Tản mạn văn chương (2)

Ghi chép của Trần Huy Quang

Hôm trước Hòa Vang có bốc cho một quẻ, trang nghiêm lắm, thắp hương lạy bốn phương trời, khấn vái một loạt thần linh rồi định bốc, tôi bảo để tớ bốc. Tôi bốc giơ lên đọc được quẻ 84. Hòa Vang xem đồng hồ nói 20 giờ 34 phút ngày 10 tháng 7 Nhâm Thân. Hòa Vang có cuốn sổ tay dày cộp ghi đặc chữ. Hắn giở sổ ra tìm quẻ 84 và vừa đọc vừa giảng giải. Quẻ ấy được cắt nghĩa như sau, Hòa Vang đọc. Chính vận là anh chi, là loài cỏ sáng. Thân chủ là người biết mình và cũng tự thắng được mình. Tuy nhiên sự tự biết nghe như giàu có hơn sự tự thắng.

Nhị hợp vận: thân chủ là người nửa ma nửa quỷ nhưng là người thật, bốp chát nhưng tốt. Không ai có thể gọi là xấu nhưng cũng rất ít người nhận ra là đẹp. Mà kì thực là đẹp.

Tôi hỏi cắt ngang, có thật không vậy? Hòa Vang chìa sổ ra, thì anh đọc đi, tôi có bịa đâu. Rồi hắn đọc tiếp.

Tam hợp vận 1: Đạt. Thân chủ đáng ra là người thành đạt nhưng gặp nghịch cảnh, nghịch cảnh biến thành hiểm họa. Chung cục là đạt, đạt theo lí tưởng Chân Thiện Mĩ mà thân chủ quan niệm.

Tam hợp vận 2: Toan – Bút. Toan có một nghĩa là dung môi, là môi trường, là điều kiện… Bút nghĩa là viết lách.

Như vậy thân chủ có chính vận là anh chi, nhị vận là chân thiện mĩ, tam hợp vận là đạt và toan, bút, đã diễn giải rồi. Sau đây là 8 quẻ cho thân chủ, mỗi quẻ một tháng rưỡi, tính từ ngày bắt 2 tháng 7 Nhâm Thân (là ngày ra báo) để thân chủ biết an nguy mà hành xử.

Quẻ một Thủy lôi độn ( 2/7 – 17/8)

Trời dông bão, không khí uất kết, thời cuộc sắp có biến, trạng thái ngột ngạt. Thân chủ ở vào thế có chút sống sót nhưng cũng nguy nan. Xảy chân lỡ bước gây nên thất bại lớn. Dịch gọi đây là một trong bốn quẻ khó khăn nhất, dễ nhập lao ngục. Mầm cây chờ tuyết tan, cảnh đời đòi hỏi sự kiên nhẫn chu đáo, tu dưỡng khả năng để qua thời kì này.

Quẻ hai Thiên địa bĩ ( 17/8 – 3/10)

Quẻ này cho biết thân chủ thất bại cay đắng, đường cùng nhưng không tắc.

Quẻ ba Hỏa lôi phế hạp (3/10 – 18/11)

Thân chủ như người đi đường gặp phải cầu gãy, dừng lại bờ sông thổi sáo.

Quẻ bốn Li vi hỏa (18/11 – 4/1 Quí Dậu)

Được hiểu như là nắng đầu mùa. Có thể hiểu thân chủ gặp khí thế ánh nắng mới. Li cũng là lửa. Lửa cần cho sự sống nhưng lửa cũng gần với hỏa tai.

Quẻ năm Thủy sơn kiệt (5/1 – 20/2)

Tư thế như trong băng giá, không kiềm tỏa mà như bị kiềm tỏa. Nên biết ứng BIẾN và tùy THỜI.

Quẻ sáu Thủy phong tĩnh ( 20/2 – 5/4)

Là cái giếng nước ngọt cho kẻ lữ hành. Là quẻ quí. Giếng nước được ví như mĩ đức nhưng phải chú ý: muốn có nước phải có gàu.

Quẻ bảy Tốn vi phong ( 5/4 – 20/5)

Con người cũng mong manh như chiếc lá.

Quẻ tám Càn vi thiên (20/5 – 5/7 Quí Dậu)

Rồng bay gặp gió chướng như gặp họa. Rơi xuống đất, không chết nhưng đất không phải là chỗ rồng bay lượn, rồng vào hãm địa nhưng vẫn là rồng.

Không biết đúng sai thế nào nhưng thấy hay hay, tôi liền ghi vào sổ tay xem sao. Rồi cũng xem từng tháng ứng với từng quẻ, quả thấy cũng đúng mới lạ.

Tôi có một người bạn, không dính gì vào văn chương, từng học Bách khoa giữa chừng bỏ, rồi từng học Tổng hợp toán ba năm cũng bỏ dở, giờ là chủ một xưởng cơ khí trong ngõ phố Hàng Bột, chuyên sản xuất khung xe đạp, là bạn chơi được. Cái thời mà từng đoàn lính đi B hồi hương, trên vai chỉ có cái khung xe đạp và con búp bê làm quà cho vợ con sau bao năm biền biệt không biết sống chết, đủ thấy cái khung xe đạp quí như thê nào. Thấy tôi mất việc anh nói mở cho tôi một quán rượu nho nhỏ ở ngõ nhà anh để tôi kiếm sống, nhưng quán rượu là nơi người say nói chuyện với người tỉnh, người tỉnh nói chuyện với người giả say mà tôi thì ở trong quẻ “Quan quỷ động”, tôi liền từ chối. Vài hôm sau, anh lại bảo anh cấp vốn cho mở một tiệm cầm đồ, địa điểm anh cũng lo cho nốt. Nghe cũng hay hay.

Hôm ấy anh và tôi trong quán cà phê phố Thông Phong nhìn thấy nhiều người đọc báo anh bấm tôi, bài của anh có người còn đọc lại kia kìa. Tôi nhìn sang thì thấy một ông già tay cầm kính lúp soi trên tờ Văn nghệ cũ, đã nhàu lắm, đang đọc bài Lời khai của bị can. Anh bạn doanh nghiệp bảo, nhờ bài báo ấy mà bao nhiêu người được trả lại nhà trong cái vụ Z30 đó. Nhà anh có bị trong vụ đó không, tôi hỏi. Không, anh nói, tôi không bị nhưng ông anh tôi bị nhưng được trả nhà rồi, được sản xuất lại rồi. Vụ ấy không phải chỉ riêng ông Chẩn được trả nhà, trả tài sản bị tịch thu, được trả lại danh dự mà rất nhiều người trong vụ ấy. Hà Nội nhiều lắm. Tài sản nhà cửa đã đành, nhưng nhất là được trả lại danh dự con người. Tôi làm cái khung xe, ghi đông, nan hoa, vành, từ các thùng phuy bỏ đi, từ phế liệu, toàn những thứ cần cho dân. Ông Chẩn thì làm lốp từ bãi cao su nhà máy thải ra. Không phải hàng quốc cấm, không buôn hàng lậu. Thế mà chính quyền cứ coi bọn thợ thủ công suốt ngày lấm lem dầu mỡ này là phạm pháp, phi pháp, phải kiểm tra kiểm soát, phải tịch thu, phải truy tố. Thấy công an phòng thuế vào là sợ lắm, thế nào cũng moi ra tội. Đống nhôm vụn này, đống sắt vụn này mua ở đâu, hóa đơn đâu. Mua của mấy bà đồng nát gom nhặt thì hóa đơn đâu hả giời? Tôi bảo, thôi chuyện ấy đau lòng quá, có mà kể cả năm. Bây giờ các ông cơ khí thủ công nghiệp Hà Nội được trả danh dự là hay lắm rồi, đi đâu làm gì không bị xã hội coi là làm ăn phi pháp, không phải lo thon thót khi gặp công an, thuế vụ, ngẩng cao đầu mà sống, mà làm ra của cải cho xã hội tiêu dùng là thắng một bước.

Anh có gia đình sống nhiều đời ở Hà Nội, ăn nói chừng mực, ít khi nói những điều bức xúc, vì muốn làm ăn yên ổn phải chiều nịnh quá nhiều cơ quan chức năng nên nhìn qua tưởng như người quá nhẫn nhục nhưng với tôi anh thực là người trượng nghĩa. Có một thời nó kì lạ vô cùng, dân đói ngơ đói ngẩn, xã hội thiếu hàng tiêu dùng, cái gì cũng thiếu nhưng dân ai sản xuất ra cái gì là cấm, thiết bị tịch thu, nguyên liệu tịch thu để một bãi cho tan nát dưới vài tháng mưa nắng.

Năm chiến tranh tôi có đóng quân ở xã Sơn Châu, một làng quê bên bờ sông Ngàn Phố, huyện Hương Sơn, ở trong nhà thầy hiệu trưởng trường làng. Thầy giáo cho đám lính chúng tôi ăn mía thoải mái, tôi hỏi nhà thầy trồng được nhiều mía không, sao không ép lấy mật. Thầy bảo thầy chỉ vỡ hoang một mảnh trên đồi trồng thử xem có hợp với mía không thôi. Năm sau, cũng dịp ấy tôi có việc trở lại đơn vị cũ và đến thăm nhà thầy giáo, kể lại chuyện ăn mía năm ngoái, thầy giáo bảo, năm nay không có mía, ban chủ nhiệm hợp tác xã không cho làm. Vì sao? Vì gia đình tôi giáo viên không ở trong hợp tác xã. Nay họ trồng gì? Không trồng gì, bỏ hoang… Câu chuyện ấy như trong xã hội kì quái, ám ảnh tôi mấy chục năm, kì quái, kì quái, kì quái không hiểu tôi kêu lên với ai.

Đang tiết Đại thử hàng cây phượng vĩ trên phố Lý Thường Kiệt chỉ còn lại vài cánh hoa chấm đỏ trên chót lá. Tôi về nói chuyện với vợ tôi, anh Đạt Hàng Bột có ý định giúp mình như thế, như thế, vợ tôi giãy nảy lên, cả hai việc chỉ có dân anh chị Hà Nội mới làm được nha, đừng động vào. Cô ấy nhà ở ngõ 2 phố Tây Sơn nhất định là biết những gì nên tránh. Thì đây là lĩnh vực anh ấy quen, anh ấy giúp được, mình lựa chọn mà. Vợ tôi bảo để em mua cho anh cái xe máy, đi xe ôm hoặc anh muốn đi đâu thì đi. Mua cái vừa vừa thì cũng đủ tiền. Thế là ngay hôm sau tôi có xe máy. Mấy hôm sau vợ tôi hỏi, đã đi được cuốc xe ôm nào chưa? Tôi bảo chưa, nhưng có xe đi đón con cũng thích, khi nào cũng vòng qua Bờ Hồ vài vòng rồi về nhà. Đấy, em nghĩ, đó là công việc có ý nghĩa nhất trong đời anh đó. Vợ tôi vừa nói vừa nhặt rau, nét mặt tỉnh bơ nhưng tôi nghe mà lặng người, câu nói băng quơ ấy làm tôi chết điếng.

Không lẽ tôi đi bộ đội gần chục năm, có huân chương, có bằng khen chiến đấu, chịu bom ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hành quân ngủ rừng, ăn rau tàu bay môn thục hàng tháng trong rừng Trường Sơn là vô nghĩa? Vô nghĩa với tôi hay vô nghĩa với ai? Tôi có rất nhiều bài báo tôi viết ngợi ca bao nhiêu công trình, bao nhiêu thành tựu, bao nhiêu chiến công cả nước, những anh hùng, những dũng sĩ nổ một quả mìn hàng trăm người bỏ mạng, nó có giá trị bao nhiêu, nó là gì nhỉ, không lẽ cũng vô nghĩa? Giờ thì nó tốt hay xấu? Những năm chiến trận của tôi và những ngày làm đường, lấp hố bom dưới mưa bom của Đinh Văn Thân, bạn tôi liệu có ý nghĩa gì với hai bà mẹ chúng tôi không? Tự nhiên, một loạt vấn đề mà hàng ngày phải đối diện, trong đó nhiều vấn đề tưởng như đã minh định, xác tín lâu lắm rồi, giờ không biết là gì nữa, nếu như vợ tôi không nói một câu bâng quơ.

Những bậc thang giá trị bắt đầu được sắp xếp lại theo từng chỗ đứng của từng lớp người, theo từng góc nhìn đa chiều, phong phú của con người xã hội chăng, nó có phải là qui luật mà ai muốn cũng không cản trở được chăng? Ông Chẩn cũng chỉ một việc sản xuất lốp xe đạp từ cao su phế thải mà khi thì bị can khi thì như một anh hùng. Anh Đạt cũng chỉ hàn khung xe đạp thế mà đang phi pháp lại trở thành hợp pháp. Có nhiều cái không còn phải nghi ngờ, thật lạ mà cũng thật hay. Cái “trở lại” bản nguyên này có vẻ tự nhiên hơn, là qui luật tự nhiên thì nó sẽ là tự nhiên.

Hữu Thỉnh bảo tôi không được đi đâu và thứ ba hàng tuần phải sang họp giao ban tòa soạn nhưng tôi nhớ thì đi, bận gì đó thì tặt lưỡi bỏ, tôi có gì mà phải họp, nghe phản ứng cũng đủ rồi. Có hôm không nhớ là ai bên báo, chuyển cho tôi một tập thư. Ba thư của thày giáo dạy văn trung học, xưng là học trò của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, bảo tôi ăn cháo đá bát, vô ơn với Bác với Đảng. Thư của một thầy giáo khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh lên lớp tôi về Chủ nghĩa Mác Lênin được cả loài người tin theo, chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, xóa bỏ bất công, giải phóng loài người, nước Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là tất yếu, có chủ nghĩa xã hội của Mác mới có nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vinh quang ngày nay. Nếu những kẻ nào còn nghi ngờ điều đó là kẻ bất nghĩa, bất trí, bất lương… Ba thư khác mỏng hơn là thư của các cụ lão thành cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh đòi cách chức Tổng biên tập và đuổi việc ngay tên nhà văn phản động đó. Một cái thư có lẽ lạc địa chỉ là báo cáo về số tiền quyên góp để cử đồng chí Hồ Viết Năng sang Liên Xô ám sát tên Gorbachôp, kẻ đã phản bội Lênin, phản bội Staline làm tan rã Liên bang Xô Viết. Thư này nhầm hay có ý cho tôi hiểu quyết tâm của các cụ như vậy.

Những thư này tôi là người đọc cuối cùng vì họ đã gửi cho Ban Văn hóa tư tưởng nhờ chuyển cho Hội Nhà văn, cho báo Văn nghệ và cuối cùng người không thể không nhận là tôi. Chiều muộn Lương Ngọc An sang nhà bảo, chú Thỉnh bảo chú thứ năm tuần tới sang họp tòa soạn tổng kết sáu tháng. Rồi Lương Ngọc An đưa cho mấy cái thư, nói mấy cái này cô Thắng bảo phải đưa cho Ban biên tập đọc trước, cháu bảo thư riêng của người ta, làm sao Ban biên tập bóc được, cháu cầm đi luôn. Lương Ngọc An thật hay. Một tuần nữa mới họp sao báo từ hôm nay? Hay Tổng biên tập Hữu Thỉnh kiểm tra xem tôi còn ở Hà Nội không? Hoặc quán xá hở mồm hở miệng gì không?

Tôi bóc cái thư của chú em tôi nhưng trong đó lại có thư của thầy tôi. Tôi chưa nói gì với ai trong quê. Chắc thầy mẹ tôi trong quê chưa biết gì, và việc này không đến tai các cụ thì ổn hơn. Nhưng mới nhìn vào dòng đầu, tôi đã phát hoảng.

Ông nói:

Chị Huệ, bố nó mắc tai nạn phải không? Con là người tinh tai tỏ mắt, sao lại để xảy ra cơ sự vậy? Nhà văn nhà báo là phải biết trông xa thấy rộng, biết phải trái thuận nghịch mà ứng xử vì đằng sau mình còn có bố mẹ vợ con, làng xóm quê hương. Vừa rồi có một anh công an mật vào nhà nói là ở xa nghe tiếng đến cắt thuốc, hỏi hết gia cảnh mọi người. Thầy không biết là công an đến điều tra nhưng bắt mạch thấy không có bệnh gì, nghĩ xa đến tất có việc bất thường nên thầy biếu một thang thuốc bổ toàn trọng vị về ngâm rượu. Nghe người ta phê phán chửi bới nhiều nhưng thầy chưa đọc bài viết của bố nó, nên thầy chưa thể nói điều gì. Nhưng người ta thường nói, nói đúng lúc hơn biết nói. Nói không đúng lúc hại mình là vô minh.

Thầy mẹ chỉ còn tin vào con, con biết sống làm sao trong tình thế nguy nan./.

Còn đây là thư của chú em.

Anh Quang,

Vừa rồi trong này nghe xôn xao dư luận, em không biết chuyện gì. Nhưng những lúc mà anh gặp khó khăn thì thầy mẹ và các em lại không ở được gần anh để ít ra cũng chia sẻ phần nào những rủi ro của anh. Em nghĩ những vui buồn của anh cũng là của mọi người trong gia đình ta. Vậy có gì mong anh biên cho em vài dòng. Sắp tới nếu được, mong anh về chơi nhà ít bữa, mẹ mong anh, cả nhà mong anh, chắc anh cũng hiểu. Anh là niềm vui của thầy mẹ và thầy mẹ và gia đình là tổ ấm cho những đứa con gặp lúc hoạn nạn, khổ đau.

Vừa rồi huyện triệu tập cán bộ xã thôn trong toàn huyện đến nghe ông Sơn Tung nói chuyện, trong đó có nói đến truyện ngắn của anh. Về nói chuyện đến hai lần. Điều đó chứng tỏ việc của anh cực kì căng thẳng. Cũng vừa rồi có chú công an về nhà ta thẩm tra, nói là nghe tiếng cụ lang Đính nên đến cắt thuốc. Ngồi nói chuyện rất lâu. Mấy hôm sau em tìm chú Bảng hỏi công an nói sao thì chú bảo anh ta nói là ông bà hiền lành, chắc có người đằng sau. Còn bên Ủy ban, đang ủy xã thì tui tình thực mà nói thội, o dượng đều có huân chương kháng chiến, xưa nay chỉ làm thầy thuốc bắc. Ngày xưa còn hiến cho kháng chiến mỗi năm một chiếc xe đạp…

Mấy việc ở nhà như thế, cũng hốt hoảng lắm.

Mong anh bình tĩnh và tỉnh táo, tốt nhất lúc này anh về bên thầy mẹ, nơi dễ lành vết thương và thầy mẹ cũng yên tâm.

Em, Thân.

Chú em tôi nói đúng, phải về nhà với bố mẹ, nơi ấy đất lành, những bàn tay lành che đỡ mình. Còn thầy tôi, chắc ông giận lắm, không một lời nào bảo tôi phải thế nào. Ngày tôi đi bộ đội, ông cũng chỉ lặng lẽ, chỉ có chị Ngân tôi nghe tin vội từ trên rừng về, ngồi nhìn tôi lúc lâu rồi bảo, cậu đi trận đừng chết, phải về với thầy mẹ. Tôi cười bảo, trận mạc làm sao biết được hả chị? Chị Ngân tôi chợt ôm mặt khóc nức nở mãi. Sau bảy năm, tôi mới ra khỏi đời lính, khi ấy thầy tôi mới bảo, anh còn sống là phúc nhà lắm rồi. Tôi không sợ anh chết vì bom đạn mà sợ anh chết vì tính bộc trực. Khi tôi học xong đại học, cụ bảo về nhà dạy học cũng được. Tôi bảo, con đi làm báo. Nghe thế, thày tôi im lặng lúc lâu rồi bảo, khi thầy ở Hà Nội, những năm ấy có vụ án văn chương gì đó dữ dội lắm. Không gì mung lung như án lời nói, án chữ nghĩa, cho nhẹ là nhẹ, mà cho nặng chết người cũng như không. Xưa người ta đã dặn, nước sông trong thì giặt giải mũ, nước sông đục thì rửa chân. Trí giả tùy thời là vậy… Tôi vừa đọc sách vừa nghe ông nói, ông cũng không để ý xem tôi có nghe hay không, ông nói như nói một mình…

Chắc đang ở trong giai đoạn điều tra, dĩ nhiên là vậy. Vài hôm trước Nguyễn Quốc Minh và Phạm Văn Ba đến nhà. Tôi hỏi, đến bắt à? Minh cười đi vào, cả ba ngồi pha trà uống nước. Nguyễn Quốc Minh và Phạm Văn Ba theo dõi Hội Nhà văn và báo Văn nghệ, chúng tôi cũng thường gặp nhau, và cùng người Nghệ nên gần gũi thân tình. Có lần cả nhóm gồm Nguyễn Quốc Minh, không nhớ có Phạm Văn Ba hay không, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thành Phong, Võ Văn Trực, Văn Như Cương, tôi và vài người nữa không nhớ lắm, ngồi quán rồi tiếp cà phê cà pháo đã hơn mười giờ, cả bọn còn kéo đến nhà Nguyễn Quốc Minh bắt lôi rượu ra uống tiếp…

Hai khách không đến chơi mà làm nhiệm vụ và tôi ngồi uống trà trên bộ bàn ghế tiếp khách rẻ tiền nhỏ bé mua ở phố Nguyễn Hữu Huân trong căn phòng chưa đầy hai mươi mét vuông của báo Độc lập, Đảng Dân chủ cho. Tôi không nói gì về chuyện của tôi, nói gì cũng vô nghĩa, Còn Minh và Ba cũng không hỏi gì về tôi, cần hỏi thì đã triệu tập, nên chúng tôi chỉ nói chuyện vu vơ. Chắc người ta cần xem xét gia cảnh tôi ở đây và trong quê có gì hơi hướng nước ngoài không.

Nhưng rồi hình như không chờ được tôi tự bạch, Quốc Minh hỏi, nhưng mà làm sao Hữu Thỉnh duyệt bài ấy được nhỉ? Tôi nói, Hữu Thỉnh vô tình, mấy hôm ấy vợ lão nằm viện, cấp cứu. Lão bị oan thôi, cũng vì tin ở Hữu Nhuận. Còn Hữu Nhuận là người tìm bài đưa lên, đọc vội vì thiếu bài, lấp chỗ trống. Họa sĩ chỉ đọc lướt, chộp lấy một chi tiết nào đó chỉ đủ minh họa, tất cả họ không có ý gì hết. Tất cả sai phạm là do tôi hết, họ vô tình, quá tin vào tôi. Lúc ấy làm sao tôi chỉ nghĩ là nếu bị thì một mình tôi chịu là tổn thất ít nhất, đó là tối ưu.

Trời đã bớt nắng, tôi đèo cu Tí, con trai tôi đi học thêm toán tận phố Đoàn Thị Điểm vừa về đến Trần Hưng Đạo thì gặp Hữu Nhuận định đến đưa cho tôi đọc Di cảo của Chế Lan Viên đang ồn ào dư luận. Di cảo làm tôi say mê, tôi vội chép mấy bài vào sổ tay theo thói quen.

TÌM ĐƯỜNG

Nửa thế kỉ tôi loay hoay

Kề miệng vực

Leo lên cái đỉnh tinh thần

Chất ngất

Theo các con đường ngoắt ngoéo chữ chi

Gãy gập

Mà đâu được gì?

Khi tôi cưỡi trên mây

Thì máu người rên dưới đất

Mẹ hỏi tôi:

Con lên trên đó mần chi?

Mẹ ở dưới này cơ cực

Về đi.

Ôi con đường không ra đường

Của kẻ tìm thơ

Cái thơ không ra thơ của kẻ tìm đường

Đã gần hết thời gian của tôi ở trên mặt đất

Mà tôi chưa có thể trả lời cho mẹ

Mẹ đâu biết cho rằng

Hoa tôi hái trên trời

Cũng chính là nước mắt

1988

AI? TÔI?

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?

Tôi! Tôi… người viết những câu thơ cổ võ

Ca ngợi người không tiếc mạng mình

Trong mọi cuộc xung phong

Một trong 30 người kia ở mặt trận về sau mười năm

Ngồi bán quán bên đường

Nuôi đàn con nhỏ

Quán treo huân chương đầy mọi cỡ

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ

Ai chịu trách nhiệm vậy?

Lại chính là tôi

Người lính cần một câu thơ

Giải đáp về đời

Tôi ú ớ

Người ấy nhắc những câu thơ

Tôi làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

1987

Hóa ra, à hóa ra, mọi người đều nghĩ vậy. Nhưng họ khôn khéo và mánh lới, ăn xong tiệc đã rồi nói, họ như người đi buôn, mình phải có lợi trước. Hữu Nhuận thật ý tứ, vô ngôn mà ý tứ cao khoát, thẳm sâu lẽ nhân sinh. Tranh thủ chép vài bài trong Di cảo để rồi trả cho Nhuận, vì sách đang làm nóng dư luận, mọi người cần đọc thì nghe tiếng gọi dưới vỉa hè.

Tôi ngó ra cửa sổ thấy cái đầu bóng mượt của Trịnh Đình Khôi, hỏi công hay tư? Khôi không nói gì, chắc biết tôi có nhà nên quay lại đi vào cổng. Đã đến giờ đi đón thằng bé, mà Trịnh Đình Khôi là nhân vật không phải bình thường, thôi thì để thằng bé đi bộ về. Khôi là chuyên viên trên vụ Văn hóa văn nghệ của Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, tức là đại diện cho Đảng chỉ đạo và theo dõi văn hóa văn nghệ. Hội nào Khôi theo dõi thì đều là hội viên của hội ấy, Hội Nhà văn, Hội Nhà báo, Hội Sân Khấu, Hội Điện ảnh, Hội Mĩ thuật, Hội Âm nhạc… Học Hán Nôm Đại học Tổng hơp, Khôi về Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương là nơi coi sóc tư tưởng, theo dõi mọi diễn biến phần hồn của văn nghệ sĩ, là nơi nhiều hứa hẹn vào Trung ương, và trước quan lộ này người ta thường biểu lộ sự trung thành bằng những đề xuất nhiều biện pháp rất cứng với những hoài nghi, thậm chí chỉ là lập lờ trong tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật. Khôi rất mẫn cán, tất nhiên phải thế, họp hành to nhỏ gì bên Hội hay báo Văn nghệ Khôi đều dự, theo dõi rất sát sao. Mọi vụ việc của Hội hắn báo cáo lên trên, trên căn cứ vào đó xử lí.

Vào, Khôi nói, sao lại hỏi công hay tư? Tôi đến thăm ông… Dĩ nhiên Khôi phải mềm như vậy rồi Khôi thao thao.

“Tôi là người rất hiểu ông, khi đất nước lâm nguy, chúng ta từng là lính ở nơi bom đạn nguy hiểm chứ đâu được ngồi giảng đường. Ông đã có những tác phẩm được giải viết về người lính. Tôi nói rất trung thực, vì tôi và ông đều là lính chiến trường. Nhưng không thiếu gì người lên án kết tội ông nhưng tôi thì không nha, tôi đã viết báo cáo bảo vệ ông.”

“Ông nói thế nào chứ ông mà bảo vệ tôi thì hóa ra ông cũng quan điểm như tôi. Ông muốn toi à, đéo tin được”.

“Tôi viết trong chúng ta, các nhà văn chúng ta rất nhiều người nghĩ như Trần Huy Quang nhưng khôn không nói ra thôi, nói như thế là đỡ cho ông nhiều chưa? Nhưng võ của ông bị lộ, chưa thâm hậu”.

“Tôi không tin ông viết như thế trong báo cáo mặc dù người ta cũng đọc thấy nhiều cay đắng trong Di cảo của cụ Chế đây”.

Trịnh Đình Khôi rút trong cặp tập giấy đánh máy đưa cho tôi, “BÁO CÁO VÀI NÉT XUNG QUANH VIỆC XỬ LÍ TRUYỆN NGẮN LINH NGHIỆM TRÊN BÁO VĂN NGHỆ”. Quả là báo cáo Khôi viết thật. Trong khi Khôi bị hút vào Di cảo thì tôi cũng tranh thủ ghi được một phần báo cáo của Khôi như sau:

“……..

Trước hết là cơ quan tuần báo, với tư cách là đương sự đã tiến hành một loạt cuộc họp để đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm và đưa ra hướng xử lí.

Tối ngày 14/7/1992 ban chi ủy của chi bộ tòa soạn hội ý gấp. Đồng chí Hữu Thỉnh với tư cách là Đảng ủy viên của đảng ủy Hội Nhà văn đã dự. Cuộc hội ý đã thông báo sơ bộ về phản ánh của dư luận và ý kiến đánh giá của các cấp về Linh nghiệm. Cuộc hội ý đã nhận định:

- Mức độ sai lầm là nghiêm trọng.

- Ảnh hưởng của Linh nghiệm đối với dư luận là xấu gây nên sự phẫn nộ trong bạn đọc và làm giảm uy tín của tờ báo.

- Chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến sai lầm, trách nhiệm Ban biên tập, Tổng và các Phó tổng biên tập, Thư kí tòa soạn và bản thân tác giả.

- Đề ra yêu cầu và biện pháp xử lí phải: thấy rõ mức độ sai phạm, tránh tranh công đổ lỗi, chia rẽ nội bộ, đấu tranh với biểu hiện cơ hội, tiến tới củng cố tờ báo.

Sáng 16/7/1992 chi bộ báo họp gồm 14 đảng viên. Chi bộ báo đã nghiêm khắc phê phán truyện Linh nghiệm, chỉ rõ sự sai phạm của tác giả và trách nhiệm của đảng viên liên quan, quyết định buổi chiều họp toàn thể công nhân viên chức.

Chiều ngày 16/7 họp toàn cơ quan nhất trí phê phán sai phạm nghiêm trọng của tác giả và các đồng chí liên quan đã nghiêm khắc tự phê phán kiểm điểm.

Ngày 20/7 đồng chí Tổng thư kí Hội Vũ Tú Nam làm việc với Tổng biên tập báo.

Tối ngày 20/ 7, Ban biên tập và chi ủy lại họp tiếp, đánh giá lại tinh thần các cuộc họp, tiếp thu ý kiến của cấp trên, xác định mức độ kỉ luật.

Ngày 22/7 họp toàn thể cơ quan báo Văn nghệ lần thứ hai. Thông báo dư luận xã hội đối với Linh nghiệm, kiểm điểm và nói rõ tác hại, hậu quả. Những đương sự đọc bản tự kiểm điểm, xác định mức độ kỉ luật để náo cáo lên trên. Ban biên tập đề nghị kỉ luật:

Cảnh cáo toàn Ban biên tập báo.

Cảnh cáo Tổng biên tập

Cảnh cáo tác giả, đình chỉ công tác biên tập, không xuất hiện trên báo Văn nghệ một năm, từ chức chi hội trưởng chi hội nhà báo, kéo dài thời hạn nâng lương một năm.

Toàn cơ quan tham gia ý kiến, và biểu quyết nhất trí với mức độ kỉ luật trên.

Tổng biên tập tuyên bố đình chỉ công tác biên tập viên kể từ ngày hôm nay và không để tác giả xuất hiện trên báo với bất cứ bút danh nào. Tổng biên tập cũng đề nghị xem xét nghiêm khắc vấn đề và sẵn sàng nhận bất cứ hình thức kỉ luật nào. Trong khi chờ quyết định của trên, Ban biên tập quyết tâm làm tốt mọi công việc để khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm mà tờ báo đã đạt được trong thời gian qua.

Về phía Hội Nhà văn.

Ban Chấp hành đã lắng nghe dư luận xã hội và phản ứng của bạn đọc, đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo việc kiểm điểm sai lầm trên tinh thần tự giác nghiêm khắc. Ban Chấp hành đã họp nghiêm khắc rút kinh nghiệm về việc lãnh đạo tờ báo, gọi điện thống nhất với các ủy viên phía nam, đã đi đến kết luận về cơ bản đồng ý với kiểm điểm và tự nhận kỉ luật của Ban biên tập báo. Riêng đồng chí Trần Huy Quang, Ban Chấp hành thống nhất cấm xuất hiện trên các ấn phẩm của Hội.

Sau khi theo dõi tình hình, xin đề xuất một vài kiến nghị:

- Trước hết phải xác định đây là một sai sót nghiêm trọng của tác giả. Ý định chủ quan của Trần Huy Quang cần được thảo luận và xem xét thỏa đáng nhưng ý nghĩa khách quan của tác phẩm là có hại, đương nhiên tác giả phải gánh chịu. Cần phải giúp tác giả về mặt nhận thức tư tưởng vì không phải ngẫu nhiên mà viết một truyện ngắn mang ý nghĩa hoài nghi con đường chúng ta đang đi.

Tuy nhiên đối với tác giả cần có đánh giá đúng mức cả về quá trình. Đây là một chiến sĩ quân đội trải qua chiến đấu ở chiến trường B, được đào tạo ở trường đại học, đã có nhiều tác phẩm tốt, có những suy nghĩ trăn trở trước thời cuộc, bức xúc trước những bất công xã hội. Do đó cần có thái độ xử lí nghiêm túc, có lí có tình, có trước có sau, giúp tác giả tiếp tục công việc sáng tạo của mình, tránh thành kiến.

- Về báo Văn nghệ, cần nghiêm khắc kiểm điểm, coi đây là sai phạm nghiêm trọng Ban biên tập và Tổng biên tập phải chịu trách nhiệm. Nhưng vụ việc cũng cần xem xét ở nhiều góc độ để xử lí cho đúng. Việc này có ý thức hay vô thức, do nhận thức hay thiếu mẫn cảm, do vội vã hay luộm thuộm trong quá trình làm báo?

Vân vân…”

Tôi nói với Khôi, ông viết trung thực và chỗ nói về tôi là khách quan, tôi cám ơn ông. Khôi giật lấy bản báo cáo vẻ không bằng lòng, rồi bảo, rõ ràng là tôi bênh ông, ông có nghe những người cùng quê với ông trên Ban nói mới khủng khiếp chứ không như tôi đâu. Ông cho tôi bản này chứ, tôi hỏi. Không được, giờ chưa được, lộ ra người ta bảo tôi không khách quan. Tôi cười, cũng chẳng cần, đã ghi được một ít. Rồi Khôi trước khi về, đưa cho tôi đến bốn, năm cái truyện ngắn của Khôi nhờ tôi sửa chữa, he he, có thế chứ không tự nhiên đâu hắn lại mang báo cáo “tác giả là người chiến sĩ quân đội từng chiến đấu ở chiến trường B, có nhiều tác phẩm tốt” nói cho mình biết.

Trần Quốc Thực lặng lẽ trong báo Văn nghệ, người đã gầy nhom, nhỏ thó lại cứ thu mình lại, cuối cùng anh như cái bóng, ngồi thường trực mà khách vào ra cứ coi như không có anh. Thế mà một lần bên quán cà phê của vợ chồng Thực, đối diện cổng báo Văn nghệ, Trần Quốc Thực được mấy cộng tác viên đưa ra thắc mắc tại sao Thực dạo này có người cho cả tút thốc lá, có người cho chè Thái. Thực ngồi canh tôi, nghe thế chỉ cười cười, ngó sang tôi, như không phải chuyện của mình. Khi ra ngoài vỉa hè, Thực mới bảo với tôi, không biết tin có đúng không, em nghe nói Ban biên tập không để anh biên tập hay làm phóng viên nữa mà làm thường trực thay em. Tôi hỏi nghe đâu vậy, anh chưa thấy Hữu Thỉnh nói gì. Thực lại nói, hay là thời gian này anh nghỉ, anh em mình đi Hà Tĩnh xác minh để đề nghị liệt sĩ cho anh em. Tôi nợ Trần Quốc Thực chuyến đi này vì đã bàn nhau lâu rồi và vì tôi là hội viên cũ Hội Văn nghệ Hà Tĩnh, có biết anh trai Thực.

Thực có anh trai là Trần Quốc Anh, giáo viên dạy học ở Hà Tĩnh, hội viên thơ Hội Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh. Nhân một ngày chủ nhật năm chiến tranh, mấy nhà thơ rủ nhau ra trận địa pháo tiếp đạn chiến đấu để lấy chất liệu làm thơ, không may Trần Quốc Anh bị một mảnh rocket hi sinh ngay ở trận địa. Những nhà thơ cùng đi đề nghị làm chế độ cho Trần Quốc Anh nhưng hồi ấy vướng nguyên tắc là nhà trường không cử, Hội Văn nghệ không cử đi tham gia chiến đấu, nên nhà thơ Trần Quốc Anh chỉ như bị bom, không được công nhận là liệt sĩ hi sinh khi tham gia chiến đấu.

Tôi biết chuyện ấy là vì năm ấy tôi an dưỡng ở Hương Sơn, thấy tạp chí Sông La in lại của tôi mấy truyện ngắn lấy ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi xuống xã Thạch Linh, nơi Hội Văn nghệ Hà Tĩnh sơ tán chơi, làm quen thì được mời luôn đi dự trại viết một tháng của Hội. Tôi có cơ may được quen một số bạn mới khác môi trường quân đội của tôi, như bác Thanh Minh Chủ tịch, anh Thái Kim Đỉnh, anh Chính Tâm phụ trách tạp chí, anh Lê Trần Sửu, hai anh Tuấn, Trần Quốc Anh, anh Minh, anh Xuân Hoài, chị Thược chị Nga… Khoảng hè năm sau, Hội Văn nghệ Hà Tĩnh, công bố giải thưởng của Hội, Nguyễn Trọng Tạo giải A thơ, Trần Huy Quang giải A văn xuôi, cả hai đều lính đóng quân ở Hương Sơn, một huyện phía tây Hà Tĩnh. Nguyễn Trọng Tạo vắng mặt, bận không đến nhận giải, ngày ấy tôi cũng chưa biết Tạo. Rồi tôi cũng tình cờ gặp Tạo ở tạp chí Sông La, rủ nhau đi viết về Đồng Lộc, một ngã ba không còn hình thù con đường. Cũng chỉ đi với nhau được một lần, đứng trước ngã ba đường chỉ thấy như một bãi lầy trong cơn mưa bụi mà bên dưới nó phải đầy mảnh bom và bom bi chưa nổ. Rồi cùng nhau bùi ngùi nghiêng mình trước mười nấm mộ tà tà nhỏ nhoi, nằm bên sườn đồi, cạnh đường, tấm bia xi măng khắc tên mười cô gái hi sinh cũng bị bom vỡ… Mấy năm sau Nguyễn Trọng Tạo có trường ca Con đường của những vì sao (1977), tôi muộn hơn, tiểu thuyết Ngọn khói (1985), nhà xuất bản Quân đội tái bản đổi thành Những cô gái Đồng Lộc (1997), giải B Giải thưởng Hội Nhà văn 1998.

Những kỉ niệm buổi đầu thật đẹp…

Tuy nhiên kế hoạch Thực và tôi bàn nhau có khi không thể thực hiện được và thực sự sau này tác giả Tháp cúc cũng không hoàn thành được tâm nguyện của mình với người anh trai nhà thơ nhà giáo Trần Quốc Anh, người đã tự nguyện ra trận và nhận một cái chết đẹp ngay giữa trận chiến căng thẳng của trận địa pháo phòng không.

Họp sơ kết sáu tháng đầu năm mà Ban biên tập đã báo cho tôi trước hàng tuần phải là rất nghiêm trọng, và cả quan trọng, sẽ điểm lại những tác hại, những phản ứng của xã hội để chứng tỏ sự nghiêm khắc tự nghiệm của tòa soạn. Tôi cũng tự hiểu lẽ mất còn của mọi người và của mình, đây là thời gian trong quẻ “Thiên địa bĩ” cái gì cũng có thể xảy ra. Tôi sang tòa soạn với sự bình thản, biết cái gì xảy ra cũng thế thôi, vợ tôi đã chuẩn bị cho tôi chuyển nghề rồi, làm vẻ xụi rụi, khổ nhục kế để người ta nương tay, không làm được, mặc kệ đi. Vả lại, quần áo giả trang được, nghèo khổ giả trang được, giàu có giả trang được, nhưng cốt cách không ai giả trang được. Qua cái lớp mặt nạ diễn như thần rồi ai thế nào thì cứ như thế ấy. Hình như Vũ Cao có nói, ai khi trẻ thế nào thì về già vẫn vậy, không thay đổi. Có lẽ chí lí.

Năm nào đó đã lâu, mình có viết một cái tản văn Con cáo và cái đuôi kể về chuyện con cáo Jupiter. Mấy phù thủy đã dày công biến một con cáo Jupiter thành môt cô công chúa, dạy và trang bị cho đủ cầm kì thi họa cùng với nhan sắc, phong thái quyền quí, từ ánh mắt đến cử chỉ nhỏ hoàn toàn quí tộc. Nàng như một Nữ hoàng đài các, lộng lẫy ở giữa sự chào đón ngưỡng mộ của đám chính khách, công tử thuộc giới quý tộc tinh hoa. Thấy nàng nhảy múa thật đẹp nhưng nàng thật sự đã hoàn toàn biến đổi chưa, hoàn toàn là chất quí tộc chưa? Có còn lại chút gì cáo mèo, lưu manh, hạ tiện lưu lại trong hồn, trong tâm khảm nàng không? Bọn phù thủy bèn nghĩ ra một phép thử để yên tâm giao nàng cho xã hội thượng lưu cầm quyền.

Phép thử ấy là một con chuột, khi con chuột chạy ra, trong nháy mắt nàng công chúa đã vồ ngay được con chuột và nhai ngấu nghiến… Bọn phù thủy trắng mắt nhìn nhau. Công cuộc cải tạo và bồi dưỡng, khẳng định không thành công, thất bại thảm hại, chỉ biến đổi được bề ngoài, da dẻ, quần áo, diễn được một vai nào đó, trong vở diễn nào đó, khi không có chuột hoặc nếu không có chuột. Thì ra chất cáo, cốt cách cáo không dễ gì biến đổi qua một cuộc biến động xã hội ngắn ngủi hay thậm chí qua một cuộc bầu bán riêng rẽ mà Cáo liền trở thành Công chúa hay Nữ hoàng cao sang quyền quí được. Chỉ là ảo tưởng, thấy miếng ăn các vị quí tộc tân trang kia liền lộ nguyên hình. Thực tế hiện giờ chứng minh, những chính khách thượng thư, tướng tá cỡ bự ra tòa khóc sướt mướt đều vì tội trộm cắp, giới tinh hoa ra tòa lại vì tội khác quan điểm chính trị hoặc vì chữ nghĩa.

Lại gặp Thạch Quỳ ở cổng. Tối qua Thạch Quỳ đến chơi, không biết sợ, hình như cả mấy người trong Hội Nghệ An ra họp gì đó hoặc định ra tờ gì đó chỗ nhà xuất bản Giao thông vân tải, nghe láng máng thế. Đang khề khà thì Thạch Quỳ bị Xuân Hoài tra xem ở đâu. Thạch Quỳ nghe Xuân Hoài nói gì đó, cười vang rồi nói tôi đang ở báo Văn nghệ, ừ rõ ràng là phức tạp lắm, ông đừng đến, tôi đến vì tôi vốn phức tạp. Ha ha Thạch Quỳ là Thạch Quỳ, “Con ơi con, trái đất thì tròn /Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật/ Tất cả đều là sự thật/ Nhưng cái bánh đa tròn, điều đó thật hơn”. Nghe tôi đọc thơ hắn xong, hắn triết lí hay an ủi tôi, cũng không biết nữa, đời đừng nhạt nhẽo quá, đôi lúc phải có chút dông tố, bão bùng mới là cuộc đời. Cứ thế khi thơ, khi triết luận, khi chủ khi khách, đến nửa đêm tôi lại phải đưa Thạch Quỳ đến khách sạn mà Xuân Hoài đang ở đó.

Thạch Quỳ đang nói chuyện với Võ Thanh An, tôi di qua không chào hỏi ai, định hẹn Thách Quỳ trưa đi ăn cơm nhưng thôi. Lên gác hai, đã thấy đông đủ quan khách. Phòng họp của báo ngày đó hơi chật. Hàng ghế sát bàn dài là quan khách ngồi, phía bên trong là Vũ Tú Nam, Hữu Mai, Từ Sơn, Chính Hữu, Thiếu Mai, Ngô Vĩnh Viễn… Hàng bên này là Tuyết Mai, Trịnh Đình Khôi, Quốc Minh, Hoàng Minh Châu, Võ Văn Trực, Triều Dương. Ba hàng ghế sát tường là người trong tòa soạn, còn một dãy ghế nữa kê ngoài hành lang. Tôi ngồi hàng ghế sau, cạnh cửa ra vào, tức là đã chọn một nơi không ẩn khuất quá, mà cũng không gần với quan khách để xứng đáng với vị trí đương sự, không như thách thức ai mà cũng không thể giun dế quá.

Lâu mới thấy Ngô Ngọc Bội và Hoàng Minh Tường, ban Văn vì Linh nghiệm tan tác hết. Hữu Thỉnh phải đưa Hồng Phi đọc văn xuôi, thỉnh thoảng hỏi tôi về các tác giả mới như Trần Văn Thước, Vân Hạ hoặc Mỹ Nữ. Nghe anh Võ Văn Trực nói lại, trong cuộc họp chi bộ Ngô Ngọc Bội đề nghị không để cho bọn ngoài đảng làm biên tập, sơ suất là chúng bán cả đảng, bán cả tờ báo… Thiếu Mai ngồi cách tôi mấy người, tôi không chào ai. Tôi chưa nghe ai nói chuyện này, thế mà có hôm chị thanh minh với tôi là chị không hề nói “Thằng Thỉnh tin thằng Quang cho lắm vào, nay nó cho một vố”. Câu này quả là tôi chưa nghe nhưng giọng lưỡi thì đúng, không ai khác. Rồi bảo, viết lách phải cẩn thận em ạ. Tờ báo của Hội, của mọi người, của Đảng chứ đâu phải của một người mà viết thế nào cũng được. Muốn viết gì cũng được thì chờ mà mở một tờ báo tư nhân. Tôi vâng dạ ríu rít nhưng cũng đã nghe điều này hai lần khi chị nói trong hai cuộc họp cơ quan rồi.

Tôi ngồi được dăm phút, nghiêm chỉnh chờ đợi, cuộc họp sắp sửa bắt đầu. Nhà văn Hữu Mai ngồi cạnh Tổng thư kí Vũ Tú Nam, cách xa với hàng ghế tôi ngồi, chợt ông đứng dậy, lách qua Vũ Tú Nam, qua Hữu Thỉnh, qua hàng ghế bên cạnh Hữu Thỉnh, đến trước mặt tôi, chìa tay ra. Tôi bất ngờ luống cuống đứng dậy hai tay nắm chặt lấy tay ông. Dĩ nhiên, thái độ của nhà văn Hữu Mai gây bất ngờ cho cả cuộc họp, nhất là với Từ Sơn, Tuyết Mai, Thiếu Mai, Triều Dương, không biết ông có chọn thời điểm không. Chỉ thế thôi, không nói gì và ông đi về chỗ ngồi, vừa lúc Hữu Thỉnh đứng lên bắt đầu cuộc họp.

Đây là một Thái Độ của một nhà văn Quân đội, nhà văn tiền bối, một người Anh, công khai, đàng hoàng trước quan khách, trong một thời điểm nghiêm túc và quan trọng, trước ánh mắt của tất cả mọi người, đối với tôi, một người đang bị qui kết, một đương sự trong cuộc họp này. Là thái độ của riêng nhà văn Hữu Mai, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn đối với nhà văn tác giả truyện Linh nghiệm mà theo anh, truyện cũng chỉ nói về sự hư vô của cuộc đời. Chỉ thế thôi, cái bắt tay của Anh trước thiên hạ, không lời, mà đầy sức nặng của lòng thương người, mà chói sáng, cao khoát và thuyết phục hơn mọi lí thuyết hoặc kinh thư nào.

Tổng biên tập Hữu Thỉnh đứng lên thưa gửi trịnh trọng vô cùng hết thảy quan khách có mặt rồi đọc Báo cáo sơ kết sáu tháng của báo Văn nghệ. Thơ chất lượng lên, cán bộ công nhân viên trong cơ quan đoàn kết một lòng vượt qua khó khăn. Báo vẫn có lãi và nộp lãi đầy đủ… Nhưng truyện Linh nghiệm là một sai sót cực kì lớn của chúng ta, trong quản lí, trong cách điều hành, cung cách làm việc của một tờ báo mà những tên tuổi vĩ đại trước đây đã góp phần xây dựng nên một truyền thống vẻ vang dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Nó thể hiện cái nhìn méo mó, tư tưởng hoang mang, lập trường thiếu kiên định của nhà văn Trần Huy Quang…

Đại để là về tất cả mọi mặt cực kì sai lầm, gây tác hại vô cùng lớn… Hữu Thỉnh nói dài đến một tiếng đồng hồ. Rồi cuối cùng chắp tay cúi đầu xin lỗi anh Nam, xin lỗi các anh, các chị…

Không khí cuộc họp vẫn rất trang nghiêm, mà không trang nghiêm sao được trước một bài diễn văn lâm li, chân thành, nghiêm khắc, thiết tha và tâm huyết gan ruột như vậy. Tôi nghĩ sẽ có người khóc nhưng không nghe tiếng thút thít nào.

Tổng thư kí Vũ Tú Nam trong sự chờ đợi của mọi người, nói: “Tờ báo Văn nghệ có tiêu đề “Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” như một mục tiêu bất di bất dịch từ khi thành lập cho đến ngày nay. Các thế hệ nhà văn tiền bối từ trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù từng đổ nhiều xương máu dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ cũng vì cái mục tiêu nêu lên trên tờ báo này. Thế mà chúng ta đã để lọt truyện ngắn Linh nghiệm là một sai phạm to lớn làm tổn hai đến tiêu chí mà chúng ta phấn đấu, chiến đấu gần nửa thế kỉ nay. Nó không những gây tổn hại đến uy tín của Hôi Nhà văn, của báo Văn nghệ trong lòng người đọc mà còn tổn hại đến niềm tin của người đọc vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn. Đài BBC nói truyện ngắn Linh nghiệm của nhà văn Trần Huy Quang góp phần với Đông Âu hạ bệ thần tượng. Tình hình rất nghiêm trọng, cực kì nghiêm trọng các đồng chí ạ.

Tôi vừa nhận được một loạt thư của các đồng chí lão thành cách mạng về hưu. Có môt đồng chí ủy viên Trung ương nói, dù là truyện Linh nghiệm có phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa nhưng một cái truyện ngắn ấy cũng không thể làm cho chúng ta chệch hướng đi được. Một nhận định hết sức chính xác, nhân dân Việt Nam đã theo Đảng qua bao gian lao thử thách không dễ gì lung lay được. Dù thế nhưng nó vẫn gây hoang mang cho mọi người. Hiện nay người ta chụp ra để đọc, để bán, lưu truyền từ người này sang người khác, nhất là trong giới sinh viên trí thức thành thị. Sự tác hại không biết như thế nào mà lường. Đồng chí Thỉnh phải tỉnh táo, lo kinh tế đời sống cho cơ quan nhưng đọc duyệt phải tỉnh táo, đồng chí Quang chưa xét được. Còn phải chờ phản ứng của nhân dân như thế nào”.

Vũ Tú Nam ngồi xuống thì nhà phê bình văn học Từ Sơn đứng dậy. To cao lừng lững, ông là con trai nhà văn Hoài Thanh, tôi nhớ đến cuốn Thi nhân Việt Nam hồi học cấp 3, tôi phải chép tay và Đinh Văn Thân bạn tôi, thì thuộc làu làu cuốn ấy. Từ Sơn nói, chắc phang mạnh vì tôi nhớ Trịnh Đình Khôi nói là khủng khiếp.

“Báo Văn nghệ được người ta ưa, mến mộ, các tỉnh thì sợ, sợ thật đấy. Nhưng bây giờ có tội rồi người ta không sợ nữa. Đấy là cái thua thiệt, tổn thất. Tờ báo từng có nhiều cuộc tranh luận trao đổi học thuật rất đáng chú ý và khuyến khích. Đăng nhiều ý kiến, trái chiều thuận chiều, dân chủ công khai rất hay, rất khoa học nhưng không có tổng kết, không có kết luận, tờ báo chưa có chủ kiến. Dân chủ, công khai, nhưng phải có chủ kiến chứ, đó mới là khoa học. Tôi sợ sau Linh nghiệm báo Văn nghệ sẽ nhạt lắm, đó mới là đáng lo. Quá an toàn thì mất bạn đọc. Cái khó là không được sai nhưng phải hay, hay, anh Thỉnh ạ, đó mới là thử thách.”

Vũ Tú Nam nói thêm, trong các nhà văn chúng ta, cũng nhiều ngưới nói, cái lá cờ rách quá rồi, phải vá hoặc phải thay cờ mới. Nhưng đó là nói chứ không ai dám viết ra.

Nhà văn Hữu Mai: Sự việc đã rồi, sai cũng đã sai rồi, cái chính là chúng ta phải khắc phục, chứ tôi rất sợ, sau Linh nghiệm các anh lại tròn vo, nhạt hoét thì báo Văn nghệ chỉ còn độ 500 tờ. Lúc này các nhà văn các hội viên, ai có gì nên đóng góp cho tờ báo, giữ cho được phong độ. Là tờ báo của hội viên, lúc khó khăn này là lúc cần tấm lòng của mọi người.

Tuyết Mai, cán bộ vụ Báo chí, bộ Văn hóa, là tiếng nói của cơ quan quản lí nhà nước về báo chí, cực kí quan trọng nhưng không hiểu sao tôi không mấy để ý đến ý kiến của người này. Bà nói từ cái bài kí của Trần Ninh Hồ, không ai nhớ và cũng không biết in vài số nào rồi nói đến báo Văn nghệ số 27, là biểu hiện sự mất niềm tin, không phải chỉ một truyện, một tác phẩm, nó thể hiện trên cả số báo kỉ niệm Ngày thành lập Hội Nhà văn Việt Nam. Gã con trời là nói đến anh Thân Trung Hiếu. Vụ việc của anh Thân Trung Hiếu đã xong rồi, giải quyết rồi, sai lầm hay khuyết điểm gì cũng giải quyết xong rồi, không nên báo nào cũng nói lại nữa. Người báo chế thuốc giảm đau nói gì? Ai đau? Không lẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác, đất nước thống nhất liền một dải, thế giới ca ngợi chúng ta là đau? Chỉ có đứng về phía phản động, đé quốc, thất bại, là phải bỏ chạy, kẻ đổ nhào mới đau chứ? Không lẽ chúng ta đau. Giảm đau là gì đây, ai bào chế? Bào chế ở đâu, ở Mĩ à…

Bà tiếp nữa, tiếp tục phân tích những tác hại của riêng Linh nghiệm một chặp nữa mới dừng. Nghe xong mọi người lặng đi, chắc không phải vì sự phân tích những tác hại bà đay đi đay lại mà vì không ngờ vị quản lí báo chí của Bộ lại hiểu một tác phẩm hư cấu thành ra một bài báo. Ai biết Thân Trung Hiếu là ông nào, và nếu có giải quyết xong rồi hay chưa giải quyết thì cũng không phải việc của văn chương. Không phải cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc kháng chiến chống Mĩ xong rồi, thắng thua phân định rồi mà văn chương thôi không viết nữa? Bà ta là hiện thân một nghịch lí, một nghịch lí tỏ ra mạnh mẽ và đầy quyền uy.

Võ Văn Trực định đứng dậy nhưng thấy Hoàng Minh Châu cũng đứng lên nên thôi. Hoàng Minh Châu nói như tổng kết cuộc họp, hùng hồn, bao quát, tự tin, nên rút kinh nghiệm này khác, anh Tô gọi điện cho tôi hỏi, Hoàng Minh Châu có ở đó không mà để xảy ra chuyện ấy? Tôi đã xin lỗi anh Tô, thưa với anh Tô rằng tôi là người chiến sĩ Cộng sản, là một nhà thơ Cộng sản từ trong kháng chiến chống Pháp, cùng áo tơi dép lốp với các anh Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Hoàng Trung Thông, Hữu Thung ở Rừng Thông Văn nghệ liên khu Bốn và thành kính xin hứa với anh Tô với Đảng lãnh đạo báo Văn nghệ sẽ xin rút kinh nghiệm một cách nghiêm khắc…

Rồi với giọng đầy cảm xúc, ông lại quay về chi tiết, Linh nghiệm định nói cái gì, anh Quang định nói cái gì? Đây là truyện ngắn không phải hay, tính văn học non yếu, không có chút tính văn học nào. Giọng văn không ra cổ không ra kim, thời gian không xác định. Nó chỉ biểu hiện tư tưởng hoài nghi, không tin vào đường lối cách mạng của Đảng, gây niềm hoài nghi cho độc giả. Các nước người ta có thể công kích cả tổng thống nhưng nước ta thì khác. Ngòi bút hư vô chủ nghĩa, reo rắc hoài nghi, gợi cho người đọc suy diễn từ tình tiết dẫn dắt đến chỗ nguy hiểm. Khi báo ra thì nó động đến tác giả, đáng lí không dùng hoặc sửa chữa đi, nói rõ như thế để anh Quang thấy sai. Anh Quang chủ đích viết gì? Anh Quang sắp có chuyến đi Nhật vơi tổng công ti VOSCO, nghe dư luận nói đưa in Linh nghiệm rồi anh đi không về. Nhưng đó chỉ là dư luận đồn đoán, tôi tin anh Quang không như vậy. Anh Quang từng là người lính, nếu thế thì anh chiến đấu bao năm vì cái gì?…

Cuộc họp kết thúc, không khí không còn nặng nề như trước, đối với mọi người. Hữu Thỉnh coi như đã được quyết định, nghĩa là còn giữ được cái ghế, nếu Hữu Thỉnh mất ghế, tôi e rằng lương tâm mình phải cắn xé dài dài…

Tôi thích nhất là ngắm những gương mặt đồng nghiệp, mà đồng nghiệp đây lại không phải bình thường, toàn những tên tuổi lừng lẫy, vào lúc này, rất đa sắc đa thanh, đa hồn đa cốt. Tôi đứng dẹp vào một góc hành lang, trên đầu tôi là tấm biển “Phó tổng biên tập Hoàng Minh Châu” như một hiện thân quyền lực chiếu xuống. Một lần tôi tình cờ nhìn lên tấm biển này, Hữu Thỉnh đi qua bảo, đừng động vào hài cốt của cách mạng. Quả là rất Hữu Thỉnh, chẳng ai nghĩ được ra một câu như thơ đầy chất sử thi như vậy, trong rất nhiều câu thơ của lão mà tôi không quên được thì câu này khác Hữu Thỉnh tí chút, là thêm tí hài hước, hài hước mà sâu sắc.

Buổi trưa Võ Văn Trực, Thạch Quỳ, Hoàng Minh Tường rủ tôi đi ăn trưa, tôi ừ đi, mà việc gì không đi chứ? Cái điều mình thích nói thì đã nói rồi, nghe thì cũng nghe hết rồi. Thủng thẳng ra quán cơm bình dân phố Nguyễn Du. Lúc sau thấy vợ chồng Bế Kiến Quốc, chị Trinh (phòng trị sự), Hữu Thỉnh cũng ra đó, họ cũng cơm bình dân, đúng là trong cơn hoạn nạn. Võ Văn Trực hỏi Thạch Quỳ, Xuân Hoài về chưa, Thạch Quỳ bảo chưa về nhưng nó sợ phức tạp. Võ Văn Trực không nói gì, lặng lẽ trầm tư như thường lệ. Võ Văn Trực cứ như khối đá, chắc chắn trầm tĩnh, không bị tác động dù bão tố, tĩnh mà động, không cao đàm khoát luận mà sâu thẳm.

Sáng hôm sau khoảng mười giờ, tôi qua tòa soạn, lên thẳng phòng Tổng biên tập gặp Hữu Thỉnh để báo cáo với anh là tôi muốn về quê một vài tháng, tôi có thể không báo cáo cũng được vì đây là thời gian tôi phải nghỉ việc. Nhìn vẻ mặt sầu não, đau khổ, lạnh lùng của người đang là quyền sinh quyền sát với mình, tôi ái ngại và cũng buồn cười. Tội nghiệp, cái chức tước làm vung vinh con người mà cũng đày đọa con người. Hữu Thỉnh rít lên, tại sao khi ở Quảng Trị tôi không chết đi cho xong. Một quả rocket, xong đời lại sướng. Tôi bảo, xét về mặt lí, bản thảo không có chữ kí của biên tập viên, không có giám định của biên tập viên, tức là tôi không đưa lên. Các anh tự lấy trong cặp của tôi đưa lên in. Anh kí duyệt đàng hoàng. Anh Nhuận lấy có hỏi tôi, nhưng nếu bây giờ tôi chối phắt đi thì sao. Còn bản thảo tôi viết năm ngoái nhưng giờ mới có máy để đánh, viết gì cũng chỉ của riêng tôi thôi, tôi chưa in, chưa công bố, nhưng các anh lấy ra in, tôi nói chuyện này ra thì sao? Nhưng tôi đã nhận sai hết, tất cả do tôi. Tôi còn nói với Quốc Minh, vợ anh mấy hôm ấy cấp cứu nằm viện nên không tỉnh táo duyệt bài.

Hữu Thỉnh nhìn tôi như không tin điều đó rồi nói rất tự tin, ông không có thông tin, ông chỉ có một mẩu thông tin thôi. Ngàn cân treo sợi tóc. Tôi mà ra đi báo Văn nghệ tan nát, sập tiệm.

Ai chả biết ngàn cân treo sợi tóc. Hữu Thỉnh khác Võ Văn Trực. Trực như hòn đá, còn Thỉnh, uốn lượn hơn. Tôi nói, anh yên tâm đi, tất cả đều do số mệnh hết. Tôi xem tử vi, bói dịch, chỉ tai tiếng thôi chứ không đáo cửa quan. Đừng nghe chúng bảo đòi treo cổ, đừng tin những cái thư đại diện hai mươi vạn cán bộ lão thành cách mạng… Cuối cùng nó từ đâu mà ra, anh biết rồi.

Tôi chợt giật mình, vội bỏ ra về, mình không nên nói nhiều, số phận mình còn treo lơ lửng, Hữu Thỉnh có thể cắt một phát đứt, mình rơi bẹp dúm. Thằng sếp nào cũng vậy, sẽ như thế này: một, tình thế bất lợi, họ diệt mình để thoát thân; hai, tình thế sáng sủa, họ sẽ đóng vai bồ tát nhân hậu. Mọi ứng xử của Hữu Thỉnh và cả của Ban Chấp hành, giờ đều phụ thuộc vào thời cuộc, mà thời cuộc lại phụ thuộc vào sự cân bằng ở đâu đó rất xa. Mọi sự nghiêm chỉnh hay to lớn đến đâu, kết thúc bao giờ cũng có nhiều yếu tố hài.

Ngẫm lại tôi càng xót xa với Hữu Thỉnh, quan lộ là sinh mệnh, mất chức ngang mất mạng.

Trần Thị Thắng chờ mình xuống, đưa cho mình cái phong bì to. Cô này như tình báo, gián điệp nhỉ, ai vào ra làm gì gặp ai, biết hết. Đại sứ quán Pháp lại gửi cho cái phong bì nữa. Ba mươi tấm ảnh to, một bản tiếng pháp 30 trang, một tấm carte de visite. Tôi bảo Thắng như lần trước, cứ đưa cho Ban biên tập rồi đưa cho tôi sau cũng được hoặc không đưa cũng được.

Cứ thế đi cho nó lành, lỡ hôm sau có khám xét gì lại bảo có yếu tố nước ngoài. Hôm nọ gặp Nguyễn Hồi Thủ ở phòng khách, cũng đã đọc Nguyễn Hồi Thủ một ít. Không phải Thủ muốn gặp tôi mà đi qua Duật gọi vào không biết có ý gì không, giới thiệu tôi với Thủ, đưa đẩy hỏi chuyện văn chương Việt ở Pháp. Thủ liệt kê một loạt tác giả, những tác phẩm người Việt được giải, vân vân… Tôi bảo những tác giả và tác phẩm của các anh bọn tôi ít được đọc lắm, mặc dù thực sự là bây giờ trong nước rất chào đón, tôi cũng đã đọc được ít tác phẩm của anh khi anh viết về những chuyến hồi hương. Các anh bây giờ Đảng, nhà nước Việt Nam đánh giá là yêu nước hơn cả bọn tôi. Bọn tôi bây giờ có gì sai sót lỡ làng là họ diệt, còn các anh là Việt kiều yêu nước, được đón rước trọng vọng…

Nguyễn Hồi Thủ nghe thế lấy cớ bận, bỏ chạy.

Một hôm Hòa Vang lò dò sang nhà, cũng có phần e sợ bị theo dõi, áo dệt kim đỏ, mặt đỏ, môi đỏ, cười khì khì, tay cầm bình rượu gốm cũng màu đỏ, tròn như quả cam. Tôi đọc thấy ba chứ “Hoàng Hoa tửu” liền bảo, uống Hoàng Hoa tửu cả năm chứ đâu phải hôm nay. Nhưng uống mùa này mới ngon, ông ạ, như văn chương, trái mùa không những không ngon mà còn nguy hiểm. Rồi hắn ngâm nga, “Thu ẩm Hoàng Hoa tửu”, “Hạ ngâm bạch tuyết thi” cho nó mát.

Đầu tháng 8 năm 1992 tôi nhận được Quyết định của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam.

Hội Nhà văn Việt Nam Cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Số 04/ HNV-TCCB Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 1992

BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Căn cứ vào nghị định số 325/nv ngày 23/4/1957 của Bộ Nội vụ cho phép Hội Nhà văn thành lập và hoạt động

Căn cứ vào Nghị quyết cuộc họp của Ban chấp hành ngày 23/7/1992 về việc tuần báo Văn nghệ số 27 ra ngày 4/7/1992 đã đăng bài trái với tôn chỉ mục đích của báo, tôn chỉ mục đích của Hội và điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam

Căn cứ vào biên bản báo cáo quá trình kiểm điểm của tuần báo Văn nghệ ngày 24/7/1992

Căn cứ vào bản kiểm điểm lần thứ ba của anh Trần Huy Quang

Căn cứ vào quyết định của Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ số 54/BVN-KL ngày 22/7/1992

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Chuẩn y quyết định của Tổng biên tập báo Văn nghệ số 54 ngày 22/7/1992 về anh Trần Huy Quang,

1. Đình chỉ công tác

2. Không xuất hiện trên báo Văn nghệ, tạp chí và các ấn phẩm của Hội Nhà văn trong thời gian 2 năm. Sau đó sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể để xem xét.

Diều 2: Xóa tên nhà văn Trần Huy Quang khỏi danh sách Ủy viên Hội đồng văn học về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, đồng thời xóa bỏ chức thư kí Hội đồng văn xuôi của Hội.

Điều 3: Kỉ luật này được thông báo đến tất cả cán bộ, công nhân viên cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam.

Điều 4: Tổng biên tập báo Văn nghệ, phòng Tổ chức cán bộ Hội Nhà văn và anh Trần Huy Quang chiếu quyết định thi hành.

TM/ BAN CHẤP HÀNH

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Tổng thư kí

Vũ Tú Nam (kí và đóng dấu)

imageimage

 

Như vậy, trong này có mấy vấn đề để mở: Một, không được xuất hiện trên các ấn phẩm của Hội trong thời gian 2 năm, sau đó tùy tình hình sẽ xem xét… Hai, đình chỉ công tác, không nói thời hạn bao lâu, có thể vô thời hạn. Ba, quyết định này chỉ được thông báo trong nội bộ cơ quan Hội Nhà văn, không thông báo lên báo chí có thể làm cho dư luận hiểu lầm là Hội Nhà văn bao che…

Nghĩ lại tôi thấy số phận mình cũng hài hước, cách đây ba năm tôi nhận được hai giấy mời của Ban Chấp hành mời tham gia vào các Hội đồng văn xuôi và Hội đồng văn học chiến tranh như trong Quyết định nói, do Tổng thư kí Vũ Tú Nam kí. Và bây giờ, ba năm sau, xóa tên ủy viên hai Hội đồng trên cũng Tổng thư kí Vũ Tú Nam kí. Không trớ trêu thì đâu còn cuộc đời.

Nghĩa là số phận tôi còn được treo lơ lửng đâu đó, còn được “cuốn theo chiều gió” và bay theo cảm hứng của những người đọc văn như đọc báo.

Cũng thời gian này, hình như cho dứt điểm, dồn dập dến những điều không thể cưỡng được, cả hai phía.

Việc đầu tiên.

Nhà thơ Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, đến gặp bảo, Quang nên xin rút khỏi Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội đi. Bọn mình thấy không thể trao được. Tôi bảo, tùy anh thôi, tôi không rút vì đây là giai đoạn 1986 – 1990. Nhưng thấy như thế không được, tôi lại nói lại với anh Phương, nói đùa tí thế thôi, không rút thì các anh cũng không trao.

Giải thưởng năm năm của Hội Văn nghệ hà Nội đã được công bố năm 1991 trên báo Hà Nội mới, báo Văn nghệ, nhưng nghe nói chưa có tiền để trao giải. Danh sách tác giả được giải công bố lúc đó như sau:

Thông báo của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội trao giải thưởng văn học Hà Nội 1986-1990.

VĂN: Gỉai A: Con bụi, tiểu thuyết Trần Chiến

Giải B; - Thời gian không đợi, tiểu thuyết Vũ Bão

-Mối tình hoang dã, tiểu thuyết của Trần Huy Quang

THƠ. Giải A: Vào thu, tập thơ Vân Long

Giải B: – Em ra đi, tập thơ Nguyễn Thị Hồng

-Cơn dông Hồ Gươm, tập thơ Vũ Xuân Hoát

(Đây là ghi về phần văn học. Hình như sau công bố lại, gọi là công bố năm 1992, tôi không còn để ý nữa)

Việc thứ hai, Công ti Vận tải đường biển Hải Phòng trả lại hồ sơ mà họ đã chuẩn bị cho tôi đi theo tàu viễn dương của họ một chuyến. Việc này do quen biết, công ti Vận tải cho tôi đi theo tàu như một thủy thủ sang Nhật Bản có thể viết một cái gì đó, cũng đã nghĩ đến một feuilleton dăm kì toàn chuyện lạ cho báo và chủ yếu để cải thiện kinh tế, kiếm cái xe máy cũ, hoặc tivi cũ, quạt cũ, tủ lạnh cũ gì đó và cũng được đi chơi nước ngoài một chuyến không mất tiền. Chuyện thế mà sau này cũng có lời đồn phao lên là tôi sau khi in Linh nghiệm xong thì đi theo tàu viễn dương tị nạn ở Nhật luôn.

Nhận được thư của Nguyễn Quang Lập, ngày Lập đang làm tạp chí Cửa Việt ở Quảng Trị, thư Trần Hoài Dương ở Sài Gòn, chia sẻ, đồng cảm. Thật là những bữa cơm “Phiếu Mẫu”. Nhưng sau này khi Lập bị bắt, bị tù, tôi cũng chưa có lấy một lời thăm hỏi, vì nghĩ Nguyễn Quang Lập là nhà văn lớn, tài năng thực sự, quảng giao, bao nhiêu người yêu quí, không phải lo gì cho Lập. Quả là thế nhưng với riêng tôi thấy mình không được. Nguyễn Duy ra tòa soạn, gặp cười chào rất to “Chào sứ giả của thần linh”.

Tình cờ gặp nhà văn Xuân Cang, trưởng ban Kiểm tra của hội, anh bảo Dương Thu Hương chính thức li khai Hội, đang gây ầm ỹ dư luận, Hội đã xóa tên. Tôi hỏi, thế em có bị xóa tên không? Cậu chỉ mới bị xóa tư cách ủy viên trong hai hội đồng thôi. Chưa có ý kiến nào đòi khai trừ Trần Huy Quang cả. Ra vào Hội là chuyện bình thường, em nghĩ chẳng có gì phải ầm ỹ, tôi nói. Hình như Xuân Cang không thích kiểu nói chuyện của tôi liền hỏi sang chuyện khác. Cái giải thưởng của Hội Văn nghệ Hà Nội có bị cắt không? Em xin rút rồi, ai người ta trao mà không xin rút hả anh.

Tôi với nhà văn Xuân Cang cũng thân thiết, và thường cùng với anh Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiến Giang dự những tiệc rượu nho nhỏ do bác Hứa Như Ý, chuyên viên Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, người nhiệt huyết với công cuộc Đổi mới Đất nước, tổ chức tại nhà riêng của bác.

(Trích trong NỖI NHỚ XA XĂM chưa xuất bản)

Ghi chú của Văn Việt

Nhiều bạn đọc trẻ chưa hề nghe đến truyện Linh nghiệm của nhà văn Trần Huy Quang đăng trên Văn nghệ đúng 30 năm trước hoặc có nghe nói nhưng chưa được đọc. Văn Việt xin mời các bạn ấy đọc toàn văn Linh nghiệm ở đây với lời dẫn của của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân: https://vanviet.info/tu-lieu/cc-tai-nan-van-chuong-duong-dai-4-truyen-ngan-linh-nghiem-cua-tran-huy-quang-v-mot-vu-n-van-nghe-ngay-sau-cao-tro-doi-moi/

Comments are closed.