góp mặt/đi qua cuộc đời này, không khác gì một chiếc lá bị cuốn theo chiều gió .
Tác giả chỉ nhắc nhỏ người đọc một câu nhẹ, cuối cùng:
“Có khi nào bạn xem thử mình có dấu chân hay không?”.
*NƠI ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU
Ông Dư trong truyện Nơi đất lành chim đậu lại có chọn lựa khác. Từng nhẫn nhục sống trong sợ hãi mỗi ngày, sợ từ những câu nói ỡm ờ đầy ẩn ý của vợ con cho tới tất cả những thứ phải giao tiếp quanh mình: đâu đâu cũng là hàng-giả, tất cả mọi thứ đều là hàng-giả.
“Đi khám bịnh ông sợ gặp bác sĩ tại chức. Uống thuốc ông sợ thuốc giả. Ra đường lo bị xe của đứa bằng lái giả đụng. Đi chùa, ông ngại gặp sư hổ mang.
Thời đại gì mà đụng đâu gặp đồ giả đó. Ngay cả người khùng cũng có khùng giả. Không khùng mà có giấy chứng nhận là khùng…”.
“Suy tư một thời gian rồi ông tự giải thoát: Già rồi, cũng hết đời người rồi, có gì đâu mà lo sợ, mặc kệ mọi thứ, sống như mình muốn cái đã”.
Và rồi, trong một chớp lóe điên rồ, ông bỗng thừa gan góc để thực hiện cơn bão trong ly nước: đi tới động điếm.
Và, ngay lập tức, ông thấm thía thế nào là thảm họa. Ông bị gài bẫy, trở thành nạn nhân bị trấn lột của một lũ lưu manh chuyên nghiệp ngay lần đầu tiên cho phép mình sống-như-mình-muốn.
Chính từ trải nghiệm đầu tiên thất bại này, ông Dư lại liều lĩnh tiếp tục một việc mà trước đó dù trong mơ ông cũng chưa bao giờ nghĩ tới: cướp ngân hàng.
Không phải để có tiền nộp cho bọn lưu manh đang khống chế mình.
Mà chỉ bởi, ông Dư bỗng nhận ra một chân lý rất giản đơn/tàn nhẫn:
“Thế giới mà ông đã sống có thể giả mạo mọi thứ. Nhưng nơi giam cầm chắc chắn là có thật”.
*NGÀI-Z VÀ KẺ THẾ THÂN
Đối lập với loại ông Dư vừa nhàm chán vừa đáng thương đó, là những nhân vật thuộc loại đỉnh-của-đỉnh, những kẻ trời sinh ra chỉ để ngồi lên đầu thiên hạ.
Nhưng kẻ đỉnh-của-đỉnh ấy, một ngày nọ bỗng thấy chán hết mọi thứ, chỉ muốn thoát ra.
Ngài-Z là một kẻ như vậy.
Vì những lý do nào đó, Ngài-Z không muốn tiếp tục cuộc sống quen thuộc thường ngày, cuộc sống mà bao người mơ ước. Ngài cần một kẻ đóng-thế để khi nào ngài muốn biến mất thì kẻ đó sẽ vào vai, thay ngài chịu đựng các thứ.
Kẻ nhận lời đóng thế là một kịch sĩ, đã cố ý tạo ra một đám tang thật ồn ào để quảng bá cái chết-giả của mình, và để bắt đầu hưởng thụ cuộc đóng-thế đầy hấp dẫn.
Vậy là có hai kẻ sống mà chết, chết mà sống. Sự tráo đổi này gây nên những tác động bất ngờ trên cả hai người.
Ngài-Z, với sự giúp đỡ của kẻ-đóng-thế, lần đầu tiên được hòa nhập, tận hưởng những niềm vui bình thường trong cuộc sống của người dân tầng lớp thấp, qua chiếc mặt-nạ-bình-dân.
“Ngài thử qua đêm với một chân dài với chi phí hơn cả tháng lương của ngài.
Ngài đã ăn sáng ở khu nhà trọ công nhân với giá chưa bằng một cái khăn giấy trong nhà hàng cao cấp.
Ngài đã trò chuyện với những cánh bướm tội nghiệp đứng đường.
Ngài đã lê la cà-phê tán dóc với những văn nhân quán cóc…
Ngài bàng hoàng nhận ra những điều ngài biết từ các báo cáo, phương tiện truyền thông chỉ là một góc giả tạo diêm dúa của cuộc đời.
Bao lâu nay, con người thật của ngài đã sống giả, như một hình nhân giấy.
Và, trớ trêu thay, ngài lại được sống thật dưới lốt nguỵ trang của một chiếc mặt nạ giả…”.
Ngài-Z, sau thời gian tận hưởng thứ hạnh phúc đơn sơ của kẻ bình dân, bỗng hoát ngộ, quyết định vĩnh viễn trao mọi thứ từng thuộc về mình cho kẻ đóng-thế, để dứt khoát ra đi…
“Giao cho chú mày tất cả những gì đã thuộc về ta. Ta ớn hết mọi thứ đó. Ta sẽ biến mất.
Ta không chết mà lại như đầu thai một kiếp khác”.
Và…
“Nhiều năm sau, một buổi sáng cuối tháng Giêng, ở một vùng quê.
Một người đàn ông vô danh chậm rãi cắt tỉa cây mai vừa chưng Tết. Muốn có mai đẹp phải chuẩn bị trước cả năm.
Ông thoáng nghe radio đọc bản tin:
Tối hôm qua, Ngài-Z đã rơi xuống từ tầng 25 của toà nhà L. Nguyên nhân chưa rõ.
Nguồn tin này nói Ngài Z trượt chân, nguồn tin khác cho là ngài bị ám sát hay tự vẫn…”…
“Có tiếng trẻ con hát ngọng nghịu làm ông không nghe hết bản tin.
Đứa bé chạy đến bên ông. Ông ôm đứa bé lên nói: Hát tiếp đi con.
Rồi nghêu ngao hát theo đứa bé: Kìa con bướm vàng, xoè đôi cánh…”.
Vậy là, cái Ngài-Z-đóng-thế đó cuối cùng cũng không chịu đựng nổi cuộc sống của Ngài Z-thứ-thiệt, nhưng không thể tìm ra cách giải quyết nào khác, ngoài cái chết…
Tóm lại, hạnh-phúc-thứ-thiệt cho một con người là Cái-Gì…
*VIỄN TƯỞNG
Ngài-01 trong truyện Viễn tưởng còn ghê gớm hơn. Ngài chính là tác giả đã tạo-ra, là kẻ duy nhất/cao nhất điều-hành một xã hội người được sản xuất hoàn toàn từ công nghệ.
“Để tạo ra một nhà thơ tương lai, các chuyên viên dùng tinh trùng của các thiên tài thơ như ngài Chủ Soái Hội Thơ, ngài Tổng Tài Tạp Chí Thơ… cho giao phối trong phòng thí nghiệm với trứng của các nữ sĩ đoạt giải trong các kỳ thi thơ.
Đứa trẻ ra đời không biết cha mẹ, có năng khiếu thơ văn bẩm sinh, được nuôi dạy trong môi trường phát triển tố chất làm thơ. Từ trong ống nghiệm đứa bé đã được chuẩn bị để trở thành nhà thơ lớn.
“Số lượng nhà thơ được quy hoạch, hạn định từ trước. Và chỉ có nhóm những người này mới được sản xuất ra thơ. Người ngành khác không được cấp thẻ làm thơ. Sẽ bị pháp luật truy tố tội làm thơ lậu nếu tự ý làm thơ mà không xin phép. “Tất cả nhân dân của Đại Quốc: những chiến binh, những nhà khoa học, những nghệ sĩ, những chính trị gia, những thương gia, những tu sĩ, những nông dân… đều được sinh ra, trưởng thành và sử dụng theo phương pháp này.
“Khi những người kiểu tự nhiên, truyền-thống chết già hết, từ một nước lạc hậu, nghèo nàn, Đại Quốc đã vươn-cánh-bay-cao trở thành một siêu đất nước, bá chủ thế giới nhờ có lực lượng thần dân chuyên ngành ưu việt, vượt xa các nước khác”. Tương lai nào cho Ngài-01 siêu quyền uy?
Thật rủi ro, khi bên trong Ngài-01 vẫn còn rơi rớt một chút xíu chất-người. Nên vào một lúc cô đơn không mong đợi, ngài bỗng có nhu cầu gặp gỡ con-trai-001 để trò chuyện theo-kiểu-người, như ngài vẫn cứ nhung nhớ một mùi mồ hôi, từ mối tình đầu non trẻ của mình…
Và ngài đã bộc lộ tình cảm cha-con với con-trai-001, tiếp đó ngài lại bộc lộ sự không hài lòng khi thấy mình bị-hệ-thống-kiểm-soát/chê trách hành vi ấy, hệ-thống cho rằng ngài đã vi phạm những chuẩn mực…
“Con, Ba hay Bố, Cha và Chú, Bác, Cô, Dì, Ông, Bà… là từ-cổ không còn dùng nữa. Phải gọi nhau bằng mã số theo luật định”.
Ngài-01 bèn chửi thề và đá thẳng vào nơi phát ra tiếng nói.
Và ngay lập tức, Ngài-01 bị loại khỏi hệ thống.
Hệ thống đã được sản sinh từ chính tay ngài.
“Tiếng nổ đanh gọn.
Một tấm lưới bay ra từ nòng súng của 011.
Lưới tóm gọn Ngài-01, bay vào không gian, lên thật cao, ra khỏi dải Ngân Hà, bay qua một hệ Mặt Trời khác…”…
“Ngài-01 tỉnh lại.
Ông ngửi thấy hương chùm kết.
Một người phụ nữ đang dùng tóc nàng lau nhẹ những vết xước trên trán ông.
Nàng nói:
Em đang bắt cá nên thân thể, tay em dơ lắm. Chỉ có tóc còn sạch.
Ông hỏi:
Đây là đâu?
Người phụ nữ nói:
Theo người xưa kể thì đây là hành tinh dành cho những người bị lưu đày khỏi Trái Đất.
Ngài-01 nghe rất rõ mùi mồ hôi muối.
Mùi của loài người mà ông đã ruồng bỏ từ hơn trăm năm trước.
Ông đã ra đi. Và, bây giờ ông đã trở về.
Chốn trở về lại là vùng đất lưu đày”.
Thông điệp trong truyện này rất rõ, ngay trong hai câu cuối.
*QUÁN CHÁO LÚ
Câu chuyện trong Quán cháo lú miên man từ người già sang người trẻ, từ đàn ông sang đàn bà, từ người chấp nhận húp cháo tới người chống lại tác dụng của món cháo…
Có người đã chết ở Mỹ Lai năm 1968, có người chết trong cuồng phong cải cách ruộng đất năm 1956, có người mới chết trong xe đông lạnh ở biên giới nước Anh năm 2019, cũng có anh lính chết ở biên giới phía Bắc năm 1979…
Ai cũng có chuyện để kể, có nỗi niềm để chia sẻ, có tâm tư để giãi bày…
Nhưng các hồn ma đều bị buộc phải ăn cháo lú để quên-đi mọi thứ trong kiếp-cũ, để toàn tâm toàn ý nhập vào vai-mới trong kiếp-mới.
Bao nhiêu là tâm trạng được bộc bạch quanh nồi cháo…
“Khổ nổi, gia đình tôi ăn thứ cháo này quá nhiều rồi mà vẫn không qua cầu được. Chúng tôi không quên được quá khứ nên không thể chuyển kiếp”.
“Khi sự thật chưa được giãi bày, bên kia cầu lũ người bất lương, ma mị ngày càng lộng hành thì những người có nhân cách, lương thiện khó bình yên, hạnh phúc khi trở về sống ở dương gian ông à!”.
“Có thời gian tôi lầm tưởng là đã ẩn lánh được những phiền não. Nhưng cái ác như vi trùng, không ở ngoài cánh cửa nhà mình, nó len lỏi, lách qua khe hở của pháp trị. Mình miễn nhiễm được thì vợ, con, cháu cũng dễ dàng tiếp nhận”.
“Thôi, tôi đi, dù sao cũng không thể ở mãi chốn này làm oan hồn vô vọng.
Sống, rất cần sự lãng quên. Nếu không lãng quên khổ đau, uẩn ức chồng chất làm sao mà sống?”.
“Tôi đã trải qua một kiếp lưu vong, thấy ở xứ khác cũng vậy thôi… Bò ở quê ta hay bò ở ngoại quốc đều bị xẻ thịt, vắt sữa; chỉ khác ở cách nuôi”.
Một người khác nhồi thuốc vào điếu cày, rít một hơi, lơ mơ nói: Hay là mình uống vài chén rượu, để dễ quên.
Người kia nói: Chúng mình đã uống cạn rượu đời. Đã say, đã tỉnh, đã sống và đã chết mà có quên được đâu”.
Nghe những trò chuyện đó, bà chủ quán trở nên bần thần.
“Bà có ý nghĩ là món cháo lú mà bà vẫn nấu từ lâu đã không làm cho con người thấy niềm vui khi trở lại kiếp làm người…
Con người có nhất thiết phải quên tất cả quá khứ không?
Món cháo lú này giúp con người vứt bỏ, không nhớ gì kiếp đời đã cũ để tạo lập một cuộc sống mới tốt đẹp…
Nhưng cũng làm cho con người mê muội, đần độn, mù quáng, phủ nhận những đạo lý của tiền nhân, không còn tỉnh táo, trí tuệ để sống minh bạch, phân biệt thiện ác…
Bà Mạnh rùng mình, chính bà là kẻ trông coi nồi cháo lú.
Bà đã tiếp tay với sự sai lầm khủng khiếp này”.
Rồi bà nhận ra mình đang chuyện trò với một đứa trẻ như một cánh bướm từ cõi trời cao đáp xuống bên bà. Một đứa trẻ đã chết đuối trên biển trong chuyến vượt biên cùng gia đình.
“Con được lên trời, không tái sinh làm người. Nhưng mà con thích làm người với thất tình lục dục hơn là làm tiên, làm thần”.
Đứa trẻ dứt khoát dắt bà, gần như ép bà đi tìm nguyên liệu để nấu nồi cháo khác.
Nó nói:
“Con người nên sống với quá khứ, hiện tại và tương lai bằng nhân ái và tri thức… Không còn ước mơ đẹp cho mọi người, mình sẽ thành kẻ bạc nhược, sa đoạ, ích kỷ, bất nhân.
Cứ đi trong niềm tin và hy vọng. Nhiều người cùng tìm sẽ thấy…
Phải thay cháo Lú bằng cháo Mẫn nghen bà”.
Những lời lẽ từ em-bé-nhà-trời này cho thấy người Việt thiệt sự quá nhiều nợ nần/ám ảnh vì nhau.
Tới nỗi, một hồn ma trẻ con vẫn muốn quay lại dương gian để làm người, thay vì sống nhẹ nhàng thanh thản ở cõi trời, không liên quan gì tới số đông còn lại.
*LỮ KHÁCH
Là câu chuyện về một quán trọ gần biên giới với những người khách đặc biệt từng ghé lại.
Vào tiết thanh minh thời chiến, có người vóc vạc cao to râu hùm hàm én ghé quán lúc tối trời để “đi tìm người mà vì nàng ta chết. Cũng vì nàng ta ráng sống”.
Lập đông, lại có người nho nhã mang chiếc nguyệt cầm tới quán, uống rượu và hát những bài hát quá cao xa không dành cho chúng sinh dưới thấp.
Mùa hè, lại có người cưỡi bò, mang lỉnh kỉnh những vật dụng của nông dân ghé quán, và được nữ chủ nhân mời nghỉ lại qua đêm.
Bởi câu nói: “Ta đi tìm tiếng gà rộn ràng mỗi sớm mai, tìm khói bếp dịu lòng buổi trưa, tìm mùi mồ hôi muối huyền nhiệm trong bóng đêm nồng ấm…”.
Một thời gian sau, đứa trẻ ra đời.
Khi được hỏi ai là cha đứa trẻ, nữ chủ nhân đã trả lời: Ba nó là lữ khách.
Thật dễ dàng để đoán ra, phụ nữ chọn điều gì/cần điều gì ở đàn ông, trong những người/những lữ khách mà nữ chủ nhân tiếp đãi…
*BỐN ĐOẠN NGẮN VỀ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ
Truyện được viết rất kỹ so với những truyện khác của Ái Điểu.
Kỹ trong câu chữ, trong cả việc đưa chi tiết, hình ảnh.
Trong chuyện kể có gia đình đủ vợ chồng con cái, có chiến tranh và hòa bình, có sự khai sinh và sự trưởng thành/chứng ngộ, có tình yêu và khả năng hồi-sinh của con người…
Và có cả cái chết không thể tránh khi con người bị nhấn chìm trong cõi vô minh.
Khi con người hủy diệt con người. Con người là nạn nhân của chính con người…
Những đoạn văn rất đẹp:
“Người xà ích đội cái mũ bèo nhèo che kín mặt. Xe chở một bà mụ đỡ đẻ.
Bà giống y như mụ phù thuỷ trong truyện cổ tích. Bà nhai trầu. Nước trầu chảy leo ra khoé miệng. Bà đưa hai ngón tay quệt. Tay và môi bà dính màu đỏ máu bầm…
Con ngựa già mắt có tấm che, chỉ nhìn thấy phía trước. Đêm đen đặc, nó cũng chỉ mơ hồ một chút ánh sáng. Nó chạy không theo nó mà theo sự điều khiển của những đòn đau từ lão xà ích.
Lão xà ích quất roi lên đầu ngựa, quất vào trời đen, như người làm xiếc thú. Lão hét to những âm thanh sân si cuồng nộ, không phải tiếng người.
“Từ mái tranh người chồng vội leo xuống. Ông chống nạng, khập khễnh đến trước bà mụ.
Bà nói: Con gái.
Lão xà ích nói: Điềm báo hết chiến tranh. Đẻ con gái để sinh ra nhiều con người, bù lại số đã chết”…
“Ngực đứa con gái nhú hột đậu, bằng trái cau rồi bằng trái cam.
Ngày nọ nó hỏi mẹ: Con không có vết thương sao người con ra máu?
Người mẹ trầm ngâm giây lát rồi nói:
Con người phải chảy máu, mồ hôi, nước mắt và đau đớn mới biết yêu thương con người”…
“Làng đã có nhiều đàn ông.
Họ về từ chiến tranh, từ cõi chết. Người làng không phân biệt chiến tuyến. Tất cả đều là con của làng.
Có người mất tay, chân. Có người câm, điếc. Có người mất trí. Có người u uất, lạc lõng trong bình yên.
Những người lính thực thụ không muốn kể lại những chiến công.
Chỉ có người không còn lương tri mới hân hoan thành tích sát nhân của mình”…
“Đứa con gái lau mồ hôi, máu và nỗi đau cho những người lính bị thương tật.
Có một người mất tay và không còn nhớ mình là người.
Có lúc ông hét lớn, dữ tợn như muốn sát hại những người ông thấy. Có lúc ông ẩn náu trong góc tối. Không ăn, không nói nhiều ngày.
Đứa con gái nhẹ nhàng ôm, xoa dịu khi ông hung tợn. Nắm tay, vuốt tóc, níu ông về với kiếp người.
Đêm đó, người thương binh chợt nói tiếng người:
Chốn này còn bầu trời, còn trăng, còn dòng sông không? Và người nữa, có còn loài người không?
Người con gái mừng muốn trào nước mắt.
Nàng đưa ông ra bãi sông đêm trăng. Nàng nắm bàn tay còn sót lại của ông đặt lên bầu vú của nàng.
Người thương binh sau thời gian dài không còn nhớ mình là người, chợt nhớ đến mẹ ông.
Ông gục đầu vào bầu vú nàng. Trở lại miền nhân gian”…
“Những đêm trăng, người đàn bà, người thương binh cùng đứa con trai ra bãi cát ven sông thả diều.
Gió đưa người đàn bà xoã tóc dài bay lên bầu trời mông mênh, huyền nhiệm.
Đứa con trai nắm sợi dây giữ người đàn bà ở lại mặt đất…”…
“Qua nhiều năm sau…
Những ngôi nhà cao tầng đã được dựng lên. Dòng sông, đêm trăng, cồn cát đã mất.
Con cá, con dông, cây bắp, hạt lúa không còn đất sống.
Người cũng bỏ làng mà đi. Làng lại vắng như lúc còn binh đao loạn lạc…
“Người thương binh trở lại bệnh nặng. Ông lầm bầm nói một mình:
Người đi đâu hết rồi? Dòng sông, bầu trời đâu rồi?
Ông hoang mang, mất trí một thời gian rồi chết.
Người đàn bà nhận giấy báo di dời chỗ ở.
Làng được quy hoạch cho những công trình du lịch.
Làng đã xoá tên…”…
“Người đàn bà thuê một căn hộ trên tầng thứ chín của chung cư.
Bà sống một mình. Đứa con trai đã đi đến một xứ sở khác lâu rồi…
Một đêm trăng sáng có mưa phùn, gió lộng. Bà lấy cánh diều của đứa con tung cao lên bầu trời trăng, qua khung cửa sổ.
Con diều bay lên cao. Có cơn gió vô tình thổi nó dạt vào đường dây điện cao thế.
Người đàn bà thấy triệu triệu vì sao sáng lên trong đêm trăng.
Bà vẫn giữ chặt sợi dây diều…”…
“Chiếc xe ngựa cũ kỹ ngày nào lướt trong mây trắng bồng bềnh, dừng ở cửa sổ tầng chín.
Bánh xe gỗ chậm rãi quay đều…”…
Bi kịch của một người/một nhóm người, một gia đình, một làng quê, một đất nước/dân tộc, là vòng luân hồi tăm tối mà con người không tìm thấy cách để thoát ra.
Truyện ngắn này đẹp như một tiếng khóc thẳm sâu.
Nó khiến ta phải nhìn vào cõi bên trong của chính con người mình mà tự vấn, tự đớn đau, tự tỉnh thức…
*SẤM KÝ
Về một cô gái làm công ở quán cà phê, có đứa con nhỏ và cha mẹ chồng đau yếu phải nuôi, trong khi chồng đi biển biền biệt không về, mất tích chẳng biết lý do.
Cô có nhiều bổn phận/trách nhiệm. Trong khi cô không có gì ngoài thân xác trẻ trung của mình.
Cô chấp nhận nhảy dù/đi khách để có thêm thu nhập.
Trong một đêm, cô đã tiếp hai người khách, người cha tới trước và người con tới sau.
Cô không có cảm xúc gì với cả hai người. Cũng không áy náy gì.
Với cô, đó là công-việc.
Và đó thiệt sự là một chuyện rất thường trong đời thường.
Nhân vật không đau khổ, không dằn vặt, không tự trách.
Nhưng người đọc lại thương xót, đau khổ và bất bình…
Sao cuộc đời lại bất công với những con người hiền lành tử tế?
Họ xứng đáng có một cuộc sống yên vui hạnh phúc, bởi họ tốt bụng và đạo đức, ngay cả khi họ buộc phải làm điều sai trái.
Trái tim họ vẫn chảy một thứ máu trong lành. Lương tâm họ vẫn không gợn một chút tì vết…
Mà sao họ cứ phải…
Chính đứa con gái ấy đang chép bản sấm ký để lan truyền tới người khác, với hy vọng mình sẽ gặp may mắn như trong sấm ký đã nói…
“Tháng Bảy năm Ất Tỵ có thiên hôn, địa ám. Mưa to gió lớn, sấm sét kinh hoàng bảy ngày, bảy đêm. Ngày mất mặt trời, đêm vắng mặt trăng. Gà không gáy, chó không sủa.
Lũ ngạ quỷ, đám cô hồn ngự trị khắp dương gian, hãm hại người lương thiện.
Kẻ ác nhơn, người hiền hậu tựa vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được.
Người đức hạnh biến đổi thành kẻ sa đoạ như bị ma da bắt…
Ai nhận được sấm ký này nhớ sao chép ra nhiều bản, lan truyền cho bá tánh biết để làm điều lành, lánh việc dữ, hòng tai qua nạn khỏi…”.
Sấm ký…
Ai đã viết Sấm ký và đã tạo ra niềm tin rằng, sự lan truyền rồi sẽ được đền đáp…
* RƯỢU LẠT
Câu chuyện sao mà buồn, mà chán.
Khi người đàn bà có thể đọc vanh vách mọi mưu đồ đang diễn ra trong đầu người đàn ông, rành rẽ từng lớp lang mà anh ta rồi sẽ thực hiện.
Nhân vật xưng Tôi.
Tôi hiểu về đàn ông quá nhiều tới thừa mứa, nhưng tôi buộc phải nhập vào vai phụ ngốc nghếch, để hưởng ứng vở kịch mà anh ta dàn dựng một cách vụng về.
Tôi cứ để anh ta diễn và cười thầm như trò giải trí…
Cho tới khi họ ở trên giường.
“Môi anh đi xuống thân thể tôi.
Tôi khó chịu, thấy dơ bẩn vì sự nhớp nháp của nước bọt có mỡ thức ăn.
Anh đè tôi xuống. Lưng tôi cấn cái túi xách của tôi. Cổ tôi đau vì cái đồng hồ của anh.
Tôi thấy một con ong bay qua bay lại. Và có cảm giác con ong chui vào người tôi.
Anh thở dồn dập, mắt nhắm ghiền. Cơ mặt biến dạng trong mảng đen trắng của ánh đèn yếu ớt. Thân thể quằn quại như con thú bị thương.
Hơi thở, cơ mặt, đôi mắt và tư thế vật vã của con người trong hoan lạc gần giống như lúc hấp hối.
Tôi nghiệm ra điều này vì tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh ông ngoại tôi qua đời vì ung thư phổi.
Giây lát, anh lăn ra giường, thở nhẹ, rồi ngủ say”…
“Tôi để anh nằm lại, xuống quầy thu ngân trả tiền phòng.
Tôi nói: Ảnh sẽ về sau, đi bây giờ chắc chắn bị phạt nặng.
Tôi gọi taxi. Tôi bảo người lái xe mở khung cửa kính.
Gió sông thổi thật mát. Tôi hít thở mấy hơi dài. Thật sảng khoái.
Tôi lấy điện thoại, chặn FB, Messenger và tất cả các đường dẫn liên hệ với anh.
Gió mát trên đường đêm làm tôi thấy thanh thản, an lành.
Mấy con côn trùng trong xe bay qua khoảng trống của khung cửa, thoát vào trời đen.
Rượu đời đã lạt”.
Rượu của đời một người đàn bà liệu có thể lạt tới mức nào…?
*CON MẮT TRÔI DẠT
Khi một cô gái điếm “chuyên nghiệp” tới mức tự mình chối bỏ/cấm tiệt những cảm xúc, ngay cả khi đó là cảm xúc có thật từ một người khách tử tế.
Cô không cho phép mình sống/cảm nhận như một người bình thường.
Cô chỉ muốn người khách nhìn mình đúng như nhìn một gái điếm.
Tàn nhẫn với chính mình là cách cô tự trừng phạt mình.
“Thú thiệt là tụi em chỉ cho khách biết một cái tên giả. Nghề tụi em phải vậy…
Anh cứ về trước, nghề tụi em không nên đi cùng anh khi ra khỏi căn phòng này. Nếu tình cờ gặp anh ở đâu đó, em sẽ không chào hỏi, như chưa từng gặp nhau. Giữ cho anh thôi mà…
“Không có phép lạ để thoát ra, nàng phải tự cứu rỗi mình bằng cách biến thành loài côn trùng kiếm sống trong vũng lầy của cơn lũ vô tận”…
Trong khi đó, người đàn ông nhìn thấu vào lòng mình. Ông biết rõ mình cũng bất hạnh như nàng, chỉ khác ở hoàn cảnh.
“Ông lạc lõng trong căn nhà của mình.
Ra ngoài căn phòng… ông phải thoả hiệp với những kẻ gian xảo đội lốt hiền nhân. Ông phải vỗ tay tán dương sự dối trá xấu xa được nguỵ trang chân-thiện-mỹ.
Phải hèn hạ để được an toàn, sống sót…
Ông thấy thân thuộc với mùi ẩm mốc của căn phòng này.
Ông tìm thấy sự bình an khi gặp người phụ nữ này, ở nơi đây, trong vũng lầy tăm tối”…
“Ông hôn lên trán của nàng, như cha hôn con. Hôn lên đôi mắt to u uất chìm sâu trong bóng tối, nụ hôn xót thương cho đời nàng, cho đời mình…
Người đàn ông tha thiết:
Anh không muốn làm tình rồi vội vã ra đi. Cho anh được yêu thương em bằng tình cảm không dục vọng. Cho anh được làm người có lương tri.
Người đàn bà lặng yên. Nước mắt rơm rớm chực tuôn trào. Nàng khóc cho mình? Khóc cho người khách lạ? Hay khóc cho cả hai?
Trong chốc lát, người đàn bà đã chế ngự được cảm xúc.
Nàng nói khô khan:
Em làm nghề này để bán thân cho anh thoả mãn nhục dục. Chỉ vậy thôi. Em kiếm tiền từ hành động đó.
Nếu anh không hưởng thụ, em không nhận tiền và sẽ không gặp anh nữa”…
“Người đàn ông lại đến căn phòng nhà nghỉ.
Ông nhắn tin:
Em đến nghen. Anh đang chờ. Chỗ cũ…
Người đàn bà ngồi một mình trong quán café.
Nàng thấy tin nhắn mà không trả lời.
Một lúc sau, nàng rút sim.
Người đàn ông bấm máy, gọi.
Tiếng nói vô hồn của tổng đài:
Thuê bao quý khách vừa gọi không có thật. Xin quý khách vui lòng…”.
Con mắt nào trôi dạt…
Cuộc đời nào trôi dạt…
Và vì sao…
*MÙI CỦA MIỀN NHÂN GIAN
Cuộc vượt biên thất bại. Người đàn ông cố chạy thoát để khỏi bị bắt lại. Kiệt sức.
May mắn thay, anh đã bò vào đúng ngôi nhà có người đàn bà đang nuôi con nhỏ.
Và anh được nàng nặn sữa cho uống để tỉnh lại…
“Ông cần phải uống sữa, phải nhanh có sức để rời nơi đây lúc ba giờ sáng. Lúc đó, người làng lội qua sông, xuống chợ. Ông lén đi theo, giả như người trong làng. Xuống được sông là ông thoát”…
“Đêm đó tối quá, tôi cũng không thấy rõ mặt nàng để bây giờ hình dung ra.
Tất cả đều như ảo ảnh.
Chỉ có một thứ xác thực nhất là cái mùi chua nồng từ bầu vú của nàng”…
“Người chạy xe thồ nói:
Tui biết rồi, chỗ đó là động cát. Mấy mươi năm nay vẫn là nơi gái gú làm ăn. Thời đó khổ quá, làm gì có nhà nghỉ, quán xá. Lấy bãi cát làm giường, vài ký gạo, chục trứng vịt đã đủ đổi được chút hoan lạc của kiếp người.
Đời mà, cũng qua thôi ông”…
“Gió sông đêm thổi u uất. Tôi muốn khóc.
Phải chi tôi khóc được sẽ nhẹ lòng biết bao. Đến bây giờ tôi mới lơ mơ hiểu lúc đó nàng làm gì để sống”…
“Tôi ước định vị trí mà hơn hai mươi năm trước tôi đã gặp nàng. Gần ngã ba, con đường cát lún ngập sâu mỗi bước chân đi.
Bây giờ là dãy quán café võng tiều tuỵ, xiêu vẹo.
Tôi bước vào cái quán có tên Cát.
Trong vạt sáng tối nhá nhem, một con nhỏ nằm trên võng phì phèo khói thuốc.
Nó nói trống không:
Uống cà phê hay đi vui vẻ.
Tôi ra vẻ dân chơi:
Cho coi hàng đi cưng.
Nó hất mái tóc ra sau, đưa tay mở một nút áo cho tôi thấy vú. Tôi rùng mình, nổi da gà.
Tôi lặng người giây lát rồi nói: Ô-kê!
Con nhỏ đi trước, tôi bám theo sau. Bước xuyên con đường cát lầy.
Nó dẫn tôi qua một cái cổng, qua một khoảng sân rộng, nói:
Nhà ông nội em. Xưa, giàu nhất làng. Ông vào cái phòng thứ hai, chờ em tắm rửa cho thơm”…
“Tôi ngồi, lấy thuốc hút, mở rộng cửa nhìn bâng quơ ra khoảng sân đêm. Lòng không có chút tà dục.
Một phụ nữ từ phòng bên đi qua, nhìn tôi chằm chằm.
Tôi ngượng nghịu.
Người đàn bà lảo đảo sắp ngã xuống. Rồi, đứng dậy như con mèo cái, bay đến, vồ lấy con chuột – là tôi.
Nàng ôm, hun mặt tôi. Hun lia lịa. Hun tơi tả. Như mẹ hun con. Như gái goá hun trai tơ. Như mưa hun lá.
Tôi thấy có vị mặn của nước mắt lẫn trong mùi son phấn”…
“Con nhỏ tắm xong, bước ra. Nó kêu lớn:
Má kỳ quá! Khách của con mà.
Nàng ngưng hun, nói:
Khách của tao, mày biết mẹ gì! Lúc mày còn bú tao đã quen ông này.
Nàng nói với tôi:
Ông đã uống ké phần sữa của con bé”…
“Tôi khuỵu xuống. Vùi mặt vào bầu vú của nàng.
Vùi tôi, chôn sâu vào miền nhân gian cát lầy miên viễn”…
Liệu có cẩn thêm bất cứ từ ngữ nào…
Hơn hai mươi năm…
Vẫn con đường cát…
Đứa bé bú mẹ ngày xưa giờ nằm trên võng vạch áo cho khách nhìn thấy vú…
Cõi nhân gian này sao lại có thể bất biến một cách tàn nhẫn đến mức như vậy…
* MÔI TRINH KỸ NỮ (CỐ SỰ TÂN TRANG)
Chuyện về một gái-điếm-chuyên-nghiệp, một gái điếm kỳ lạ, quá ý thức về bản thân, về một sự một sự “trinh trắng” khác thường tin rằng mình sở hữu.
Câu chuyện mang một nội dung chính trị, không cần che đậy…
“Em thành ma nước Nam vào ngày 17 tháng 2 năm 279…
“Em làm kỹ nữ. Nghề dơ dáy? Không! Em cho là nghề tụi em sạch lắm. Sáng thức dậy đã tắm sạch sẽ xịt dầu thơm phức. Y phục thời trang, đẹp từ áo quần cho đến nội y…
“Từ khi có xã hội loài người, biết bao nghề đã không còn. Như nghề cầm lọng che mát cho quan, nghề mãi võ, nghề ở vú cho con nít bú…
Chỉ có nghề làm đĩ là còn mãi mãi. Và, chắc như bắp, là còn đàn ông là còn con đĩ.
Vì sao? Vì nghề làm đĩ cần thiết cho cuộc sống”…
“Ngày nọ, có quan nhân người Bắc Kinh đến. Hắn hành hạ em đủ mọi bề.
Đến công đoạn chính, hắn lại trớt quớt. Em lỡ ngu chê:
Chán cái anh này! Làm người ta mất hứng.
Hắn quê độ, tức khí đè em ra. Nhè môi em mà hun. Ý là muốn bù lại chỗ quyền lợi không hưởng đủ.
Em chống trả quyết liệt như đánh quân Nguyên xâm lược. Em la làng:
Cứu! Cứu! Hiếp dâm! Hiếp dâm!
“Hắn đi rồi, mấy chú bảo kê chọc em nói:
Ha ha! Làm đĩ mà còn lo bị hiếp dâm”.
“Ba năm làm kỹ nữ, có ít vốn. Em hạ quyết tâm bỏ cái nghề bị thiên hạ ném đá này.
Em phải có chồng. Em phải có nghề để cùng chồng nuôi con cái.
Em đã xin được giấy “Học viên trường dạy nghề cho kỹ nữ”.
Em sẽ trở thành người như mọi người.
Đôi môi em vẫn còn trinh, chưa hiến dâng cho ai”.
“Hôm ấy là ngày 17 tháng 2 năm 279
Em cầm tờ giấy nhập học đứng trước cổng Trường Dạy nghề cho kỹ nữ.
Lòng em nao nao. Rồi em sẽ có nghề kiếm tiền lương thiện. Sẽ có chồng, có con. Sẽ đổi đời”…
“Em chợt nghe có tiếng nổ râm ran ở khu chợ, ở bịnh viện, rồi ở trường học…
Pháo đốt mừng khai giảng khoá học sao? Mừng cho đời em sao?
Những tiếng nổ kinh thiên, động địa. Hoả pháo, thạch pháo, thần công phủ xuống chợ, xuống chùa, xuống bá tánh”…
“Từ chùa lớn, nhà hàng, khách sạn… do người Tào đã mua, đã xây dựng, quân Tào ẩn trong đó túa ra. Nhiều lắm, nhiều như ruồi bay ra từ đít trâu.
“Chúng chém giết dân lành không nương tay. Chúng tàn phá chùa chiền, nhà trẻ, lăng miếu, bịnh viện.
Em chạy, em chạy… trong kinh hoàng”…
“Lão nghệ sĩ tóc bạc, có lẽ là cựu binh của cuộc chiến trước, bất chấp nguy hiểm, cầm loa hô:
Hoảng sợ là chết hèn. Bà con hãy liều mình đánh đuổi quân xâm lược”…
“Em hăng máu tức, không chạy nữa. Em nhặt một con dao bửa củi. Một tay em cầm dao. Tay kia em vẫn còn giữ mảnh giấy gọi nhập học. Em xông về phía quân địch.
Máu kẻ thù đã chảy, mà máu em cũng đã rơi”…
“Một quả hoả pháo trúng vào người em. Em nghe tiếng nổ đinh tai, bể óc.
Thân thể em tan ra từng mảnh.
Tay em lìa khỏi thân vẫn còn cầm chặt giấy gọi nhập học.
Và, môi trinh của em vẫn còn tươi nguyên đến tận ngày nay.
Để kể lại câu chuyện này”.
*MỘ PHẦN CỦA NHỮNG NGỌN LỬA NHỎ
Nhân vật xưng Tôi.
Một ông thầy dạy văn, xa nhà và có làm thơ đăng báo.
Thầy là một bí mật đầy kêu gọi trong mắt các nữ sinh.
Vào đêm trước ngày về quê cho một kỳ hè, thầy đã đến nhà Tôi, và khi biết cha mẹ tôi không có nhà, trong một đêm cúp điện, thầy đã đốt từng que diêm để…
“Anh muốn ngồi nhìn mãi khuôn mặt của em.
Tôi khẽ nghiêng đầu né ánh mắt của thầy đang nhìn mắt tôi.
Thầy đốt tiếp diêm và thì thầm vào tai tôi:
“Khi anh nhìn thấy em cả thế giới như dừng lại. Anh không thể kiềm chế cảm xúc nữa. Anh muốn yêu em. Và cũng muốn em yêu anh”…
Rồi từng que, từng que thầy Ngư đốt hết hộp diêm.
“Không thể nào có ánh sáng trong đêm nữa. Lúc đó tôi cảm giác được bàn tay của thầy tìm tay tôi, tìm bờ vai trần của tôi.
Tôi nghe rất rõ hơi thở của thầy”…
“Sáng sớm hôm sau, khi tôi thức dậy, thầy đã đi rồi.
Chuyến xe ngựa xuống thị trấn lúc trời chưa sáng.
Tôi có nghe tiếng mỏi mệt, đều đặn của vó ngựa. Nhưng tôi không dậy, không tiễn thầy…
Tôi nhặt những mẩu thuốc hút, những que diêm đã cháy đen, tàn tro của những ngọn lửa đựng vào chiếc hộp diêm.
Tôi đóng lại, bỏ vào một cái hộp nhựa, gói kỹ lưỡng thêm một lớp bao nylon và cất trong ngăn hông của tủ thờ…
Mùa hè cuối cùng của tuổi trẻ tôi đã đi qua như vậy đó”…
“Chuyến xe ngựa cuối cùng của buổi chiều đầu thu oi bức đưa tôi trở về nhà nội.
Vẫn là chiếc xe ngày cũ. Vẫn là những bước chạy mệt mỏi, chậm đều. Lão xà ích nhìn tôi một lúc rồi nói:
Chắc cũng hơn mười năm cháu mới về lại quê nhà.
Tôi nói: Dạ. Rồi ngẩn ngơ nhìn những ngọn gió nối tiếp thổi cát bay mịt mù.
“Bà cô già nắm tay dắt tôi và thằng Cầm – con tôi – vào căn phòng ngày xưa. Cô nói: Con thắp nhang cho ông bà, người khuất mặt biết con đã trở về.
Cô nói tiếp:
Khi con đi, cô cất giữ những kỷ niệm của con trong tủ thờ”…
“Tôi mở tủ. Mấy cuốn vở ghi chép, có một cuốn lớp ba, cái huy hiệu Đoàn. Và chiếc hộp đựng tàn tro của những que diêm đêm ấy.
“Tôi mở vở ra coi. Những dòng chữ xấu xí, ngờ nghệch mà sao tôi thương quá.
Tôi đưa cho thằng Cầm. Nó nói:
Má viết xấu quắc. Rồi hỏi:
Cái hộp diêm đựng đồ chơi của má hồi nhỏ à?
Tôi nói:
Đó là ký ức của má lúc còn trẻ. Vui mà con. Đừng oán trách quá khứ, nhưng cũng đừng sai lầm lần thứ hai…
“Tôi dẫn thằng Cầm ra con rạch sau nhà. Nước từ rạch sẽ chảy vào sông, ra biển.
Tôi thả cái hộp diêm đựng tàn tro của những ngọn lửa nhỏ, của tuổi trẻ tôi xuống nước”.
Có bao nhiêu hộp-diêm-ký-ức đã được dòng nước thời gian mang đi…
Có bao nhiêu bí mật thời thiếu nữ đã được cất giấu sâu kín trong lòng mỗi người đàn bà…
Cho đến khi nó được thả xuôi dòng…
Với tôi, một độc giả, truyện ngắn này có vẻ như liên quan với câu chuyện thật của gia đình tác giả.
Một gia đình là nạn nhân của cuộc chuyển đổi táng tận sau 1975.
Gia đình ấy có ông nội là thầy giáo tiểu học, bác Hai và bác Ba là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa.
Mỗi khi họ từ nơi đồn trú về thăm nhà, ông nội biểu họ đừng đeo lon.
Cha thứ Tư nhưng dùng giấy tờ của chú Năm (mất sớm) nên tuổi nhỏ lại, không bị bắt quân dịch.
Chú Sáu là người sợ cầm súng, sợ phải bắn nhau với bà con. Chú trốn miết trong hầm, đọc sách cả ngày.
“Nhà có ba cái tủ thì hai tủ gương lớn chứa đầy sách. Quần áo cả nhà cất trong cái tủ gỗ nhỏ.
Sách còn để trong mấy cái rương lớn bằng ván ép, màu xanh…, sách học của anh em ba tôi xếp trên các giá sách, trên bàn”.
Ông nội quý trọng chữ đến độ chỉ đốt, không cho bỏ bất cứ trang giấy nào có chữ vào thùng rác, chỗ ô uế”…
Sau năm 1975, không chỉ người mà sách cũng trở thành nạn nhân.
Khi có lịnh tịch thu sách, ông nội tìm cách đối phó.
Ba tôi và chú Sáu chọn một số sách xếp vào rương, đem giấu dưới hầm. Một số được ông nội lựa riêng, đem cất trong tủ thờ.
“Những cuốn sách này là lời của tiền nhân, không thể đem giấu trong hầm là nơi không tôn nghiêm. Không thể giao sách để người ta huỷ hoại, chà đạp”.
Chờ tới đêm khuya, sách ấy bị đem đốt cùng với tất cả giấy tờ liên quan tới quân đội.
Chú Sáu để tang cho sách bằng một dải trắng trên đầu.
Ông nội thắp nhang lên bàn thờ. Ba người quỳ xuống vái lạy…
Chú Sáu khóc rống lên uất ức…
Rồi sách được đem xuống bếp, đốt từng quyển”…
“Vài hôm sau dân quân xã, thanh niên tự vệ và mấy em học sinh đeo khăn quàng đỏ đến tịch thu sách.
Sách của ông nội nộp nhiều đến nỗi chở ba xe ba gác không hết.
Tối hôm đó, ở trụ sở xã, họ đốt một sân đầy sách.
Mấy em thiếu niên gõ trống, thổi kèn trong tiếng loa kêu gọi mọi nhà đem sách ra giao nộp, thiêu huỷ”…
“Ông nội tôi bị nghỉ dạy, mất hết mọi khoản thu nhập khi chỉ còn vài năm nữa về hưu.
Bác Ba đồn trú ở Mỹ Tho, quê vợ. Bác học cải tạo tận ngoài Bắc, tám năm sau mới được thả về. Sau nhiều năm khắc nghiệt, gia đình bác đi Mỹ theo diện H.O.
Bác Hai là đại uý quân y, cải tạo chưa đến hai năm. Gia đình bên vợ bác ở Sài Gòn lo vàng cho bác vượt biên. Ghe chưa rời bãi đã bị nổ. Một phần di thể của bác Hai được tìm thấy trên bờ biển. Mấy năm sau, bác gái dẫn hai đứa con vượt biên bằng đường bộ, cư trú tại Mỹ.
“Ba tôi thất nghiệp nên vào An Giang quê má kiếm kế sinh nhai.
Trước ngày gia đình nhỏ của tôi ra đi, ông nội nói với ba tôi:
Nhà mình không có ruộng đất, tài sản gì. Chỉ còn hai rương sách, ba cho con một rương, giữ cái chữ để mà sống lương thiện”.
“Năm sau ba tôi về thăm nhà.
Bà nội tôi làm bánh, nấu chè gánh đi bán rong theo vỉa hè, ngõ xóm.
Chú Bảy, cô Tám, cô Út đã lớn. Sau giờ học, hai cô phụ làm bánh cùng bà nội.
“Đã quá lâu rồi ông nội không còn đọc sách, làm thơ nữa.
Chú Sáu đi làm công nhân trên vùng cao. Vài tháng lại được nghỉ năm, mười ngày.
Về nhà, cả ngày chú ở trong căn hầm trú ẩn.
Hình như chú không ngủ, viết suốt đêm”.
“Vài năm sau, chú Sáu mất. Tự tử bằng thuốc sốt rét.
Từ ngày chú Sáu mất, không ai xuống hầm nữa.
Bà nội gọi người đến tháo dỡ căn hầm.
Ông nội tôi không ngó ngàng đến sách”…
“Ba tôi giữ những cuốn giấy vở học trò đầy chữ viết của chú Sáu. Tôi đọc, nhớ có mấy câu:
“Hai bàn tay tôi cong như dấu hỏi
cấu cào vào trang sách
hỏi những con chữ: hạnh phúc ở nơi đâu”.
…….
Không hiểu sao, tôi vẫn thấy giữa tác giả Ái Điểu sinh năm 1980 và chú Sáu có một mối liên kết kỳ bí.
Có vẻ như chú Sáu không chết, chưa chết, chú đang sống trong đứa cháu, trong Ái Điểu, để viết tiếp những câu chuyện gia đình và xã hội miền nam…
Ái Điểu đang tiếp tục câu hỏi mà chú Sáu đặt ra:
“Hai bàn tay tôi cong như dấu hỏi
cấu cào vào trang sách
hỏi những con chữ: hạnh phúc ở nơi đâu”.
Tác giả không tự tử bằng thuốc sốt rét.
Không khóc than ủy mị cái chết của những người thân, của chữ…
Những truyện ngắn giờ không viết tay trên giấy học trò.
Được gõ từ bàn phím, thả tung lên các màn hình của mạng xã hội…
Để tôi và bạn cùng đọc…
Ái Điểu…
Chú Sáu…
Không Adieu…